97
SỰ TÍCH QUẢ DƯA HẤU
Ngày xửa ngày xưa đời thứ 18 Hạ Hùng Vương, cũng là đời cuối cùng của niên đại Hùng Vương. Niên Đại Hùng Vương kéo dài 2701 năm, kết thúc Niên Đại Hùng Vương 258 trước công nguyên.
Ở vào thời Hùng Duệ Vương đời cuối của Niên Đại Hùng Vương, là thời kỳ loạn lạc, Bắc Văn Lang, Trung Văn Lang đã mất. Trung Văn Lang thời bị dòng họ Triệu chiếm giữ, còn Bắc Văn Lang thành bãi chiến trường của nhiều nước phương Bắc tranh giành với nhau. Chỉ còn lại Nam Văn Lang.
Khi ấy ở phía Nam Văn Lang. Dân Tộc Chăm có vị tướng tên là Mai Yển thống lãnh ba quân tướng sĩ cánh Nam. Quân Hồ Nam nổi dậy giết chết Mai Yển tổng binh tướng quân con của Mai Yển là Mai An Tiêm trốn thoát. Hùng Duệ Vương đem quân dẹp loạn sau khi dẹp xong quân nội loạn Hồ Chăm. Vua Hùng liền nghĩ đến công lao của Mai Yển Tướng Quân. Bằng kêu Mai An Tiêm đến hỏi, Vua Hùng hỏi tới đâu Mai An Tiêm đáp trôi chảy đến đó, nói tiếng Việt Kinh rất thông thạo, học cao hiểu rộng, lắm tài nghệ. Vua Hùng cảm mến bằng nhận Mai An Tiêm làm con nuôi. Trước là đền ơn đáp nghĩa công lao trấn giữ cánh Nam. Hết lòng vì dân vì nước cống hiến đời mình cho triều đình. Hai là thấy Mai An Tiêm thông minh hơn người. Ba là Vua Hùng không còn con trai vừa mới mất.
– Mai An Tiêm tướng người khôi ngô tuấn tú lại chịu khó không việc gì không làm. Vua Hùng thường để bên mình làm hầu cận, và tin dùng những việc trọng đại.
– Khi ấy ở triều đình có vị quan Bộ Thư, sinh được một tiểu thư Nàng Ba xinh đẹp nổi tiếng nết na. Hùng Duệ Vương bằng cưới cho Mai An Tiêm. Vua cho xây một ngôi nhà riêng ở gần cung vua. Hai vợ chồng Mai An Tiêm sống vô cùng hạnh phúc sinh được người con trai lên năm tuổi. Điều nầy làm cho Mai An Tiêm phấn khởi dốc tâm hết lòng vì triều đình.
Mai An Tiêm được Vua Hùng yêu mến, năm ba mươi tuổi Vua Hùng sắc phong cho cấp quan Lạc Hầu, các quan trong triều ai nấy cũng phải kiên sợ. Món ngon vật lạ không thiếu thứ gì, ở những người may mắn hơn mình thường sanh đố kỵ, ganh ghét. Các quan trong triều phần lớn không ưa Mai An Tiêm. Chờ cơ hội là ám hại Mai An Tiêm, Mai An Tiêm tánh tình ngay thẳng nên không để ý đến xung quanh, không quan tâm đến những kẻ có ý hại mình.
Mấy lần Nhạc Phụ cha vợ nói với Mai An Tiêm, con hãy dè chừng cẩn thận lời ăn tiếng nói, không khéo mang họa vào thân, vì có nhiều người ganh ghét với con. Có cơ hội là chúng hãm hại. Nàng Ba cũng khuyên chồng đề phòng cẩn thận. Mai An Tiêm không nghe vì ỷ lại cho mình có công, hơn nữa Vua Hùng rất yêu mến chẳng có chuyện gì xảy ra đâu mà lo.
– Một hôm trong một bữa tiệc Mai An Tiêm đãi các quan khách, các quan tâng bốc không ngớt lời ca ngợi Mai An Tiêm. Mai An Tiêm nhúng nhường nói.
– Mọi Vật trên đời đều do Trời định đoạt, nghe đâu Quốc Tổ đã từng truyền dạy như vậy. Mọi thứ tôi có đều do số phận Trời ban cho. Cha Tôi làm tướng quân hết lòng vì nước, nên để lại Phước Đức cho tôi. Nên ngày nay Tôi mới được như vậy.
– Trong số người đến dự tiệc, đâu phải ai cũng tốt, vốn ghét Mai An Tiêm từ lâu. Chấp lấy câu nói cho là Mai An Tiêm ngạo mạn không coi Hùng Duệ Vương ra gì. Bằng vội vàng kéo nhau về cung tâu lên cho Vua biết, thêm mắm thêm muối, nâng quan điểm, chuyện ít làm ra cho lớn, đưa cái tội khi quân lên cao.
Hùng Duệ Vương nghe các quan nịnh thần tâu như thế vô cùng tức giận quát ầm lên. Chà cái thằng bố láo, nó không biết ơn Ta, mà lại cho mình tài giỏi làm nên tất cả, uổng công Trẫm thương yêu đùm bọc, trả ơn cho Trẫm bằng sự phản bội coi Trẫm chẳng ra gì, đúng là đồ Bất Nhân, Bất Nghĩa, ăn cháo đá bát, tội nầy không thể tha. Lũ quan nịnh thần vốn là loài Rắn độc đầu thai. Đã từng bị loài Đại Bàng xơi nuốt. Chơn Linh Mai An Tiêm chính là Chơn Linh Đại Bàng. Các quan nịnh thần chính là Chơn Linh Loài Rắn Độc đầu thai. Thấy Vua Hùng nổi giận bằng châm lửa thêm, với chức quan chưa lớn, Mai An Tiêm muốn làm phản, tuôn ra những lời vô ơn bạc nghĩa. Vua Hùng bị các quan nịnh thần đổ dầu vào lửa thét lớn, giam cổ nó lại cho Ta.
– Thế là buổi chiều hôm ấy Mai An Tiêm bị bắt tống giam vào ngục chờ ngày hành xử.
– Đến lúc nầy Mai An Tiêm mới biết chốn quan trường không như mình nghĩ, chỉ cần sơ sót là toi mạng. Những lời trung trực thường bị hiểu lầm trung ngôn nghịch nhĩ, lời nói ngay thẳng không đúng chỗ gây ra hậu quả nghiêm trọng. Nhất là những nịnh thần có cơ hội là chúng chẳng tha. Bịa chuyện thêu dệt, đâm thọc không nói lên sự thật, mà lái theo chiều hướng khác, hầu nhổ cái gai trong mắt của họ. Khi biết ra thời đã muộn.
Mai An Tiêm nghĩ, nếu Ta sớm nghe lời Nhạc Phụ, cùng Nàng Ba vợ của Ta thời đâu ra nông nổi nầy. Hồng Phúc đến mà không lo che giấu, phơi bày khoe khoang thời họa ập tới thình lình. Ôi cũng là số kiếp cho cái ngu của Ta.
– Mấy ngày hôm sau trong buổi chầu các quan hợp bàn để xử án Mai An Tiêm. Bên nịnh thần đề nghị xử tử làm gương cho kẻ khác. Bên Trung Thần nói, Mai An Tiêm là con của đại tướng quân Mai Yển có công lớn trấn giữ phương nam hết lòng phò vua giúp nước, chết trong Trung Nghĩa ít ai được như vậy, hãy tha tội chết đày làm thường dân mà thôi.
– Khi ấy có một vị quan già đến trước bệ rồng quỳ xuống tâu rằng. Nếu đúng như lời Mai An Tiêm nói tất cả sự may mắn của Mai An Tiêm là do Ý Trời, những gì Mai An Tiêm có là do Hồng Phúc phước đức của Cha Mẹ. Để chứng minh lời nói ấy là sự thật, thời Mai An Tiêm sẽ thoát kiếp nạn. Bằng như Mai An Tiêm ngạo mạn xem thường Bệ Hạ, thời Mai An Tiêm sẽ chết vì cái tội Bất Trung, Bất Nhân, Bất Nghĩa.
– Thần nghe nói ngoài cửa Nga Sơn có một hòn đảo nhỏ không ai có thể sống trên đó được, cho Mai An Tiêm ra đấy ở với ba tháng ăn, để Mai An Tiêm tạm sống trong ba tháng. Nếu trời không giúp, cũng như hồng phúc Cha Mẹ không có thời nhất định Mai An Tiêm sẽ chết tại nơi đây.
– Vua Hùng nghe xong gật đầu chấp thuận, cứ theo kế sách đó mà làm. Bằng giao Mai An Tiêm cho vị quan già thi hành đày Mai An Tiêm ra hòn đảo Nga Sơn.
– Hôm Mai An Tiêm bị quan binh đưa đi đày, vợ Mai An Tiêm là Nàng Ba đòi đi theo chồng, không biết bao người khuyên can, hãy ở lại nuôi con không nên đi theo Mai An Tiêm sau có người hương khói thờ phụng. Nàng Ba nhất quyết không ở lại chết sống cũng theo chồng bằng bế đứa con trai năm tuổi theo Mai An Tiêm. Nhiều người cho Nàng Ba thiếu suy nghĩ làm việc dại dột. Trong khi đó có một người thở dài khen, đúng là tiết nghĩa đầy mình thủy chung hiếm có dễ gì tìm đâu ra một người như thế.
– Có người hỏi Nàng Ba, không sợ chết đói sao? Nàng Ba trả lời (Trời sanh voi thời Trời sanh cỏ lo gì) Trời ở trên đầu chúng Ta nào ở đâu xa.
– Khi đến hoang đảo bước chân lên bãi hoang vu mịt mù, không một bóng người, sóng vỗ đì đùng xa xa nghe tiếng chim kêu vượn hú. Nàng Ba không ngăn nổi giọt lệ cảm giác tủi thân nức nở khóc gục vào vai chồng, mồ chôn của vợ chồng Ta chính là nơi đây.
Sau có thơ rằng:
Một mình sống chốn hoang vu
Chỉ nghe sóng vỗ cát bay rì rào
Nơi đây không có bóng người
Rừng cây vách lá lấy gì để ăn
Chết là cái chắc khó khăn
Chỉ mong phép lạ bằng không lìa đời
Mai An Tiêm ôm vợ an ủi rằng, nếu Trời không linh Quốc Tổ thờ mà chi. Trời luôn có mắt khắp nơi, cứ phấn chấn lên đừng lo.
– Hơn một tháng đầu đời sống Mai An Tiêm tạm ổn. Nhà ở thời chui trong hốc đá, đã được đan phên che gió che sương, nước uống thời đã có suối, đói thời hái lượm trái cây, ăn nấm, ăn rau cỏ, cộng với lương thực trong ba tháng tạm sống qua ngày.
– Mai An Tiêm lấy nước biển đổ vào cát trủng đá phơi nắng lấy muối để ăn, bắt cá trên suối, hái rong gành đá trên biển nấu ăn kéo dài sự sống, gần sáu tháng trôi qua tuy đầy khó khăn nhưng vẫn sống. An Tiêm nói với vợ, nếu chúng ta tìm ra hạt giống ngô, khoai thời không lo ngại gì nữa, nhưng đằng nầy anh chưa tìm ra được hạt giống. Ngày mai anh sẽ đi tìm khắp hoang đảo mong có giống khoai củ nào đem về nhân giống trồng nhiều ra, nuôi sống gia đình Ta.
Sau có thơ rằng:
Trí thông minh, dù ở đâu cũng tìm ra sự sống
Chịu gian nan, dù sỏi đá cũng thành cơm
Vài hạt giống cũng làm nên nghiệp lớn
Biển cho Ta nào muối, nào cá tôm
Trời sanh voi, thời Trời cũng sanh ra cỏ
Chỉ sợ rằng, không có đủ trí khôn
Hãy vững tin, một ngày mai tươi sáng
Đêm tan dần, thời lộ ánh bình minh
Mai An Tiêm tìm kiếm khắp trên đảo đào lấy những giống khoai giống củ, những loại cây ăn được đem về trồng.
Vợ chồng Mai An Tiêm tuy sống hiu quạnh trên hoang đảo đời sống tuy khó khăn, nhưng không còn lo sợ chết đói. Họ ra sức khai khẩn trồng trọt để kiếm sống, trải qua hơn một năm tình chồng nghĩa vợ càng thêm đậm đà.
Sau có thơ rằng:
Đôi Ta chung sức chung lòng
Vượt qua gian khổ sống còn bên nhau
Màn trời chiếu đất có sao
Ngôi nhà hốc đá cũng xinh cũng lành
Trên đầu Ta đội Ông Trời
Dưới chân Mẹ Đất nuôi thời chúng Ta
Một năm cũng đã trôi qua
Thế mà vẫn sống chung nhau gánh gồng
Bàn tay trồng trọt gieo mầm
Giờ đây cuộc sống giảm lần nỗi lo
Cho đến một hôm có đàn chim lạ không biết từ đâu bay đến đậu đen ngòm cả một bãi cát. Đang là mùa hạ chúng bay đến trước mặt vợ chồng Mai An Tiêm kêu váng cả lên, rồi thả xuống năm sáu hạt.
Ít lâu sau từ những hạt ấy mọc ra một loại dây, bò lan nhanh chóng xanh um kỳ lạ. Dây bò đến đâu ra nụ hoa đến đó, nụ quả lạ kỳ. Vợ Chồng Mai An Tiêm xem không chán mắt, nụ quả nào quả nấy lớn nhanh như thổi da xanh mượt quả to bằng đầu người đã được hơn tháng.
– Mai An Tiêm trẩy một quả bổ ra thấy ruột đỏ, hạt đen nhánh, vợ chồng con cái đều nếm thử thấy mùi vị thơm thanh ngọt dịu, cả nhà reo lên, Trời nuôi sống chúng ta rồi. Mai An Tiêm nói, giống dây nầy Ta chưa từng thấy bao giờ Ta không trồng tự nhiên chim đem đến, không phải là Trời Cao. Đất Rộng nuôi chúng Ta đó sao.
– Từ hôm ấy vợ chồng ra sức lấy hạt gieo trồng ra thật nhiều, màu xanh phủ khắp, quả to lớn lúc nhúc như heo con nằm chen theo lá khắp cả đám.
– Cũng trong thời điểm ấy có một chiếc tàu bị bão trôi dạt vào cù lao, thấy trên bãi cát một màu xanh rộng lớn lại có nhiều quả lạ chưa nhìn thấy bao giờ, mọi người liền lên bãi cát. Vợ chồng Mai An Tiêm ra chào đón, hái vài quả cho những người mới đến ăn thử, ai nấy cũng thấy ngon, vài người Bắc Văn Lang khen là “Hẩu”, cũng từ đây trở thành quả dưa Hấu.
– An Tiêm là người thành thạo nhiều nghề, giúp họ sửa buồm lái để trở về đất liền. Mai An Tiêm còn đưa biếu một số dưa Hấu vài chục quả. Để họ đem về đất liền quảng cáo cho nhiều người, nhắn rằng, ai muốn mua dưa Hấu thời chở gạo, gà, heo, đem ra đổi. Không bao lâu chỉ cách đó mấy ngày, con thuyền thứ nhất đã đến cù lao đảo cắm neo ở đó. Họ chở đến nào là gạo, nào là cá, nào là gà, nào là heo, có cả nước mắm, thế là hai bên giao dịch buôn bán trao đổi tính giá trị cả hai bên đi vào thỏa thuận mua bán.
Vợ Chồng Mai An Tiêm, nhận gạo, gà, heo, cá, mắm, còn họ thời khuân vác dưa đưa xuống thuyền.
– Chỉ qua một lần trao đổi buôn bán vợ chồng Mai An Tiêm đã đổi đời không còn ăn rau, củ, quả để sống, bữa ăn cơm trắng cá tươi, hơi cơm bốc lên nghi ngút. Nàng Ba ôm lấy con vui mừng sung sướng, Trời nuôi chúng Ta thật rồi.
– Cũng từ đây vợ chồng Mai An Tiêm làm chuồng trại ra sức chăn nuôi, gà, heo, cũng như ra sức trồng thật nhiều dưa, màu xanh tăm tắp thuyền buôn ra vào hòn đảo, thuyền chài lần lượt chở gạo, áo, quần, gà, lợn, dao, búa, cuốc, cào, có cả thứ giống khác như bí, bầu, để đổi lấy dưa.
Vợ chồng Mai An Tiêm giàu nhanh như thổi, người ta tranh nhau ra đảo mua dưa, tiếng tăm Mai An Tiêm vang dội trên đất liền, giống dưa Mai An Tiêm đã lan tràn khắp nơi, người ta tôn Mai An Tiêm là Bố Cái Dưa Tây.
Tiếng tăm Mai An Tiêm lừng lẫy bay đến tai Hùng Duệ Vương. Hùng Duệ Vương liền cho người thân tín bí mật ra Cù Lao Nga Sơn, xem thật hư như thế nào.
– Sứ thần bí mật đến hoang đảo thấy Mai An Tiêm đã trở thành ông chủ, không bao lâu nữa Mai An Tiêm trở nên giàu có lớn. Sứ thần trở về đất liền kể lại cho Vua Hùng Vương nghe.
– Muôn tâu Quốc Vương Bệ Hạ, đúng như lời đồn Mai An Tiêm đã đổi đời, nhờ Trời che chở và giúp đỡ, Mai An Tiêm không những không chết, mà trở nên giàu có nhờ giống dưa Hấu. Giống dưa Hấu là do đàn chim đem đến cho vợ chồng Mai An Tiêm. Vua Hùng nghe xong, Mai An Tiêm đã nói đúng, mưu sự do người tạo, thành sự do Trời Ban, biết bao kẻ đầy mưu mô nhưng nào có thành, là vì Trời không ban cho vậy.
Từ đó Vua Hùng luôn suy nghĩ nhận thức lời dạy Ông Cha, nhất là lời dạy Quốc Tổ. Mưu sự do người thành sự do Thiên. Cũng như mình đây muốn có con trai để nối dõi nhưng không bao giờ được, tất cả là do Trời. Hùng Duệ Vương không còn giận Mai An Tiêm nữa. Mà giận lũ nịnh thần luôn làm hại người trung lương.
Hùng Duệ Vương càng suy nghĩ thấy lời nói Mai An Tiêm càng có lý con người gặp được bao điều may mắn không phải tự nhiên mà có, cũng chẳng phải tài ba gì, mà là nhờ Hồng Phúc Ông Bà Cha Mẹ, cũng như Phước Lộc Trời ban, nên mới được như vậy.
– Vào một buổi chầu triều, Vua Hùng quở, các khanh có tài nói phét, nhất là quan Viên Hầu, cũng vì sự dốt nát làm đâu hỏng đó, để cho thợ dựng hư hỏng một tòa nhà. Vua buột miệng than thở.
– Phải chi có Mai An Tiêm thời đâu đến nỗi như ngày hôm nay. Vị Quan Viên Hầu tái mặt vì đã hại Mai An Tiêm, Thấy Vua nhắc mãi đến Mai An Tiêm, vị quan già khi xưa tâu rằng. Lời nói Mai An Tiêm đã linh ứng, Trời đã giúp Mai An Tiêm thoát nạn, mà còn trở nên giàu dân chúng ngợi ca gọi Mai An Tiêm là Bố Cái Dưa Tây.
– Nếu Quốc Vương còn nghĩ đến Mai An Tiêm sao không cho người ra đảo đón rước vợ chồng Mai An Tiêm về cung.
– Một hôm có người thương buôn ở Châu Ái mang đến cho Vua Hùng một thuyền dưa Hấu nói. Đây là lễ vật của Ông Bà Mai dâng lên Bệ Hạ. Ông Bà Mai bây giờ đã giàu, có cả ruộng lúa, có đến mười người hầu, và rất nhiều gà, bò, heo, dê. Vua Hùng nhận dưa rồi phân phát ra cho các quan. Bữa thiết triều các quan đều nói, dưa rất ngon.
Vua Hùng nói, Mai An Tiêm là bậc kỳ tài, giàu nghị lực, mới vượt qua nổi sóng gió đến nơi an toàn.
Bằng sai Cha vợ Mai An Tiêm cùng các quan ra đảo đón vợ chồng Mai An Tiêm về cung phục hồi chức cũ, cấp phát cho nhiều vàng, bạc, châu báu.
– Những người ở lại hoang đảo, là những người ăn kẻ ở tiếp tục công việc của hai vợ chồng Mai An Tiêm. Họ thành lập làng Mai An, ở ngôi nhà cũ hai vợ chồng Mai An Tiêm, họ lập đền thờ, thờ hai vợ chồng Mai An Tiêm. Ông Bà Tổ dưa Hấu, dưa Tây, nơi đảo cù lao Nga Sơn, sau trở thành Châu An Tiêm.
* * *
Long Hoa Lược Truyện, Văn Hóa Cội Nguồn
Câu Chuyện Sự Tích Quả Dưa Hấu đến đây là hết.
--------------------------------------------------



