LỚP HỌC VĂN HÓA CỘI NGUỒN
KHÓA 04 - TUẦN 1
----------O----------
● MẬT TẠNG, HIẾN TẠNG, THIÊN TẠNG, PHÁP TẠNG (ĐẠO TẠNG)
● TẬP SỰ VÀ HIỂU CƠ BẢN VỀ SƠ THIỀN
Thời gian: 02/04/2022 (GMT+7)
Giảng trực tuyến trên nền tảng ZOOM APP
Chủ giảng: Thầy Nhân Thập Đại Cư sĩ,
Giáo sư Tiến sĩ Cao Đức Toàn
-------------O-------------
II. SƠ LƯỢC NỘI DUNG BUỔI HỌC NGÀY 26/03/2022
1. MUỐN LÀM CHỦ GIÁC TÁNH ĐÀ LA NI
3. NĂM PHÁP THÂN CỦA TỔ TIÊN, CHA TRỜI, LINH GIÁC VŨ TRỤ
e. Pháp Tạng (Đạo Tạng) vũ trụ là gì?
4. TẬP SỰ VÀ HIỂU CƠ BẢN VỀ SƠ THIỀN TRONG VĂN HOÁ CỘI NGUỒN
ĂN - UỐNG BỔ SUNG TINH - KHÍ - THẦN
5. NHỮNG LƯU Ý TRONG THIỀN, ĐỊNH
6. TRẢ LỜI CÂU HỎI CỦA HỌC VIÊN
Hỏi: Nhờ Thầy giải thích giúp em hiểu tác dụng, cơ chế hoạt động của các luân xa trên cơ thể.
Hỏi: Làm thế nào để hiểu rõ Linh Giác Thần Thông ạ?
Hỏi: Người tu thiền cần làm gì trước và sau khi ngồi thiền để đạt được hiệu quả tốt?
Hỏi: Tại sao sau một thời gian ngồi thiền mình thường hay bị nóng tính?
Hỏi: Nhờ Thầy giảng thêm về ăn chay, ăn mặn ạ
Mến chào hết tất cả các Quý Anh Chị Cô Chú Bác, yêu quý Văn Hóa Cội Nguồn. Hôm nay là ngày thứ 7, Thầy lại tiếp tục trên con đường chia sẻ kinh nghiệm Thầy đã tích lũy về Văn Hóa Cội Nguồn và đã chứng minh Văn Hóa Cội Nguồn trong suốt thời gian ba mươi mấy năm.
Văn Hóa Cội Nguồn là một sự quý giá vô cùng đối với đời sống con người, xã hội, quê hương đất nước cho nên Thầy đem hết tất cả những kiến thức ấy chia sẻ lại cho tất cả các Quý Anh Chị Cô Chú Bác tự trang bị cho mình kiến thức khoa học đời sống và khoa học tâm linh, để các vị có thể chọn ra những tinh hoa làm Pháp Độ cho riêng mình. Học xong lớp Văn Hoá Cội Nguồn, dù cho các vị ở trong tôn giáo nào, các vị cũng có thể nhận ra được tinh hoa của nó, lấy cái tinh hoa đó làm hành trang cho riêng mình. Vì lớp học của Thầy là chia sẻ về khoa học đời sống và khoa học tâm linh, cho nên các quý vị có thể yên tâm, chúng ta không đi vào mê tín hay dị đoan, nghĩa là những gì Thầy nói ra điều dựa trên nền tảng khoa học biện chứng một cách rõ ràng , không phải là một sự mơ hồ.
II. SƠ LƯỢC NỘI DUNG BUỔI HỌC NGÀY 26/03/2022
Thầy sẽ đi tiếp bài giảng tuần trước ngày 26/03/2022. Các quý vị đã học qua: Thế nào là làm chủ một giác tánh đà la ni. Một giác tánh đà la ni rất quan trọng, nó là một vị Phật, nó là một vị Thánh, nó là một vị Tiên, nó là một vị Thần, nó là một vị Chúa. Trong con người chúng ta có đủ 8 muôn 4 ngàn giác tánh đà la ni. Khi mang xác thân con người, nhờ có 8 muôn 4 ngàn giác tánh đà la ni này, nên nó ứng hiện, tương thông giữa thân xác tiểu thiên vũ trụ và tâm linh con người với nhau. Vì vậy con người mới có thể tu thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa trở về Bản Thể Linh Giác Cội Nguồn, trở về với Cha Trời, Tổ Tiên. Nếu không, không bao giờ tu trở về Cội Nguồn được. Vì nếu mang xác thân của thần thú, các vị chỉ có thể sử dụng pháp thuật thần thông để biến hóa thành người, chứ không có đủ 8 muôn 4 ngàn giác tánh tương thông giữa cái cốt thân thần thú và linh hồn của nó. Cho nên khi chúng ta được mang thân xác con người, đó là một sự quý giá vô cùng. Chúng ta phải biết giữ gìn, duy trì và bảo vệ nó, để nhờ nó mà ta tu hành tiến hoá trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa được. Nhờ nó mà chúng ta mới có thể khai ngộ được 8 muôn 4 ngàn giác tánh đà la ni của mình và làm chủ 8 muôn 4 ngàn giác tánh đà la ni đó.
1. MUỐN LÀM CHỦ GIÁC TÁNH ĐÀ LA NI
Buổi học trước chúng ta đã hiểu thế nào là giác tánh đà la ni. Vậy muốn làm chủ giác tánh đà la ni thì chúng ta phải hiểu các bước của nó. Đó là:
● Hiểu giác tánh
● Định hoặc trụ trong giác tánh
● Hành theo giác tánh
● Hành cho đến khi nào thuần thục giác tánh thì chúng ta mới có thể làm chủ giác tánh đó. Làm chủ giác tánh gọi là Sở Vương (Tâm Sở Vương).
● Để giác tánh gọi là Sở Vương dần dần trở nên tự nhiên, như không tánh tự nhiên. Lâu dần hội nhập Tâm Vương. Tâm Vương là tâm tự nhiên (tâm không của tự nhiên).

H1: Sơ đồ làm chủ một Giác tánh Đà la ni.
H2: Sơ đồ Tổng Đà La Ni
Từ giác tánh của Tâm Sở Vương trở nên tự nhiên tánh của nó là tánh tự nhiên là tánh KHÔNG. Tánh KHÔNG là Tâm Vương. Tập hợp 8 muôn 4 ngàn giác tánh Đà la ni về Tâm Vương gọi là Tổng Đà la ni.
Những người tu thiền định là nằm trong hiểu giác tánh và định trong giác tánh chứ chưa hành theo giác tánh, chưa hành thuần thục giác tánh đó, họ chưa làm chủ giác tánh của nó, nên các pháp danh của họ đều nằm ở giác tánh của hiểu giác tánh và định trong giác tánh.
Ví dụ như các vị đi chùa, vị thầy đặt cho một pháp danh như là Diệu Thiện… có nghĩa là các vị hiểu giác tánh Diệu Thiện bắt đầu hiểu sơ sơ, chứ các vị chưa Định vào trong giác tánh Diệu Thiện, chưa hiểu được cái pháp danh đó nó ẩn chứa điều gì. Đến khi nào hiểu đến mức nào đó của giác tánh, thì các vị mới Định trong giác tánh trong một khoảng thời gian lâu dài, thì mới hiểu hết sự sâu sắc của giác tánh ở vô biên và an trụ nó. Giai đoạn này là đạt đến trí tuệ a la hán của một giác tánh.
Những người thiền định thì họ hiểu giác tánh Diệu Thiện, họ chưa đi đến hành theo giác tánh Diệu Thiện. Cho nên pháp danh các vị đang hiểu trong giác tánh chưa Định trong giác tánh và chưa làm chủ giác tánh, nên họ chưa có danh hiệu giống như bản thể linh giác vũ trụ.
Ví dụ: Các vị đi chùa đặt pháp danh Minh Tâm, Huệ Pháp… các vị mới hiểu giác tánh, các vị đang đứng ở chữ Thiền trong giác tánh chưa trụ trong giác tánh, khi nào các vị trụ trong giác tánh có nghĩa các vị đã am hiểu pháp danh đến tận cùng. Khi các vị hành theo giác tánh đến khi thuần thục thì gọi là An Trụ giác tánh trở thành một vị Phật tổ trong giác tánh đó. Những Pháp danh các vị thầy đặt cho quý vị nó là sự hiểu giác tánh không phải làm chủ giác tánh.
Ví dụ: Thầy mới bắt đầu hiểu luật giao thông, nhưng chưa bao giờ làm chủ (chưa thuần thục) luật giao thông. Thầy lái xe ra đường, thì thầy thấy nhiều giao thông trên đường cả về xe và biển báo, tức là “loạn”, thầy không biết đường nào đi, thầy chỉ mới hiểu nó và cần thực hành nhiều theo luật của nó, thì thầy mới lái xe trên đường thuần thục được. Ví dụ khác, Thầy là một kỹ sư xây dựng, Thầy hiểu về ngành xây dựng rất nhiều, nhưng để làm chủ cái ngành xây dựng đó thì Thầy chưa có kỹ năng. Nói từ bi nhưng chưa biết thực hành từ bi như thế nào?
Hôm trước thầy đã giảng qua Những người hiểu được làm chủ một giác tánh Đà la ni thì người đó có thể hiểu được về kinh tế, chính trị, văn hóa… và hiểu các phương pháp độ người mà không có một sự gút mắc nào. Người đó cũng sẽ hiểu được tất cả các danh hiệu của các vị Phật trong vũ trụ này. Người đó sẽ hiểu ứng dụng của kinh tế học, văn hóa học, tâm linh học, mọi thứ ngành học trong làm chủ giác tánh đà la ni đó. Nếu các vị giảng chỉ trong một slide của bài giảng, ví dụ về kinh tế học các vị sẽ giảng 365 pháp môn của nó về kinh tế. Nền kinh tế Mỹ, cũng giống y như làm chủ một giác tánh đà la ni. Họ biết con người đang ở vị trí nào, họ vận dụng chính sách kinh tế để thâu phục con người làm cân bằng ngân sách quốc gia của họ. Về xã hội học cũng vậy mà về tâm linh học cũng vậy. Một slide làm chủ giác tánh đà la ni thôi, nó chứa vô vạn pháp môn. Cho nên các vị nghe qua Thầy giảng về giác tánh đà la ni, các vị chỉ nghe giống như nước mưa nó ướt áo mình, rồi biết rằng nó ướt thế thôi. Có nghĩa người nào hiểu giác tánh, làm chủ được một giác tánh đà la ni thôi, thì người đó có thể là một nhà kinh tế đại tài, một nhà xã hội học đại tài, một người có thể quản lý gia đình đại tài. Một nhà tu hành đạt đến pháp độ rất cao siêu khó có người hiểu. Nếu giảng về kinh tế học, các vị có thể viết ra 365 cuốn sách lớn nhỏ khác nhau. Không phải học tâm linh là xa rời thực tế , không phải vậy. Học tâm linh là ứng dụng vào trong tất cả vô hình và hữu hình. Chứ không phải như các vị nghĩ rằng, ta đi chùa là để học tâm linh, đi các nhà thờ học tâm linh là ta không biết gì về xã hội. Nếu như ngộ được đạo thì các vị sẽ điều khiển đời không có chướng ngại, xã hội yên bình vô cùng.
Tâm Vương làm chủ 8 muôn 4 ngàn Đà la ni giác tánh, thì người đó mới có thể làm Tổng Đà La Ni thay thế đấng Cha Trời được. Còn những người chưa có đủ 8 muôn 4 ngàn giác tánh đà la ni không thể thay thế đấng Cha Trời, cho dù các vị là Phật Tổ Tổ chỉ là pháp danh, chỉ là hữu sắc. Khi nào các vị có đủ tất cả 8 muôn 4 ngàn Đà la ni tạng tánh đó, hợp nhất 8 muôn 4 ngàn Đà la ni tạng tánh đó về Tâm Vương. Giống như các vị vẽ một hình tròn, nhưng các vị lấy cây bút các vị vẽ đè lên hình tròn đó, nghĩa là các vị vẽ hai hình tròn nhưng nó vẫn là một hình tròn. Vậy thì các vị vẽ lên 8 muôn 4 ngàn cái hình tròn, nhưng thực ra nó vẫn là một hình tròn. Nếu không tin, các vị hãy lấy tờ giấy trắng vẽ ra một cái hình tròn y như cái hình tròn đó với cùng một kích thước, cũng cùng một tâm điểm thì nó vẫn là một hình tròn. Vì vậy mới có Tổng Đà la ni ra đời. Các vị muốn gặp được Tổng Đà La Ni các vị phải chờ muôn vạn ức năm, không phải một tiểu kiếp, các vị cũng đã từng vô lượng kiếp tu. Do vậy để gặp được Tổng Đà La Ni, không hề đơn giản như các vị nghĩ. Các vị gặp Phật có hằng hà vô số Phật, các vị gặp Bồ Tát có hằng hà vô số Bồ Tát, các vị gặp Thánh, Tiên, Thần, Chúa, cũng có vô số Thánh Tiên Thần Chúa. Nhưng để gặp Tổng Đà La Ni các vị phải chờ muôn vạn ức năm. Cho đến thời Liên Hoa Hải Tạng các vị mới gặp được 95 vị Tổng Đà La Ni một lúc. Có nghĩa là các vị phải đợi 84 triệu năm nữa, đến tiểu kiếp thứ 15 sau khi Đức Liên Hoa Giáo Chủ thuyết độ kinh luân, thì sau đó có 95 vị Tổng Đà La Ni giáo chủ ra đời thì các vị mới gặp được vô số Tổng Đà La Ni vào thời Liên Hoa Hải Tạng. Còn hiện giờ các vị muốn gặp được Tổng Đà La Ni vô cùng khó.
3. NĂM PHÁP THÂN CỦA TỔ TIÊN, CHA TRỜI, LINH GIÁC VŨ TRỤ
Tổng Đà La Ni có 5 pháp thân của Tổ Tiên đó là Mật Tạng, Hiến Tạng, Luật Tạng, Thiên Tạng và Pháp Tạng. Cha Trời hoặc Linh giác vũ trụ có Ngũ Tạng đó là Mật Tạng, Hiến Tạng, Luật Tạng, Thiên Tạng và Pháp Tạng. Vậy thì 5 pháp thân (Ngủ Tạng ) này là gì?
Hôm nay thầy sẽ giảng giải cho các quý vị hiểu. Nghe nói đến Hiến Tạng, Luật Tạng, các vị tưởng rằng đó là Hiến Pháp, Luật Pháp, nhưng đó là trong xã hội thì nó cũng có nghĩa giống như vậy. Nó là mô hình thu nhỏ. Mật Tạng, Hiến Tạng, Luật Tạng, Thiên Tạng, Pháp Tạng trong vũ trụ là cái gì? Các vị đọc Văn Hóa Cội Nguồn, thậm chí đọc nhiều lần, nhưng để hiểu được nó không phải dễ. Nếu như không có bậc thầy chỉ dẫn khó mà ngộ được kinh pháp của Cội Nguồn. Trong pháp thân Linh Giác Vũ Trụ, có:
● 2 phần ẩn là: Mật Tạng và Hiến Tạng
● 3 phần hiện đó là: Luật Tạng, Thiên Tạng và Pháp Tạng (Đạo Tạng ).

H3. Mật tạng Vũ trụ
Mật Tạng chính là mật tánh Như Lai Tổ Tiên, hay gọi là mật tánh của Linh Giác Vũ Trụ. Ví dụ một số mật tánh như: nhẫn, nhịn, nhục, duy trì, dưỡng nuôi, xóa bỏ, sắp xếp và phân bố… Có tất cả 8 muôn 4 ngàn cái mật tánh vũ trụ như vậy, hình thành nên Mật Tạng của vũ trụ. Ví dụ như Cha Trời hình thành nên vũ trụ thì cái tánh NHẪN của Ngài nó khủng khiếp vô cùng. Vì cần phải duy trì cái tính kiên trì trong thời gian vô cùng lâu xa mới tạo ra và hình thành nên vũ trụ này, hình thành khai tạo lập lên tam thiên, đại thiên thế giới, các tầng Trời, các tầng Địa Phủ, Trần Gian bốn cõi, thiên hà, ngân hà, nhật nguyệt, tinh tú… Cái thấy nghe hay biết của nó liên tục, nó chứa hàng vạn mật tạng của sắc giới trong Linh Giác Vũ Trụ. Vì các vị là bọt nước thì không bao giờ hiểu được cái mật tánh của vũ trụ. Chỉ khi nào các vị đạt tới Tổng Đà La Ni Vũ Trụ, các vị an trụ vào trong Linh Giác Vũ Trụ đó các vị mới hiểu được hết mật tánh của nó. Ví dụ như Tổ Tiên Tạo Hóa tạo ra vũ trụ vạn vật thì cái tánh nhẫn, nhịn, nhục và cái tánh duy trì của nó khủng khiếp mới tạo ra được cái vũ trụ này. Nó cần phải duy trì cái thần lực lâu xa mới có thể tạo ra toàn bộ vũ trụ về sắc giới. Đối với con người cũng vậy, từ khi tiểu linh hồn bể ra từ Linh Giác Vũ Trụ, thì Tổ Tiên Như Lai cũng phải tạo ra một sự duy trì, sự nhẫn, nhục, nhịn trong vô số kiếp để dẫn dắt các tiểu linh hồn trở về với Linh Giác Vũ Trụ, Bản Thể Tổ Tiên Như Lai, đó là mật tánh.
Trong vũ trụ này có đến 8 muôn 4 ngàn cái mật tánh để hình thành nên Mật Tạng của vũ trụ. Trong số những mật tánh này có: vô trụ, vô tánh, ba la mật đa… Mật Tạng vũ trụ nó khủng khiếp như vậy đó. Đó mới chỉ là một phần ẩn của nó. Con người muốn hiểu được cái phần ẩn này chỉ khi nào tâm linh của các vị gần giống như tâm linh Cha Trời, mới có thể hiểu hết được những mật tánh vũ trụ. Có người hỏi: vậy một vị Phật có thể hiểu hết được những mật tánh của vũ trụ không? chỉ hiểu được một phần nào đó mật tạng, mật tánh của vũ trụ, chứ không bao giờ hiểu hết được.

H4: Hiến tạng Vũ trụ
Hiến Tạng chính là thiên tánh tự nhiên của Như Lai Tổ Tiên, của Linh Giác Vũ Trụ. Ví dụ: các vị thấy Linh Giác Vũ Trụ có công bằng không? Nó công bằng. Linh Giác Vũ Trụ có độc lập không? Nó độc lập. Linh Giác Vũ Trụ có tự do không? Nó tự do. Linh Giác Vũ Trụ có bình đẳng không? Nó bình đẳng vv… Linh Giác Vũ Trụ có hết thảy 8 muôn 4 ngàn cái thiên tánh giống như vậy, hình thành nên Hiến Tạng. Các vị có thấy Trời có độc lập không? Có độc lập. Trời có công bằng không? Trời công bằng vì Trời nuôi dưỡng hết muôn loài, vạn vật trong vũ trụ nên Trời rất công bằng. Đó chính là những thiên tánh tự nhiên của Trời vậy. Tất cả thiên tánh tự nhiên của Linh Giác Vũ Trụ đó, nó minh tâm, kiến tánh, nghĩa là minh tâm có sẵn, kiến tánh có sẵn. Nó có nhiễm bụi trần không? Không nhiễm bụi trần, vì nó trong suốt vô vi.
Tất cả những thiên tánh tự nhiên đó hình thành nên Hiến Tạng Vũ Trụ. Hễ con người hiểu được Hiến Tạng Vũ Trụ thì trí huệ của người đó là một sự vĩ đại khủng khiếp. Có thể nói, Hiến Tạng Vũ Trụ chính là thiên tánh tự nhiên của Tổ Tiên Như Lai, của Linh Giác Vũ Trụ. Các vị nhìn thấy Linh Giác Vũ Trụ này nó rộng lớn vô tận vô biên. Vậy thì cái tánh của nó cũng rộng lượng khủng khiếp, nên mới hình thành nên tánh bác ái, tánh công bằng… bao trùm khắp cùng vũ trụ. Những cái đức tánh này gọi là thiên tánh của vũ trụ. Linh Giác Vũ Trụ có tới 8 muôn 4 ngàn thiên tánh tự nhiên vậy. Tổng hợp 8 muôn 4 ngàn cái thiên tánh của vũ trụ này chính là pháp thân linh giác vũ trụ. Có nghĩa là dựa trên cái pháp thân linh giác vũ trụ đó, mà nó hình thành tới 8 muôn 4 ngàn thiên tánh tự nhiên của nó, gọi là Hiến Tạng của vũ trụ.
Do vậy, không ai có thể nào hiểu nổi Hiến Tạng, nếu chưa hiểu được pháp thể của Linh Giác Vũ Trụ. Nhờ cái Hiến Tạng ẩn tàng này mà sinh ra Luật Tạng của vũ trụ. Nghĩa là từ cái phần ẩn sinh ra phần hiện. Cho nên từ âm đi sang dương gọi là thuận, mà từ dương đi sang âm gọi là nghịch. Đó chính là một phần của định luật tự nhiên tồn tại trong vũ trụ. Ví dụ khác, một người mà từ ác chuyển thành thiện gọi là thuận. Khi đã chuyển thành thiện rồi, họ vẫn được siêu sanh về cõi Trời, đó là luật của vũ trụ. Những con người có làm ác như thế nào đi nữa nhưng mà khi họ quay đầu về Linh Giác Vũ Trụ thì có nghĩa là họ hướng tâm linh của mình để trở về thiên giới. Trong đại nguyện của Phật A Di Đà, đại ý Ngài có nói rằng: khi con người gần chết mà nhất tâm hướng về Ngài, hướng về những điều thiện, hướng về cái thiện tánh của Ngài thì lập tức Ngài sẽ độ người đó về cõi Phật A Di Đà, vì nó đúng theo Luật Tạng của vũ trụ. Do đó đại nguyện của Phật A Di Đà hợp với thiên tánh của vũ trụ nên mới thành tựu viên mãn.

H5: Luật tạng Vũ trụ
Theo quy luật của vũ trụ, từ ẩn sinh ra hiện thì gọi là thuận. Từ âm đi sang dương gọi là thuận. Từ tối đi ra sáng gọi là thuận. Nhưng từ sáng đi vào tối gọi là nghịch. Người từ ác chuyển sang thiện gọi là thuận thiên. Do đó những người ác chuyển sang thiện thì lập tức siêu sanh về thiên đàng, đó là luật của vũ trụ, không có ai cãi được và không ai ngăn cản được. Không có một vị Phật, Thánh, Tiên nào có thể ngăn cản cái định luật này được.
Trong vũ trụ có tới 8 muôn 4 ngàn định luật. Tất cả định luật đó tập hợp lại thì gọi là Luật Tạng của Vũ Trụ, tức là của Pháp Thân Linh Giác Vũ Trụ. Có nghĩa là từ 8 muôn 4 ngàn Hiến Tạng, nó sinh ra 8 muôn 4 ngàn Luật Tạng (chính là 8 muôn 4 ngàn định luật tự nhiên của vũ trụ).
Ví dụ như định luật nhân quả được sinh ra từ thiên tánh công bằng của Hiến Tạng. Nói cách khác từ cái thiên tánh công bằng của Hiến Tạng sinh ra luật nhân quả. Từ cái Bản Thể Linh Giác độc lập mà sinh ra những quyền của tiểu thiên vũ trụ con người. Có nghĩa là định luật nhân duyên, định luật sinh tồn và định luật của thiên quyền vv ... Các định luật xoay vòng của tạo hóa đều từ Hiến Tạng sinh ra. Nó được gọi là Luật Tạng của vũ trụ. Cho nên người làm chủ Luật Tạng của vũ trụ có nghĩa là làm chủ tất cả định luật trong vũ trụ này, mà muốn làm chủ nó thì phải hiểu được Hiến Tạng của nó.
Trong lớp học của Thầy, Thầy sẽ giảng thông cho các vị hiểu được Hiến Tạng, Luật Tạng và Đạo Tạng (Pháp Tạng). Hiểu được 3 cái này rồi, thì Thiên Tạng và Mật Tạng sẽ tự có.
Luật Tạng của vũ trụ không từ đâu có, cũng không ai đặt ra mà nó đi từ thiên tánh tự nhiên, từ Hiến Tạng của vũ trụ mà hình thành nên Luật Tạng. Ví dụ: Đức Phật do thấu hiểu rõ định luật nhân quả, định luật nhân duyên và thuyết giảng về hai định luật này mà Ngài thành vị Phật Tổ Tổ. Vì Ngài làm chủ các cái định luật này. Ngài hiểu rõ sự vận hành của nó trong thế giới vật chất này nên giảng ra vô lượng kinh luân. Như vậy chỉ từ một định luật của tạo hóa có thể giảng ra hàng vạn kinh luân mà không có gút mắc gì. Cho nên các vị khó có thể so sánh trí tuệ của các vị đạt đến đỉnh cao của Cội Nguồn vì nó vô tận, vô biên không ai hiểu được.
Từ một định luật nhân quả, các bậc giác ngộ có thể thuyết giảng ra hàng vạn kinh luân. Từ một định luật sinh tồn thôi, cũng có thể thuyết giảng ra hàng vạn kinh luân. Từ một cái định luật nhân duyên, cũng có thể thuyết giảng ra hàng vạn kinh luân. Đó chính là Luật Tạng của vũ trụ. Cho nên các Luật Tạng trong vũ trụ này hình thành nên cái thiên quyền. Hễ bất kỳ ai mà phạm Luật Trời thì đều bị xử như nhau, vì Trời có tánh bình đẳng, công bằng của nó. Dù cho các vị đang là vị Phật Tổ, nếu như các vị phạm luật, vi phạm thiên quyền thì các vị vẫn bị chuyển xoay như thường. Do đó, hiểu Luật Tạng là con người làm chủ cả non sông đất nước, làm chủ cả vũ trụ, thế giới này. Hễ người nào mà hiểu được Luật Tạng Vũ Trụ thì người đó không những giúp ích cho đời, giúp ích cho gia đình, giúp ích cho xã hội, giúp ích cho đất nước, giúp ích cho quê hương… mà còn giúp ích cho cả tam thiên, đại thiên thế giới. Vậy nên mới gọi nó là thiên quyền, là cái quyền của Trời. Hễ người nào phạm vào Luật Trời thì mất quyền ngay tức khắc. Dù cho các vị là Tổng Đà la ni mà Tổng Đà la ni không ai vi phạm vào thiên quyền vì các vị Tổng Đà la ni làm chủ các định luật. Các vị Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa cũng không bao giờ phạm vào thiên quyền vì vi phạm thiên quyền thì Trời sẽ chuyển xoay vào luật nhân quả. Các vị Phật Tổ Tổ họ đều làm chủ các định luật này, các vị Thánh Tổ Tổ, Tiên Tổ Tổ, Thần Tổ Tổ, Chúa Tổ Tổ, ai cũng đều nắm giữ làm chủ các định luật này, cho nên nó được gọi là Luật Tạng Vũ Trụ.
Từ Luật Tạng Vũ Trụ này sinh ra Hiến Pháp Nhà Nước Văn Lang, mà Quốc Tổ cách đây năm nghìn năm dựng nên đất nước hình chữ S, dựng nên một thời kỳ hoàng kim của đất nước Văn Lang kéo dài độc lập tới 2701 năm, thời đó không có chữ viết, không có cái gì để lưu truyền lại, chỉ qua khẩu tự ngôn từ đã truyền 2701 năm. Từ Luật Tạng Vũ trụ này hình thành nên Hiến Pháp Văn Lang, hình thành nên Long Hoa Luật Tạng ra đời. Cách đây 5000 năm Đức Quốc Tổ đã khai sanh ra đất nước Việt Nam gồm thâu Bách Tộc Văn Lang, nhà nước Văn Lang là tiền thân của nhà nước Việt Nam bây giờ, độc lập kéo dài 2701 năm, một sự khủng khiếp khó ai có thể tưởng tưởng được là nhờ Luật Tạng Vũ trụ này hình thành Hiến Pháp Văn Lang, hễ ai phạm vào Hiến Pháp Văn Lang đều bị xử như nhau. Phạm vào Hiến Pháp Văn Lang có nghĩa là phạm vào Thiên quyền, nghĩa là phạm vào Luật Tạng Vũ trụ này thì người đó đều bị xử cho dù quan vua. Cho nên không phải tự nhiên mà đất nước Văn Lang độc lập kéo dài 2701 năm. Nhờ Luật Tạng Vũ trụ này hình thành Hiến Pháp Văn Lang, giống thích Ca Mâu Ni hiểu Luật Tạng này, hiểu định luật Nhân Quả, hiểu định luật Nhân Duyên, hiểu định luật Sinh Tồn, hiểu tất cả các định luật mà trở thành vị Phật Tổ Tổ Tổ.
Các vị đọc kinh luân Cội Nguồn tối ngày nghe chữ Hiến Tạng, Luật Tạng, Pháp Tạng, Đạo Tạng mà không hiểu gì trong đó cả, những người đọc qua Long Hoa Luật Lạng không hiểu gì do nhiều người thường tưởng rằng Hiến Tạng là Hiến Pháp, Luật Tạng là Luật Pháp. Nhưng thực ra Hiến Pháp, Luật Pháp chỉ là những mô hình thu nhỏ ở xã hội trần gian. Hiến Pháp, Luật Pháp của các quốc gia cũng khác nhau, rồi trong cùng một đất nước Hiến Pháp, Luật Pháp cũng có nhiều biến đổi tuỳ theo thời kỳ lịch sử và chế độ Nhà Nước. Còn Hiến Tạng, Luật Tạng của vũ trụ thì bao hàm khắp vũ trụ này và không thay đổi.

H6: Thiên tạng Vũ trụ
Thiên Tạng là gì? Là do Luật Tạng của vũ trụ hình thành nên 8 muôn 4 ngàn định luật vận hành vũ trụ gọi là Thiên Tạng. Người nào làm chủ bộ máy của vũ trụ thì gọi là làm chủ Thiên Tạng, về Kinh dịch và đủ mọi thứ.
Cội Nguồn không nằm trong 7 giáo, nhưng là chủ nhân của 7 giáo. Cha Trời sinh ra 7 giáo, những người tu trong Cội Nguồn họ không nằm trong 7 giáo nhưng họ là bậc thầy của 7 giáo là nhờ năm pháp thân của Vũ trụ này đó là: Mật Tạng, Hiến Tạng, Luật Tạng, Thiên Tạng, Pháp Tạng. Vì năm pháp thân Vũ trụ này sinh ra 7 giáo cho nên người nào trong Cội Nguồn hiểu được năm pháp thân vũ trụ này thì người đó là chủ nhân của 7 giáo.
Thiên Tạng là do 8 muôn 4 ngàn định luật của vũ trụ mà nó vận hành vũ trụ một cách tự nhiên và trơn tru. Vì vậy người nào hiểu được 8 muôn 4 ngàn định luật, hiểu được Luật Tạng Vũ Trụ thì Thiên Tạng họ sẽ hiểu được cách vận hành của nó, về kinh dịch, về mọi sự chuyển vận trong vũ trụ này để tạo dựng ra vô số vô biên sắc giới, thiên đàng cực lạc đẹp xinh vô tận vô biên. Nói cách khác, do làm chủ Thiên Tạng này mà con người mới hiểu hết sự vận hành của nó. Ví dụ: giống như mình muốn tạo ra nước thì mình phải biết lấy hydro cộng oxy thêm xúc tác nhiệt độ thì ra nước. Có nghĩa con người cần hiểu tất cả các định luật cơ bản rồi họ kết hợp lại sẽ hiểu về sự vận hành của vũ trụ này nó trơn tru và tự nhiên như thế nào.
Cho nên người nào hiểu được Thiên Tạng Vũ Trụ thì người đó luôn làm chủ biết cách thúc đẩy gia đình và xã hội, làm cho đất nước, quốc tế và thế giới này trở nên xinh đẹp, giàu có, thịnh vượng và phát triển mà không ai có thể tưởng tượng được. Họ làm chủ được Pháp Tạng. Con người mà hiểu được 5 pháp thân Cội Nguồn thì sẽ là một nhà kinh tế đại tài, một nhà triết gia đại tài, một thầy pháp độ đại tài mà không ai có thể so sánh được. Chính nhờ Thiên Tạng này mà con người sáng tạo vô cùng. Trong cuộc sống, con người biết lấy điện âm, điện dương chập lại để làm vật nổ, nếu dùng cho mục đích phát triển kinh tế như khai khoáng, khai mở đất đai thì đúng. Còn nếu sử dụng trí tuệ cùng những nghiên cứu khoa học để tạo ra bom hạt nhân nhằm mục đích giết hại con người, thì điều này là đi sai luật của vũ trụ, dù cho là ai đi nữa cũng sẽ bị xoay chuyển như thường. Cho nên các vị học Thiên Tạng, mà không có Luật Tạng, không có Hiến Tạng, không có Đạo Tạng thì các vị gây ra muôn vạn khổ đau, vì không làm chủ nó, không làm chủ lương tâm của mình. Ví dụ: các vị chế ra bom nguyên tử từ các chất các chất phóng xạ nhằm mục đích giết người thì quả nghiệp khác với các vị chế ra các chất phóng xạ chữa ung thư để cứu người. Do đó các vị cần hiểu trong Luật Tạng của vũ trụ có Thiện, Ác nó có luật nhân quả, để phân định. Hễ con người làm thiện sẽ gặt hái phước báu hoặc được sanh lên cõi Trời. Hễ con người làm ác sẽ gặt phải quả nghiệp xấu hoặc bị đoạ xuống âm phủ. Không có cách nào xóa được. Làm ác làm chủ bóng đen, làm thiện làm chủ dương quang cõi Trời. Đó là định luật Vũ trụ không ai thay đổi được. Đó chính là định luật của vũ trụ không bao giờ thay đổi. Nếu làm ác không ai nhốt được các vị trở thành Quỷ Vương, và phá đi Hiến Tạng, Mật Tạng Vũ trụ, thì Tổ Tiên sẽ nhốt vào trong bóng tối. Những người mà đạt tới chữ Vô thiên, cho rằng mình hơn cả Trời, coi thường Trời, hại những người hành theo ý trời để cứu độ chúng sanh, thì ông Trời sẽ nhốt người đó trong cái bóng đêm, vào trong hố đen của Vũ trụ lâu xa cho đến khi nào cái linh căn huệ mạng của họ không còn nữa. Như các vị thấy, nếu người bị nhốt trong bóng tối thời gian dài thì khi ra khỏi bóng tối, ra khỏi nhà tù trần gian là đầu óc của người đó trở nên khờ khạo, vì nó mất lần linh giác của mình, mất dần linh căn huệ mạng của mình, khiến trí tuệ trở nên vô cùng kém. Trong cuộc sống, thường thấy những người hay ngủ ngày mà lại thức đêm, thì thường kém thông minh. Ngày nay các vị thức đêm các vị bật đèn sáng, thì các vị vẫn sống trong ánh sáng chứ không giống như ngày xưa, khi không có đèn điện gì, các vị sống trong bóng đêm một thời gian dài thì các vị sẽ lu mờ đi trí tuệ. Không tin các vị thử quan sát những người phải sống trong ngục tù suốt 30 năm đi, trong ngục tù mà tối đen tối thui thì sau 30 năm người đó giống như một người khờ, bước ra ngoài xã hội sẽ giống như một người ở đâu đâu. Có nghĩa là trí tuệ của người đó trở nên nhạt nhoà hoặc bị xóa mờ, linh căn huệ mạng của những người đó bị tiêu hủy dần. Đó là mới chỉ là bị nhốt trong ngục tối ở trần gian. Còn nếu bị Cha Trời nhốt trong hố đen của vũ trụ này tới muôn vạn tỉ năm, thì dù cho có có phép thuật thần thông cao siêu đến đâu đi chăng nữa, cũng tiêu hết, trở thành lú lẫn, trở nên vô minh.
Do vậy, học Thiên Tạng mà không hại người, thì không phạm luật Trời. Ngược lại, hiểu rõ Thiên Tạng mà cố tình hại người, phạm phải đại nghịch với Tổ Tiên, Cha Trời, Mẹ Trời thì sẽ bị chuyển xoay mà không cách nào thoát ra được. Thiên Tạng chính là sự vận hành của bộ máy tạo hóa vũ trụ này tự nhiên, trơn tru và sáng tạo vô cùng, mà con người không thể hiểu được. Người hiểu rõ Thiên Tạng vũ trụ mà mang tâm cứu giúp con người thì người đó sẽ khiến cho quốc gia này tránh được vô số tai họa của thiên nhiên, làm cho đất nước này trở nên đẹp xinh vô cùng, phát triển thịnh vượng, giàu có vô tận, vô biên. Thiên Tạng nó có ý nghĩa lớn lao vô cùng như vậy đó.
e. Pháp Tạng (Đạo Tạng) vũ trụ là gì?

H7: Pháp tạng Vũ trụ
Pháp Tạng hay còn gọi là Đạo Tạng là do hiểu rõ Hiến Tạng, Luật Tạng, Thiên Tạng nên tạo ra 8 muôn 4 ngàn pháp môn hay mở ra 8 muôn 4 ngàn sự biến hóa trong cảnh giới tự nhiên này. Mỗi giác tánh đà la ni hiện tánh, ứng hiệp với một cảnh giới của sắc giới. Nhờ đó mà nó tạo ra 8 muôn 4 ngàn pháp môn độ người, vi diệu vô cùng, không những độ người thiện mà còn độ được cả người ác. Cho nên nhờ Pháp Tạng Vũ trụ này mà con người có tài ngoại giao vô cùng, giúp phát triển kinh tế thương mại, có thể ứng dụng vào các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau, giúp ích cho xã hội, đất nước và thế giới, mà người thường dù cho tài năng đến đâu cũng không thể thực hiện được hết những điều này. Pháp Tạng cũng mở ra hàng vạn Pháp Độ để độ người và tạo ra vô lượng phép thuật thần thông trong trụ này.
Cho nên Pháp Tạng vũ trụ bao hàm rất rộng, vô tận vô biên. Để giảng giải Pháp Tạng này phải giảng giải tới tận cùng của nó, Thầy phải mất ít nhất 365 ngày, nói liên tục mà chưa hết nổi những ý nghĩa sâu xa của nó. Pháp Tạng (Đạo Tạng) tùy theo hoàn cảnh mà nó sinh ra 8 muôn 4 ngàn pháp môn tương ứng với 8 muôn 4 ngàn giác tánh để độ người. Trong mỗi giác tánh chủ lực lớn lại có 8 muôn 4 ngàn tánh con trong đó tạo nên vô số vô biên mạng lưới như vậy. Do đó hình thành đến tỉ tỉ muôn pháp môn. Ngày xưa, có một người đệ tử hỏi Đức Thích Ca Mâu Ni rằng: nếu như dùng trí tuệ của Ngài mà thuyết pháp thì cho đến khi nào mới hết. Đức Phật nói rằng không thể nào tính đếm được là tại vì, một chủng tánh chủ lực nó sinh ra 84 ngàn chủng tánh phụ rồi chủng tánh phụ nó cũng sinh ra nữa, giống như một mạng lưới domino lớn như vậy, thì làm sao giảng giải cho hết được. Người nào tu trong Văn Hoá Cội Nguồn mà làm chủ được Hiến Tạng, Thiên Tạng, Luật Tạng thì có được 84 ngàn pháp môn chủ lực, hay 84 ngàn pháp thuật thần thông mà người thường không bao giờ hiểu được. Người tu đó sẽ độ được cả người ác, lẫn người thiện, dễ như trở bàn tay. Người tu đó cũng sẽ trở thành một nhà ngoại giao đại tài, mở ra nền kinh tế thương mại phát triển vô cùng, xây dựng một xã hội thịnh vượng vô cùng. Nguời này nếu như đi vào con đường thuyết độ chúng sanh, thì sẽ trở thành một vị Phật trong cơ Pháp Độ - Liên Hoa Hải Tạng, mà độ tận nhân loại về Trời. Hiểu rõ Pháp Tạng là phải hiểu được như vậy.
Vậy hôm nay, qua những lời Thầy giảng giải, thì các vị đã được mở mang thêm, hiểu được những yếu tố nền tảng cơ bản trong Sử Kinh Văn Hóa Cội Nguồn: Mật Tạng, Hiến Tạng, Luật Tạng, Thiên Tạng và Pháp Tạng. Nếu Thầy giảng giải 5 pháp thân này một cách chi tiết cho các vị nghe thì giảng giải đến chừng nào cho hết. Các vị ngồi viết sách cũng không bao giờ viết được hết, có người viết về kinh tế, có người viết về khoa học, có người viết về tu hành pháp độ… nói chung là viết về mọi thứ trong tâm linh và trong cuộc sống mà mình đã hiểu ngộ.
Trong thế giới vật chất này có tới 84 ngàn ngành nghề khác nhau, cũng có tới 84 ngàn cảnh ứng với các tánh chủ lực của nó. Dù cho con người thiện hay ác thì con mắt của họ vẫn có thể nhìn thấy 84 ngàn cảnh vật chủ lực đó, mỗi cảnh vật chủ lực tương ứng với một đà la ni tạng tánh trong tâm linh con người. Hễ người tu xong giác tánh đà la ni này, thì ông Trời lại khiến cho có nhân duyên để qua cảnh khác, để cho các vị thuần thục cái giác tánh đà la ni tiếp theo. Tiếp tục tu vô số kiếp, cho đến khi nào các vị có được đầy đủ hết 84 ngàn đà la ni tạng tánh để trở về một cái gọi là Tâm Vương thì khi đó các vị trở thành Tổng Đà La Ni. Cái tâm của Tổng Đà La Ni, cũng giống như tâm của Cha Trời, hiểu rõ và làm chủ 5 cái pháp thân của Cội Nguồn gồm có: Mật Tạng, Hiến Tạng, Luật Tạng, Thiên Tạng và Pháp Tạng của vũ trụ. Đại Thiên Vũ Trụ của Trời có 5 pháp thân này, thì khi di truyền sang cho con cháu, tiểu thiên vũ trụ con người cũng có đầy đủ 5 pháp thân này: Mật Tạng, Hiến Tạng, Luật Tạng, Thiên Tạng và Pháp Tạng y như vậy, nhưng do sở nghiệp ác thiện lẫn lộn bao trùm khiến họ luân hồi chuyển kiếp trong muôn vạn kiếp để đi tìm lại và làm chủ đầy đủ các giác tánh, pháp thân mà trở về với Cội Nguồn.
Mỗi con người đều có bí mật của riêng mình, nhưng ít người hiểu được rằng, đó chính là Mật Tạng. Nguyên lý sống của con người chính là Hiến Tạng, nhưng đó là nguyên lý của bọt nước. Cho nên mỗi người mỗi khác, các vị sẽ thấy nguyên lý sống của mình khác với nguyên lý sống của người khác. Linh Giác Vũ trụ có cái tính độc lập, nên di truyền sang tính độc lập cho con người, tiểu thiên vũ trụ, hễ cha sao thì con vậy. Do con người là bọt nước, bọt nước không hiểu nó từ nước sanh ra, con người cũng không hiểu nó được sanh ra từ Đại Thiên Vũ Trụ, từ Tổ Tiên, Cha Trời, Mẹ Trời cho nên nó không có đi vào cái thể thống nhất của đại đồng. Linh Giác Vũ Trụ còn có đặc điểm là trong suốt, vô vi, không cấu nhiễm, hễ cái ác chui vô thì nó bị loại ra liền. Tương tự vậy, cái nguyên lý sống của các vị, mà hễ ai đó tác động vào để nhằm thay đổi cách sống của quý vị, thì quý vị sẽ phản ứng liền.
Lâu nay các vị thường nghe nói đến tòa án lương tâm, lương tâm con người mà các vị không bao giờ hiểu được, tòa án lương tâm là cái gì. Mà các vị thường tưởng rằng tòa án lương tâm là của quý vị. Các vị lại tưởng rằng mình có Hiến Tạng, Luật Tạng, Thiên Tạng, Đạo Tạng, nhưng đó chỉ là của bọt nước chứ không phải của nước, nó là vô cùng nhỏ bé. Các vị cũng lại tưởng mình sống theo tòa án lương tâm, nhưng tòa án lương tâm của các vị là của bọt nước. Để hiểu tòa án lương tâm của con người không hề dễ. Rồi nhiều người thường nói rằng, tu tâm dưỡng tánh, lại cho rằng mình từ bi nhưng mà quý vị không hiểu được cho hết từ bi là như thế nào. Nhiều vị Thầy giảng cho đệ tử về từ bi, nhưng lại giảng rất mơ hồ,, họ nói rằng phóng sinh đem con cá thả ra sông, mang con chim thả khỏi lồng, gọi đó là từ bi, nó đi vào cái tánh hiền nhiều hơn là tánh từ bi. Các vị thấy Bản Thể Linh Giác Vũ Trụ rất công bằng, mà công bằng chính là từ bi vì nó không nghiêng về phía bên nào, không nghiêng về ác, cũng không nghiêng về thiện, ác - thiện cùng tồn tại trong vũ trụ này, đó mới gọi là từ bi. Nếu nó không công bằng, nó yêu người thiện nó giết người ác vậy thì đâu còn từ bi mà đó là đi vào cảnh chém giết, không thể gọi là từ bi được. Từ bi là bình đẳng, hễ ai phạm vào luật thì đều bị luân chuyển và sa đoạ như nhau. Phật cũng vậy, phạm vào thiên luật của vũ trụ liền rơi vào vòng luân hồi chuyển kiếp, dù đang ở trung thiên giới cũng rớt xuống âm phủ liền, đó là cái tánh công bằng, bình đẳng của vũ trụ mà công bằng, bình đẳng chính là từ bi. Do vậy, nếu các vị đánh mất đi tánh công bằng, bình đẳng thì các vị cũng mất đi tánh từ bi. Ví dụ, ai đó làm những điều ác, điều bất chính, ăn hối lộ, hại đất nước rồi mang tiền bạc, vật chất dư thừa đó đem biếu, đem tặng cho các vị, vì thế nên các vị ủng hộ người này, khiến cho các vị trở thành người bao che cho người làm ác, họ làm sai các vị cũng mặc kệ, họ làm ác các vị cũng cho qua. Làm như vậy là các vị cố tình che đậy cái xấu của người khác để mình được hưởng lợi. Các vị đánh mất sự công bằng thì không bao giờ có tánh từ bi được nữa. Dù cho các vị có làm việc tốt như: phát lương thực, phóng sanh, rồi cúng dường Phật Pháp Tăng… đó chỉ là hình thức, để che đậy cái tâm của quý vị, che đậy hành động sai trái của quý vị, chứ không phải vì lòng từ bi, nhưng mà các vị làm những việc đó nên vẫn có công đức, nhưng rất ít. Rồi các vị nghĩ đóng góp tiền bạc để xây chùa là từ bi, nhưng thực chất các hành động đó nó đi vào hành thiện để được hưởng phước. Hành thiện, hành ác xen lẫn thì phước và hoạ cũng đan xen nhau, chúng cộng trừ, nhân chia với nhau, nên hưởng hết phước các vị lại bị hoạ tai trùng trùng. Có người hỏi Thầy rằng: tôi xây chùa cúng miếu cả đời mà sao tôi không thấy mình được nhiều phước báo. Vì không rõ nhân - quả, phước báu nhiều ít từ những việc mình làm nên đa số người ta lấy chỗ này, bù vào chỗ khác, lấy tiền tham ô, tiền bất chính để đi làm từ thiện, nên cuộc đời các vị vẫn bị luật nhân quả xoay vần, thịnh rồi suy, phước rồi hoạ.
Để hiểu thêm về từ bi, các vị nên nhìn vào những lời nói và việc làm của đức Phật. Ngài nói: Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành. Đó chính là bình đẳng, là từ bi. Chỉ cần có duyên ai Ngài cũng độ dù cho đó là người ngoại đạo, hay là người thấp kém trong xã hội. Ngài không hại ai cả, dù cho đó là người ác đi chăng nữa. Đó mới là bình đẳng, đó mới là từ bi. Từ bi cũng chính là một trong các pháp độ của Phật Thích Ca Mâu Ni. Một bậc giác ngộ khác, Đức Chúa GiêSu cũng vậy. Ngài đâu có hận thù với những kẻ hại mình, mà vẫn xin tha tội cho những lỗi lầm của họ. Tuy nhiên vì tánh công bằng của Trời, mà Thiên Luật Vũ Trụ luôn vận hành, định luật nhân quả luôn tồn tại. Đa số người Do Thái, tuy rất thông minh vì nhiều người cõi Trời hạ phàm, nhưng họ vẫn phải trả nghiệp quả trong quá khứ vì đã phạm Luật Trời. Dân tộc Do Thái đã phải trải qua một lịch sử lâu dài bị đàn áp và thảm sát trên nhiều vùng đất khác nhau. Vậy nên mới nói nhân quả không chừa một ai, lưới Trời lồng lộng nhưng một mảy lông cũng không lọt.
Hễ ai mà hiểu được 5 pháp thân Cội Nguồn này đó là bậc giác ngộ lớn lắm. Có thể các vị phải mất 84 triệu năm mới gặp được người có thể giảng thông 5 pháp tạng vũ trụ này, chính là 5 pháp thân của Cha Trời. Cho nên Cội Nguồn tuy không nằm trong 7 giáo, nhưng Cội Nguồn chính là bậc thầy của 7 giáo. Trong Cội Nguồn, mọi thứ đều đạt tới tối cao khó có người hiểu được.
4. TẬP SỰ VÀ HIỂU CƠ BẢN VỀ SƠ THIỀN TRONG VĂN HOÁ CỘI NGUỒN
Hôm nay Thầy sẽ giảng qua về sơ thiền. Các vị cần hiểu rằng, trong quá trình để đạt tới làm chủ một Đà la ni tạng tánh, nó có Thiền và Định. Thiền và Định chính là điều kiện cần để làm chủ giác tánh đó. Vì vậy trong lớp học này Thầy sẽ khai mở sơ thiền trong thiền môn của Văn Hoá Cội Nguồn.
Các vị nên nhớ rằng, đa số các sách thiền bây giờ được xuất phát từ Trung Hoa, Ấn Độ. Thiền bên Ấn Độ chủ yếu đi vào thiền của Bà la môn. Thiền của Bà la môn cũng có thể đạt tới đỉnh cao của thiền, nhưng mà không thể nào đạt tới đại định Như Lai, không ai đạt tới đỉnh cao giống như Phật Thích Ca Mâu Ni. Nói về Bà la môn giáo thì mặc dù họ ra đời từ rất lâu, trước cả thời của Đức Phật nhưng không có ai đạt tới Như Lai đại định như Thích Ca Mâu Ni. Như vậy chứng tỏ, ngày nay hầu hết các vị học thiền của Bà la môn giáo. Phật giáo Tây Tạng cũng vậy, thiền cũng từ Bà la môn giáo. Trong các sách thiền Ấn Độ đề cập rất nhiều đến việc khai mở các luân xa. Còn thiền của Bách Tộc Văn Lang hay của các vị tiên đạo Trung Hoa ngày xưa họ sử dụng huyệt đạo. Huyệt đạo với luân xa, nó gần giống như nhau, có nhiều sự tương đồng. Trải qua lịch sử nhiều ngàn năm, đến nay hai nền thiền tông lẫn lộn với nhau vô cùng.
Vì không hiểu ngộ nên các vị tập miết rồi cuối cùng tâm tánh của các vị trở nên rối loạn. Điều đặc biệt cần lưu ý trong thiền định là: hễ con người thiếu sự hiểu biết thấu đáo về tâm linh mà đi vào thiền định thì chỉ mang họa, không bao giờ đạt được hiệu quả. Cho nên khi thiền định điều tối kỵ nhất đó là hễ các vị phân biệt chỗ nào thì sanh ra sở nghiệp chỗ nấy, mà hễ các vị chấp chỗ nào thì sinh ra vọng tâm chỗ nấy. Đó là hai điều tối kỵ nhất của thiền môn. Những người tu thiền mà mang hai tánh nhược điểm này, thì chỉ thường đạt được hiệu quả ở giai đoạn đầu của thiền về mặt sức khỏe, chứ không thể đạt tới sự chứng ngộ đại định Như Lai được. Vì khi định trong Như Lai tạng tánh thì điều tối kỵ là: chấp và phân biệt. Cho nên các quý vị không bao giờ định được trong những cái pháp danh của các vị.
Ngày nay, vì lợi nhuận của xã hội mà những người họ viết sách tu thiền. Một số người dịch kinh ra rồi viết thêm sắc giới khắp cùng để cho mình cuốn hút vào trong thiền môn, trong khoa học nhưng đó là một sự sai lầm. Thiền như mặt nước trong veo, vắng lặng, đơn giản, dễ hiểu, không vọng chấp, không cuồng chấp, không phân biệt, không vọng tưởng mới đạt tới đại định Như Lai. Cho nên các vị đâu có hiểu về thiền.
Là tâm mình trở nên thanh tịnh, trong vắt giống như Đức Phật từng nói: nước càng trong càng nhìn thấu rõ từ trên xuống dưới, nước đục thì không thể nhìn thấy đáy được. Nhưng khi các vị học sơ thiền thì họ viết ra đủ thứ trên đời; nào là luân xa này điều khiển vấn đề này, điều khiển vấn đề kia nhưng mà họ vốn không có hiểu luân xa điều khiển cái gì, rồi các huyệt đạo trên cơ thể điều khiển cái gì, liên quan tới cái gì? Các vị không phân định được, cho nên dẫn tới những điều nhầm lẫn, mù tịt trong thiền môn. Hễ thiền càng lên cao thì tâm trí càng rối loạn; cộng thêm vọng chấp có nghĩa phân biệt sinh ra sở nghiệp, chấp chỗ nào sinh ra vọng tâm chỗ nấy. Người tu thiền đây là hai điều tối kỵ nhất để đạt tới đại định Như Lai: Vọng chấp và phân biệt.
Tu Thiền khác tu Định, Thiền định là cách gọi kết hợp với nhau, trong Thiền có Định trong Định có Thiền. Vì mình là con người mang xác thân tiểu thiên vũ trụ, là xác thân phàm tục cho nên Thiền trong Định, Định trong Thiền. Có nghĩa là linh hồn là vô vi, xác thân là hữu vi, còn thân kim khí ở cõi Trời nó khác (hay con gọi là nhị xác thân bán vô vi và hữu vi). Xác thân tiểu thiên vũ trụ mà muốn đạt tới đỉnh cao của thiền định thì phải tu thiền luyện khí trước để mà chữa được bệnh tật của thể xác giúp cho cơ thể sinh học có đủ sức đủ lực, nếu không thì khó vô cùng, vì nếu tiểu thiên vũ trụ xác thân con người có vấn đề thì không bao giờ đạt tới chữ Định. Do vậy, trước tiên người tu thiền cần hiểu rõ thế nào là Tinh, Khí, Thần. Khi bước vào thiền môn của Thầy người tu cần hiểu rõ khi thiền thì các vị được hưởng cái lợi gì? Chứ không phải tu thiền là ngồi hít hít, thở thở mà không biết rõ mình hưởng cái gì? nên cuối cùng người tu như những vị thầy bói xem voi mà thôi. Vậy thiền con người phải hiểu rõ Tinh, Khí, Thần giúp ích điều gì cho con người, Còn đạt tới an định lại đi vào chỗ khác nữa.
Thiền là các vị hiểu dần cái tánh của mình. Ví dụ: khi bước vào nhà chùa mà quy y, các vị sư thầy đặt cho các vị pháp danh Diệu Thiện, có nghĩa Diệu Thiện là cái tánh thiện lành này đạt tới đỉnh cao của nó, “Diệu” là đạt đến sự thấu suốt của nó, nghĩa là cái hạnh tu hành của các vị bắt đầu từ việc hiểu cái tánh thiện lành, đạt đến thấu suốt của nó và làm chủ cái tánh thiện lành này nên trở thành một vị Phật. Chứ không phải vô trong chùa có được pháp danh Diệu Thiện mừng quá trời nhưng lại không hiểu hết ý nghĩa tên pháp danh của mình. Các vị bước vô Cội Nguồn, có được pháp danh gì đó, ví dụ: Giác Linh, Nhơn Luân… các vị mừng quá mà không biết nó có ý nghĩa gì. Do đó, trước hết các vị cần phải hiểu pháp danh đó nó như thế nào, nó liên quan như thế nào tới giác tánh của mình.
Nói tới thiền thì việc đầu tiên chính là hiểu giác tánh của nó rồi các vị bắt đầu đi vào thiền. Thiền theo Văn Hoá Cội Nguồn có 3 cấp, đó là sơ thiền, trung thiền, thượng thiền (hay đại thiền).
Sơ thiền giúp con người giảm trừ bệnh tật, làm chủ tiểu thiên vũ trụ của mình, nên gọi là tu thiền luyện khí (chứ không gọi là thiền định). Người tu thiền luyện khí cần hiểu rõ Tinh, Khí, Thần.
Thần được chia ra làm 3 loại: Thượng Thần, Trung Thần và Hạ Thần.

Ha1: Sơ đồ Thần trong Sơ thiền
Do an trụ trong kinh luân nên sinh ra thượng thần, nhất là Văn Hóa Cội Nguồn. Do tâm luôn an định bởi thấy nghe hay biết tự nhiên đi, đứng, nằm, ngồi. Nên những người này luôn luôn sinh ra thượng thần. Tinh thần họ luôn luôn minh mẫn và cho dù họ có già nua đi chăng nữa nhưng họ không bao giờ bị lẫn do có thượng thần. Cái thần khí này của người tu thiền có thể nhìn thấy rất rõ. Trong đời sống, nếu các vị mất tinh thần là các vị mệt mỏi, ốm yếu liền, hoặc hễ các vị bị đứt mạch máu là thần khí các vị nó sụt giảm ngay tức khắc. Cho nên cái thần này quan trọng vô cùng, cái thần này chính là do linh hồn nó điều khiển vật chất nên mới gọi là thần hồn, cho nên những người nào mất tinh thần dễ dẫn đến suy nhược cơ thể. Hoặc những người mắc covid mà mất tinh thần là suy nhược cơ thể ngay tức khắc liền. Cái thần này rất quan trọng, nó điều khiển sắc giới nên các vị nhìn thấy ai đó có thần khí tốt, thì thường da mặt hồng hào, con mắt sáng trưng ra, trí tuệ của họ sáng suốt, nên cái thần rất là quan trọng.
Cho nên cái Thần rất quan trọng. Cho nên thượng thần do an trụ, an định thấy, nghe, hay biết tự nhiên trong đi, đứng, nằm, ngồi hoặc do an trụ trong Kinh luân, chứ không phải phân biệt phân tâm trong đó.
Vì sao con người an trụ trong kinh luân đại thừa lại sinh ra thần? Con người không phân biệt, không vọng tâm, an trụ trong kinh luân thì sẽ sanh tuệ, sanh ra sự hạnh phúc trong đó nên nó tạo ra một cái Thần lớn vô cùng. Còn nếu các vị đọc các kinh Phật, đọc kinh Văn Hoá Cội Nguồn rồi các vị sinh ra vọng tâm rồi chấp pháp trong đó, thì nó làm cho các vị suy giảm tinh thần liền, cái đó không phải là an trụ trong kinh luân nên đa số các vị tưởng rằng đọc kinh luân là an trụ trong kinh luân nhưng không phải. Để các vị an trụ trong kinh luân thì các vị cần hiểu kinh luân đã. Nên Thầy mở lớp Văn Hoá Cội Nguồn là để cho các vị có kiến thức cơ bản mà đọc hiểu kinh luân. Đọc kinh luân một thời gian các vị mới an trụ được vì khi các vị đọc kinh luân sinh ra chấp trong đó, chấp rồi vọng tâm nên thần lực nó giảm đi, cho đến khi những con người nào an trụ trong kinh luân mới có thể sinh ra cái thượng thần trong con người họ. Các vị đọc kinh Pháp Hoa, kinh Lăng Nghiêm cũng vậy, nếu các vị an trụ trong các kinh pháp đều sinh ra Thượng thần; chứ các vị đọc, rồi chấp, mê thì không bao giờ có được thượng thần. Ví dụ khác gõ mõ tụng kinh cũng như là gột rửa tâm linh vì nó đi vào sự dục giã, giống như trong cuốn sách thờ tự của thầy nói về gõ mõ gõ chuông, nó cũng sinh ra một phần của trung thần chứ không phải là thượng thần. Thượng thần là giành cho những con người định và an trụ. Nên nếu con người không có cái thượng thần này, cái thượng thần này mất đi, mất lần mất lần con người sẽ dẫn tới hết cái sinh mạng của mình gọi là đến thời mãn kiếp số.
Trung thần từ đâu sanh ra? Do thiền định sanh ra Trung thần. Khi các vị ngồi thiền hít khí, nhờ hít khí như vậy các vị chỉ tập trung vào trong khí thở nên vì thế mà nó sinh ra cái thần của mình.
Ví dụ Thầy ngồi nhìn vào đỉnh mũi của Thầy để làm điểm định, rồi Thầy tưởng khí chạy vô chạy ra, nhờ cái định này mà nó sinh ra thần, chứ không phải do khí hít vô hít ra mà sinh ra cái thần nên các vị thường không phân biệt được. Nên người tu thiền mà thấy gút mắc là do mình không hiểu nó.
Ví dụ khác, trong khoa học, nếu quý vị tập trung vào một cái thì nhờ cái thần này mà nó phát minh ra mới giải được bài toán. Cũng nhờ cái định này sinh ra cái thần cho nên con người mới hiểu kinh luân nhanh được; giống như các vị an trụ trong kinh luân là nhờ cái thần đó nó an trụ, an định trong kinh luân mà nó sinh ra cái thượng thần đó mà nó mới tiếp xúc với linh giác vũ trụ mà các vị khai mở trí tuệ của mình, là nhờ mình định và an trụ vào trong kinh luân đó.
Nên khi các vị an trụ trong giác tánh đó nó sinh ra thượng thần, mà cái thượng thần này nó liên kết với linh giác vũ trụ khiến cho con người thấu hiểu được giác tánh đó đến tận cùng. Giống như làm chủ giác tánh, nghĩa là khi định trong giác tánh giống như Thầy Tịnh Không, nghĩa là ổng tịnh trong chữ Không, ổng định trong chữ Không đó mà nó sinh ra thượng thần. Thượng thần này nó liên kết với linh giác vũ trụ mà ổng hiểu chữ Không đến tường tận của nó, nên một bài giảng pháp của ổng về chữ Không làm cho con người phải bái phục, đây là điều là tối thượng trong thiền, chứ không phải tu thiền luyện khí rồi cuối cùng lại không hiểu gì. Còn khi thiền mà sinh ra trung thần là do mình định tâm vào trong một điểm, mà nhờ cái điểm này nên con người định tâm mà sinh ra trung thần. Nếu các vị không định tâm nữa thì cái trung thần này nó sẽ từ từ suy giảm, sự suy giảm của nó khá chậm. Còn cái thượng thần tiêu hao rất chậm, vì con người luôn luôn an định trong cuộc sống hoặc an trụ vào kinh luân nên những người tu ở thượng thần khó ai mà lay chuyển được họ. Còn thiền định nếu các vị bỏ thiền định một thời gian là cái trung thần này nó cũng sớm tiêu hao.
Hạ thần thường thấy trong cuộc sống, giống như nó có trong tình yêu. Thầy lấy ví dụ thực tế: hôm nay có người yêu tặng cho mình chiếc nhẫn kim cương, tinh thần của mình nó lên vù vù nhưng mà hôm sau nó có người yêu mới là tinh thần suy sụp, tiêu luôn cái đó gọi là hạ thần. Hôm nay chồng mình cầm một triệu đô về đưa mình, thì tinh thần lên cao quá, cảm thấy sung sướng thấy cái gì trong cuộc đời cũng màu hồng hết, nhưng hôm sau mình phát hiện chồng có “bồ nhí” thì hạ thần này tiêu hao hết luôn. Hoặc cha mẹ của mình đến ngày lễ tết thấy con cháu về hội tụ đông đủ vui quá tinh thần phấn khởi lên ào ào, đến chừng con cháu đi rồi là thấy buồn tủi nên cũng tiêu hao luôn hạ thần. Cha mẹ thấy con cái hôm nay đạt điểm mười trong kỳ thi thì thấy tinh thần lên cao nhưng mà tinh thần này nó cũng sớm tiêu tan. Cái hạ thần này giống như thủy triều vậy, hoặc giống cơn sóng của đại dương nghĩa là nó lên xuống lên xuống.
Làm sự so sánh thì thấy thượng thần nó luôn luôn ổn định, biến động rất là ít, cái trung thần thì biến động vừa vừa, còn hạ thần thì giống như sóng thủy triều hoặc sóng đại dương nó lên rồi xuống.
Nhiều người nghe đến Tinh Khí Thần mà không hiểu được sâu xa. Thần khí này là quyết định, nó chính là sợi dây kết nối giữa vô vi và hữu vi. Đầu óc của mình minh mẫn, thông minh, sáng suốt hay không là do cái thần chứ không phải do cái khí, nhưng mà cái khí lại giữ cái thần. Giống như ở dưới chân đế là tinh rồi giữ khí, khí giữ thần.
Ví dụ trái đất giữ tầng nước, tầng nước đó giữ tầng khí, tầng khí đó giữ thần lực vũ trụ. Ví dụ khác, nếu mình ngưng thở, thì hệ thống chất lỏng là máu huyết nó ngưng liền, nhưng máu huyết lưu thông là nó giữ cái khí thở của mình nó đều, mà khí thở đều thì giữ cái thần của mình lâu, tất cả đều có sự tương quan với nhau. Cái thần rất là quan trọng.
Các vị ngồi tu thiền luyện khí mà các vị không biết tu thiền là gì, luyện khí là gì vì các vị tự tập thì thiếu kiến thức vô cùng, mà các vị nghe thầy khác giảng hoặc đọc sách thực hành thiền thì rơi vào sự luẩn quẩn, tối tăm của tri thức. Vì một số vị thầy chùa giảng nhưng vẫn còn mê mờ về thiền, lại có người qua Ấn Độ đi kiếm mấy ông Bà La Môn giáo rồi viết sách thiền, xong về tung ra thị trường, bán kiếm lợi nhuận nhưng thật sự người dạy, người viết, bản thân chính người dịch cũng không hiểu được nhiều về thiền, càng không hiểu những yếu tố cơ bản và quan trọng liên quan đến thiền.
Trong xã hội, muốn tiêu diệt một dân tộc là tiêu diệt thần khí của dân tộc đó, muốn nâng cao sự đại đoàn kết của dân tộc chính là nâng cao tinh thần đoàn kết của dân tộc đó. Với một chữ thần đi vào ứng dụng trong đời sống xã hôi, kinh tế… Muốn tiêu diệt một gia đình thì làm thần khí của gia đình đó tiêu tan, cho nên không phải tự nhiên mà trong kinh dịch phong thủy nó phương pháp hủy hoại hoặc kích hoạt dòng khí trong gia đình. Nghĩa là cái khí nó dưỡng nuôi cái thần, khi cái khí nó bị đổi chiều làm cho gia đình đó sụp đổ tinh thần liền, mà dẫn tới gia đình đó tan nát. Cho nên một dân tộc muốn tiêu diệt một dân tộc thì tiêu diệt thần khí của nó, còn muốn làm cho một dân tộc đó hùng cường trở lại thì phải nung cái thần khí này trở lại. Con người sụp đổ là khi cái thần đó sụp đổ. Trong lịch sử cũng cho chúng ta thấy, Hịch Tướng Sĩ của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã khiến cho thần khí các chiến sỹ lên cao. Hoặc trong các trận chiến nhằm mục đích bảo vệ tổ quốc thì cái thần khí này được đẩy lên cao tột cùng.
Tuy là một chữ “Thần” thôi, nhưng có thể giảng rộng ra thành các nội dung liên quan đến gia đình, đất nước, kinh tế, chính trị... Với một người khỏe mạnh thì thần khí, tinh thần phải lên cao thì mới có thể làm việc để tạo ra năng suất cao, hiệu quả tốt. Nếu các vị quản lý một công ty mà để cho thần khí của nhân viên đi xuống thì có nghĩa là công ty cũng đi xuống. Còn đất nước mà để cho thần khí của dân tộc đi xuống thì đất nước đó đi vào suy thoái rã bầy, không bao giờ có đoàn kết. Nên người tài là nguyên khí của quốc gia vì cái khí giữ cái thần, những hiền tài họ giữ cái khí của dân tộc, nhờ đó mà hun đúc tinh thần của dân tộc, người tài chính là một điều khủng khiếp. Vì vậy người ta phải thiền định, thiền định để dưỡng nuôi cái thần. Cho nên nhân tài là nguyên khí quốc gia, để hun đúc tinh thần dân tộc. Với chữ thần không nói cả ngày không hết, giảng từ Kinh tế, chính trị, làm sao để phát triển một công ty, làm sao để phát triển một gia đình thịnh vượng, làm sao để phát triển một con người hoàn hảo. Sự giáo dục không phải đơn giản, giáo dục là quốc sách hàng đầu là gì? giáo dục dạy tinh thần, khi nào giáo dục không dạy tinh thần dạy toàn văn hóa đồ trụy, dân tộc đó lần lần đi vào suy thoái và tiêu. Cho nên thượng thần sanh ra từ đâu? Do an trụ trong Kinh luân đại thừa nhất là Văn Hóa Cội nguồn sanh ra. Giáo dục đó dạy con người từ khi còn bé an định vào trong văn chương của đất nước đó, an định vào trong thần khí của dân tộc đó mà đất nước đó trường tồn vĩnh cửu. Nên một giáo dục thất bại dẫn tới một xã hội loạn ly. Giáo dục tại sao lại quốc sách hàng đầu? chính vì an trụ trong kinh luân, có nghĩa là một đứa trẻ sanh ra an trụ trong nền giáo dục đó. Một nhà triết học phương Tây nói rằng: Chỉ cần phá vỡ nền giáo dục Quốc gia đó thì Quốc gia đó tiêu tan, vì khi nền giáo dục đó bị phá vỡ thì phá vỡ Thần khí Thượng thần của nó mà dẫn tới tiêu tan. Do các vị không hiểu nguyên lý của nó. Tôn giáo cũng vậy. Ví dụ Phật giáo Hòa Hảo thì cái tinh cái thượng thần của ông Huỳnh Phú Sổ còn nên nó vẫn còn, cho đến khi nào thượng thần của nó không còn nữa nghĩa là thượng thần của ông Huỳnh Phú Sổ không còn nữa thì sẽ chóng tan giã. Cao Đài cũng vậy, Phật thầy Tây An cũng vậy. Đối với dân tộc Việt Nam, khi nào Quốc Tổ không còn nữa, hủy Quốc Tổ thì cái thượng thần của đất nước Việt Nam mới hết. Nhưng điều đó không bao giờ xảy ra vì đó là đi ngược ý Trời. Ngàn năm đô hộ giặc Tàu đền thờ Hùng Vương vẫn còn sừng sững, 30 năm bom đạn chiến tranh khói lửa đền thờ Hùng Vương vẫn còn sừng sững. Vì dân tộc Việt Nam trong hai ngàn năm chiến tranh liên miên đất Việt Nam vẫn còn, tinh thần người Việt vẫn còn, chỉ khi nào đất nước lâm nguy thì tinh thần Con Rồng Cháu Tiên quật khởi, đó là do cái thượng thần của dân tộc vẫn còn. Những ai muốn âm mưu mà hủy đi Quốc Tổ là đi ngược ý Trời, thì bị Trời diệt trước mắt còn đâu nữa mà sống.
Trong thiền định, thì con người cần dùng cái khí để dưỡng nuôi cái thần. Cho nên để hiểu hết về thần khí trong thiền định của Thầy không phải đơn giản như các vị nghĩ. Thượng thần tiêu hao rất chậm, mà trung thần thì tiêu hao chậm hơn và hạ thần thì tiêu hao nhanh chóng.
Khí là thành phần quan trọng của sự sống cơ thể con người. Khí dưỡng nuôi cái thần, cái thần nó điều khiển cái khí, cho nên bữa nào các vị thấy tinh thần mình thoải mái các vị ngồi dẫn khí sẽ thấy khí nó chạy te te te te, bữa nào cái thần của các vị nó yếu thì ngồi hít khí sẽ cảm thấy nó đi rất chậm hơn, bữa nào tinh thần các vị lên cao các vị dẫn khí trong cơ thể mình thì khí nó chạy vèo vèo.
Cái khí là để dưỡng nuôi cái thần, nó ở tầng dưới nên nó dưỡng nuôi tầng trên nhưng mà cái ở trên nó điều khiển cái ở dưới, cũng giống như cấu trúc của Nhà Nước mình vậy: Trung ương điều khiển xuyên suốt từ trung ương đến địa phương, nhưng nuôi dưỡng trung ương chính là từ địa phương trở tới trung ương. Như Hiến Pháp và Luật Pháp của Nhà Nước Văn Lang ngày xưa rất hay như vậy, nhưng các vị đọc Long Hoa Mật tạng, đọc Long Hoa Luật Tạng nhưng không hiểu gì,. Có nghĩa giống như cái đầu mình điều khiển tay chân mọi thứ, nhưng mà để nuôi cái đầu là do miệng mình ăn vô, do hoạt động của cơ thể. Cái não của mình điều khiển tay, chân, mắt, mũi… khắp cùng nhưng để nuôi cái não này là do miệng nó ăn, mũi nó hít, rồi tay chân nó hoạt động thể dục thể thao.
Vậy Cấu trúc của một Nhà Nước: Nước Mỹ, nước Việt Nam hay nước nào cũng vậy, trung ương là điểu khiển từ trên xuống dưới, trung ương luôn ở trên, địa phương luôn ở dưới, nhưng nuôi dưỡng trung ương là từ dưới nuôi lên cho nên dân chính là gốc, hễ ai đốn cái gốc của dân thì nhà nước sụp đổ vì không nuôi cái não, giống như khâu miệng, khâu mũi là não tiêu. Vì vậy lời Quốc Tổ nói: Lấy dân làm gốc không phải tự nhiên lấy dân làm gốc. Vì dân nuôi Nhà nước giống như con người, cái miệng ăn thức ăn nuôi não, mũi hít khí thở để nuôi não nhưng não điều khiển miệng, mũi… Vì vậy, Cấu trúc thượng tầng của xã hội nó cũng vậy nên các vị thường học hoài mà không hiểu gì. Khoa học rõ ràng trước mắt mà mình đi ngược với khoa học để làm gì? Cho nên hễ Nhà nước mà vứt bỏ nhân dân thì Nhà nước sớm lụi tàn, tiêu tan, vì dân nuôi Nhà nước. Nhiều khi một số vị lãnh đạo có quyền lực trong tay nhưng còn thiếu trí tuệ và vô minh nên cho mình là bá quyền, chèn ép bóc lột dân chúng, hành dân khắp cùng ảnh hưởng xấu đến sự phát triển kinh tế, xã hội và đất nước. Có nghĩa não này điều khiển tất nhưng tay chân hoạt động thì não mới phát triển.
KHÍ cũng được chia ra làm 3 loại đó là: Thượng Khí, Trung Khí và Hạ Khí.

Ha2: Sơ đồ Khí trong Sơ thiền
Thượng Khí được sinh ra là do Thiền, luyện Yoga, dưỡng sinh, dưỡng chất… Định sinh ra Thần, Khí dưỡng nuôi Thần. Khi con người thiền tưởng khí chạy vô chạy ra là nuôi dưỡng cái khí. Vì vậy mới có thiền định. Thiền định nằm ở giữa Định và Thiền. Luyện Yoga làm cho khí huyết nó lưu thông. Máu huyết là chất lỏng nuôi thể khí, nó dưỡng cái khí cho nên khí huyết lưu thông. Nên luyện yoga, tập dưỡng sinh hoặc là các dưỡng chất mình ăn vào nó cũng dưỡng cái khí của mình. Ví dụ ăn chất bổ ở Thượng, uống vitamin hàng ngày là dưỡng khí, dưỡng chất. Xã hội khoa học phát triển chế tạo ra các loại thuốc vitamin hoặc thực vật có dưỡng khí, dưỡng chất trong đó. Thiền, Yoga, dưỡng sinh, dưỡng chất thì nó sinh ra Thượng khí.
Trung khí được sinh ra là do con người tập luyện võ thuật, thể dục thể thao, dưỡng sinh. Trung khí tiêu hao nhanh hơn Thượng Khí và tiêu hao chậm hơn Hạ Khí. Hay nói cách khác Thượng Khí thì tiêu hao rất chậm, Trung Khí tiêu hao chậm, còn Hạ Khí thì tiêu hao nhanh chóng. Các vị cứ học từ từ, Thầy sẽ giảng rõ hơn vấn đề này ở khoá 5.
Hạ Khí là do con người hít thở tự nhiên tạo nên dưỡng khí của mình. Cho nên, muốn cho cơ thể khoẻ mạnh thì hít hơi thật sâu vô cho tới bụng, tới rốn của mình thì dưỡng khí nó mới cao, rồi thở ra nhẹ nhàng, từ từ. Còn mình hít khí bình thường thì khí đó tập trung chủ yếu ở phổi, gọi là khí ở hạ, nên nhanh chóng tiêu hao. Cũng y như vậy, thượng khí tiêu hao rất chậm, Trung khí tiêu hao chậm hơn còn Hạ khí tiêu hao nhanh chóng. Ví dụ: Các vị hít khí vô, thở mạnh trở ra, có nghĩa khí của mình nuôi dưỡng chất, tiêu hao nhanh, nhưng hít chậm chậm vô tới Đan Điền rồi thở ra thì con người đó dưỡng Trung khí cao hơn hay Thượng khí cao hơn. Nên đó là khí vận.
Tinh được chia làm 3 loại: Thượng Tinh (tiêu hao rất chậm), Trung Tinh (tiêu hao chậm hơn) và Hạ Tinh (tiêu hao nhanh chóng).

Ha3: Sơ đồ Tinh trong Sơ thiền
Tinh có được là do con người ăn uống thức ăn bao gồm cả động vật và thực vật. Trong thức ăn dù cho là động vật hay thực vật cũng đều có ở cấp thượng, trung, hạ. Nếu các vị ăn uống động, thực vật ở cấp thượng thì có tinh của Thượng, ăn uống ở cấp thường nó sinh ra tinh ở cấp Trung, ăn uống ở cấp Hạ thì cái tinh nó ít mà dấu hiệu thường thấy là đi tiểu, đi ngoài nhiều. Khi ăn uống thực phẩm vào cơ thể, đa số chúng sẽ được chuyển hoá thành tinh hoa của vật chất, gọi là tinh hoa của ăn uống. Ăn chay hay ăn mặn là gì? Ăn mặn là ác không trúng. Cho nên khi mình ăn uống động vật hay thực vật ở cấp thượng mình có tinh thượng, ăn uống động thực vật ở cấp thường thì mình có tinh ở cấp trung, ăn uống động vật ở cấp hạ thì cái tinh của động thực vật nó ít. Ví dụ: Các vị nằm bệnh viện, y bác sĩ thường tiêm cho các vị một bình dung dịch truyền vào tĩnh mạch, thì đó chính là thực phẩm ở cấp thượng, nghĩa là đồ ăn đồ uống cấp thượng lâu lâu các vị mới đi ngoài nhưng mà cái bụng mình nó vẫn no, vẫn bổ sung được nhiều chất dinh dưỡng cho cơ thể. Hoặc là bữa nào các vị húp nhiều nước canh, canh rau ngót chẳng hạn, thì các vị chỉ đi tiểu thôi để xả cái nước đó ra, chứ các vị không có đi ngoài. Tại vì cái tinh của vật chất khi mình nấu là nó biến vào trong nước nên nói nhất nước nhì cái, chứ không phải như các vị thường nghe người ta nói câu “khôn ăn cái, dại ăn nước” là đúng đâu. Tất nhiên, phương pháp, thời gian chế biến, nhiệt độ, sự tương tác giữa các loại thực phẩm nấu chung… đều ảnh hưởng đến chất lượng, cái tinh chất của nó. Khi các vị uống thuốc bắc cũng vậy, các vị đi sắc thuốc đó thành chén nước rồi các vị uống vô, mặc dù các vị không đi ngoài nhiều, nhưng nó vẫn có tác dụng chữa bệnh. Còn hễ các vị ăn cái xác đó vô thì nó sẽ được thải đi ra ngoài.
Do đó muốn phân biệt được đồ ăn ở cấp thượng, đồ ăn ở cấp trung, đồ ăn ở cấp hạ đó chính là đi vào khoa học trong đời sống. Ngày nay nhiều vị thầy giảng giải về ăn chay, ăn mặn nhưng không đúng lắm. Các vị không bao giờ hiểu ăn chay ăn mặn là như thế nào? Để buổi khác thầy giảng tại sao phải ăn chay? Tại sao phải ăn mặn? Cho nên nếu hiểu cái này, thì con người chắc chắn sẽ giảm đi bệnh tật. Nhưng ở thời mạt pháp, ở thời mạc khí này, không khí mà con người mình hít vô, nó là không khí ô nhiễm, bao gồm cả khí thải của công nghiệp. Không khí bị hủy hoại bằng khí thải khoa học công nghệ, cho nên nó mới gọi là trược khí. Nói về bệnh tật thì do nhiều yếu tố tác động, thói quen xấu của con người, tất nhiên trong đó có nguyên nhân là do môi trường tác động mà sinh ra bệnh tật như nào là phóng xạ, nào là nước thải của công nghiệp thải ra các con sông lớn, khiến ô nhiễm mạch nước ngầm, rồi khí thải công nghiệp xả vào không khí, đủ thứ trên đời gây nên ô nhiễm môi trường. Các vị cứ thử nghĩ mà xem, một con cá khỏe mạnh mà sống trong môi trường dơ bẩn thì nó cũng sinh ra yếu ớt, bệnh tật. Rồi lâu lâu các vị lại nghe ti vi nói đến hiện tượng cá chết hàng loạt ở các cửa biển hoặc bờ biển, đó đều là do môi trường nước biển bị ô nhiễm nặng nề. Xã hội thời mạt pháp thì ngoài bệnh tật do chính mình gây ra, còn có những bệnh tật do môi trường sống gây ra nữa. Thầy nói cái gì cũng phải rõ ràng, khoa học và thực tế chứ không nên đánh đồng mọi thứ với nhau.
Cho nên tinh cũng vậy, cái tinh ở thượng thì nó tiêu hao rất chậm, mà tinh ở trung thì nó tiêu hao chậm hơn nhưng mà cái tinh ở cấp hạ nó tiêu hao nhanh hơn. Nếu chưa tin, bữa nào đó, các vị ăn thử ăn thịt chó xem nó tiêu hao như thế nào. Thịt chó giàu chất đạm, có tính nhiệt, lại tiêu hao nhanh nên người mà đủ đạm lại ăn nhiều thịt chó sẽ khiến cho cơ thể không thể chuyển hoá hết được, cuối cùng nó tiêu hao không được nó dính vô trong người, rồi sinh ra thừa đạm, quá đạm khiến gan, thận làm việc không đáp ứng được mà sinh ra bệnh tật. Những anh mà ăn thịt chó thì không có thần khí gì hết vì nó chỉ bổ xung cái tinh mà thôi.
Các vị cũng chưa bao giờ hiểu được, vì sao tu thiền định là một phương pháp đạt đến Tinh Khí Thần ở cấp thượng thừa, vì Tinh Khí Thần này sinh ra tuệ, cho nên nó gọi là Định Tuệ Tâm. Có nghĩa là định sinh ra thần lực, mà nhờ cái thần lực đó mới sinh ra tuệ giác của con người, có nghĩa là chính thần lực tạo ra nhiều liên kết nối con người với linh giác vũ trụ. Linh Giác Vũ Trụ này nó thấy nghe hay biết muôn vạn triệu ức năm, nó đo lường phản tỉnh vô cùng vi diệu, nên dẫn tới cái gì nó cũng biết, khiến cho khi con người mà phát sanh trí tuệ rồi thì trở nên không học mà vẫn biết. Do đó, không phải tự nhiên mà có chữ “Định - Tuệ - Tâm” đâu. Định sinh ra thượng thần, thượng thần này giúp con người phát quang được tuệ giác của mình. Khi cái tuệ nó phát, thì nó tạo ra cái ý, mà cái ý cũng là cái tâm, ý sinh tâm, tâm sinh ý. Vì cái ý được sinh ra cho nên con người sẽ hành đạo mà dẫn đến thuần thục cái giác tánh đó. Nghĩa là những người định trong tánh giác của mình, người đó sẽ hiểu được cái tánh giác đó đến tận cùng. Từ cái tuệ giác này khi hiểu đến tận cùng thì khởi lên tâm đạo mà hành đạo, rồi lần lần tiến tới làm chủ cái giác tánh của nó. Ba chữ Định Tuệ Tâm được ra đời và ý nghĩa của nó là như vậy. Cho nên những người đạt đến Định Tuệ Tâm là những con người bắt đầu dần dần làm chủ cái giác tánh của mình. Thầy thấy, các vị chưa bao giờ hiểu mà đạt đến Định Tuệ Tâm là cái gì đâu. Đạt đến Định Tuệ Tâm là có nghĩa là bắt đầu làm chủ cái giác tánh của mình. Các vị xem lại sơ đồ cấu trúc mà Thầy đã giảng làm sao để làm chủ một cái giác tánh đà la ni sẽ hiểu rõ hơn, chứ không phải đơn giản như các vị nghĩ.
ĂN - UỐNG BỔ SUNG TINH - KHÍ - THẦN
Tiếp theo, người tu thiền luyện khí thì cần phải hiểu rõ làm sao để ăn uống mà bổ sung tinh, khí, thần.

H.8a Sơ đồ Ăn - Uống bổ sung Tinh Khí Thần
Giống như thực vật thì thượng của thực vật nó sẽ có hạ thần rất ít, mà hạ khí thì trung bình, mà thượng tinh thì nhiều. Phải phân định được, phải hiểu được dưỡng chất cái thực vật mình ăn chứ không phải mình muốn ăn cái gì thì ăn, không phải. Muốn ăn cái gì là ăn, mà không có trí tuệ thì gọi là ăn tạp, muốn uống cái gì là uống mà thiếu trí tuệ gọi là uống tạp, đó gọi là trở về tánh của con người vô minh. Do vậy, hễ con người muốn ăn uống để đạt tới cấp trung, cấp thượng thì phải hiểu rõ được nó. Ví dụ như ăn chay, nó bổ sung cái gì? Ở cấp trung thì hạ thần rất ít nhưng mà hạ khí thì trung bình, thượng tinh trung bình và trung tinh thì nhiều. Còn ở hạ thực vật thì hầu như không có cái thần khí nào. Ở thực vật thì cái hạ thần nó hầu như không có, vô cùng ít, mà hạ khí thì rất ít, mà thượng tinh cũng rất ít, trung tinh thì trung bình, mà hạ tinh thì nhiều.
Còn ăn động vật ở cấp hạ cũng vậy: hạ thần, hạ khí hầu như không có, thượng tinh: rất ít, trung tinh: ít, hạ tinh: trung bình. Có nghĩa là động thực vật nó đều bổ sung dinh dưỡng gần gần như nhau. Vậy tại sao ăn chay lại tốt mà ăn mặn lại không tốt thì hôm sau Thầy sẽ giảng.
Cho nên không phải tự nhiên mà có ăn chay hay ăn mặn. Ăn chay không phải ăn kham khổ đâu. Ăn kham khổ thì nó không bổ sung cái gì hết, ăn kham khổ là tu khổ hạnh có nghĩa là xem như xác thân này là không cần thiết và chỉ có về Trời thôi, chứ không phải ăn chay là ăn kham khổ đâu. Các vị cũng không hiểu rõ là tại sao ăn chay nó lại tốt cho tu hành, ăn mặn lại ít tốt cho tu hành? Tại vì con người đang trên con đường tiến hóa. Để Thầy nói ví dụ này, các vị sẽ dễ hiểu hơn ăn chay, ăn mặn. Ví dụ như các vị đi leo núi, bữa nào leo núi Phan Xi Păng ở Việt Nam thử đi, các vị mang trên vai 50kg các vị leo thử xem thế nào, rồi các vị mang một đôi giày thôi, trên người không có gì hết, các vị đi thử thế nào. Nếu như trên vai các vị mang nặng thì các vị đi rất chậm, mà các vị mang nhẹ hành trang thì các vị đi rất là nhanh. Qua ví dụ này cho thấy: chính các vị là những người đang leo núi, đang tiến hóa linh hồn, chứ các vị không phải đà la ni gì đâu. Cho nên ăn chay nó tốt cho tu hành là ở chỗ đó, ăn mặn nó không tốt cho tu hành là ở chỗ đó. Mà các vị không bao giờ hiểu, rồi tự nhiên phân biệt và cãi lộn khắp cùng, nói về ăn chay ăn mặn mà không hiểu gì. Cho nên ăn chay nó có lợi gì thì nhìn cái ví dụ đó mà hiểu, ăn mặn nó có lợi gì thì nhìn cái ví dụ đó mà hiểu chứ cần gì phải cãi nhau chi. Chưa chắc mình ăn chay lại hơn người ăn mặn là tại vì sao? ví dụ như người ăn mặn mà là một lực sĩ thì họ mang 20kg họ đi lên núi như không, còn mình đi bộ không mang gì mà còn đi không nỗi, đi không lại với họ. Nếu các vị đem cái ăn chay, ăn mặn để so sánh cái sự tu đạo của mình là hơn người này hay hơn người kia thì đó là một điều quá sai lầm. Vì sao Thầy nói vậy? Thầy giả sử như một anh lực sĩ ảnh cầm 20kg ảnh leo núi dễ lắm, nhưng mà cái anh mà ốm yếu, trời ơi cầm cái đôi dép không mà leo núi cũng không nổi. Còn nếu mà cái anh ốm yếu đó mà mang thêm 20kg nữa thì nằm chèm bẹp luôn, chứ khỏi đi luôn, khỏi tu hành gì hết. Cho nên phải hiểu được cái ưu điểm của ăn chay và ăn mặn, và phân định được ai nên ăn chay, ai nên ăn mặn. Ăn chay, ăn mặn không phải là mình tu đạo, thành đạo cao hơn người kia, không phải. Giống như Đức Huỳnh Phú Sổ ổng ăn chay có mấy ngày, mà các hàng đệ tử của ổng ăn chay trường đó có ông nào hơn ổng, rõ ràng như ban ngày. Cho nên mình ăn chay rồi tự cho rằng mình hơn anh kia là không phải đâu. Các vị cứ suy nghĩ kỹ về hai ví dụ Thầy vừa nói đi, một là về những người leo núi, hai là về Đức Huỳnh Phú Sổ và các đệ tử của ổng, có đệ tử nào ăn chay trường mà so sánh được với trí tuệ của ổng không? Hễ các vị chấp pháp trong ăn chay, ăn mặn thì đó là cái trí của phàm phu tục tử, cái trí của sở nghiệp, không biết ác, thiện gì, không biết công dụng gì, gọi là trí mù. Cho nên ăn mặn cũng vậy, ăn mặn ở động vật cấp thấp, giống như các vị ăn thịt chó bữa nào đi thì các vị không có cái tinh thần gì đâu, mà chỉ có béo chất lên thôi. Mà những vị tu như Thầy, Thầy nhìn những người ăn thịt chó Thầy biết liền, cái thần khí của họ nó u ám. Ăn uống rất quan trọng.

H.8b Sơ đồ Ăn - Uống bổ sung Tinh Khí Thần
Quốc Tổ ngày xưa Ngài tu thiền ở Vườn Cấm nước Xích Quỷ, các vị đọc Long Hoa Mật Tạng sẽ hiểu cách thức của tinh, khí, thần của ổng. Các vị phải biết rằng giữa ăn và uống là một điều rất là khoa học trong thiền môn, chứ không phải là tu thiền mà không hiểu gì về ăn uống. Ăn uống rất là quan trọng trong thiền môn. Nói đến nước uống cũng vậy, nước ở thượng thì hạ thần nó ở trung bình chứ không phải ít đâu, cho nên nước uống nó quan trọng lắm. Các vị hãy để ý lúc mình ăn cơm mà mình có uống nước canh thì mình thấy tinh thần nó khoẻ lắm. Hay những lúc mình đi mệt, mình lấy một bát nước mình uống, các vị sẽ thấy tinh thần mình nó lên cao liền. Như Thầy chẳng hạn, Thầy đi làm về mệt, Thầy uống 1 ly nước cam là Thầy thấy tỉnh liền, nước nó hay vậy đó. Những anh uống cà phê, cũng giúp cho họ tỉnh táo hơn. Mặc dù cà phê chỉ ở cấp trung, chứ không phải ở cấp thượng. Thầy lấy ví dụ khác: những con người mà thiếu vitamin, lấy vitamin bỏ vào nước rồi khuấy khuấy cho nó tan, rồi uống vào cái tỉnh liền, người có thần khí liền, Loại nước này gọi là nước ở cấp thượng, cái hạ thần nó ở cấp trung bình, hạ khí nó rất là nhiều. Nước nó dưỡng khí lớn lắm, cho nên hạ khí nó nhiều lắm, mà thượng tinh của nước nó cũng nhiều. Do đó mình uống nước là nó điều hòa máu huyết của mình, máu huyết của mình chính là thượng tinh. Làn da của mình hàng ngày nó rớt liên tục gọi là các tế bào chết trên da, nên các vị không bao giờ biết, cái da của mình chính là hạ tinh, nó rớt liên tục nên để duy trì được làn da tốt. Phụ nữ họ thường dùng mỹ phẩm để dưỡng da. Còn các cơ bắp của mình chính là trung tinh. Cho nên các vị không phân định được trong con người của mình gì hết. Nước là thành phần rất quan trọng với cơ thể con người. Nước ở cấp trung thì hạ thần nó ít, hạ khí nó trung bình mà thượng tinh nó nhiều. Đối với nước ở cấp hạ thì, hạ thần nó rất ít, hạ khí nó cũng ít, mà thượng tinh thì nó trung bình, mà trung tinh thì nó ít.
Cho nên để hiểu được cơ thể con người và ứng dụng vào khoa học đời sống không phải dễ, không giống như các vị thường nghĩ. Đối với người tu thiền luyện khí thì bước đầu tiên cần phải hiểu về TINH - KHÍ - THẦN và ĂN - UỐNG. Phải hiểu rõ nó, rồi sau đó mới qua kinh dịch. Kỳ tới các vị sẽ hiểu rõ chu kỳ biến đổi trong thiền môn. Sau khi các vị hiểu rõ chu kỳ của thiền môn, thì các vị sẽ chính thức đi vào thiền môn, Thầy sẽ chỉ cho các vị tu thiền như thế nào để đạt được hiệu quả. Trong tu thiền có một cái huyệt (hay còn gọi là luân xa cũng được) hết sức quan trọng, là ở dưới Đan Điền của mình. Đan Điền là nơi tập trung nhiều khí lực nhất hay có thể coi nó là bể khí của cơ thể. Nó mang tính âm, mềm, rỗng, mà âm có đặc tính là dưỡng nuôi, duy trì, bao bọc cho nên nhị xác thân con người nó hình thành từ đan điền. Thai nhi nó cũng nằm trong người phụ nữ và ở nơi bụng , chứ không thể nằm trong người đàn ông. Vì người phụ nữ là âm cho nên nó mới dưỡng nuôi được. Nguyên tắc hình thành của thai nhi là từ một trứng được thụ tinh đó mà tập hợp các tế bào sẽ không ngừng phân chia và bám chắc vào dạ con, nó phân đôi, phân đôi… cứ 30 phút nó phân đôi một lần, nó cứ phân đôi miết cho đến khi hình thành con người. Nó cũng giống như là thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái… như trong kinh dịch tồn tại trong vũ trụ không khác gì. Cho nên sinh sản vô tính hay sinh sản hữu tính đều giống nhau, đều sử dụng sự phân chia, một hình tròn rồi phân chia thành đôi, rồi phân chia thành bốn, phân chia miết, phân chia như vậy cho tới khi nào nó thành 8 muôn 4 ngàn cái chủng bào chính như vậy. Đạt tới 8 muôn 4 ngàn cái chủng bào chính nghĩa là hình thành nên con người.

H9. Sơ đồ Chu kỳ kết tinh giờ, ngày, tháng, năm.
Người tu thiền luyện khí cần phải hiểu rõ chu kỳ kết tinh của thể đặc, thể lỏng, thể khí thì mới tu thiền luyện khí đạt kết quả cao. Trong cơ thể con người thì thể đặc chính là thể tinh, mà thể lỏng (máu huyết) chính là thượng tinh, mà thể khí chính là khí. Ba thể này dưỡng nuôi thần lực, mà ba thể này mới hình thành nên nhị xác thân con người. Do vậy thần khí chính là cái kết nối giữa tâm linh và sắc giới. Người tu cũng cần phải hiểu: ngày là dương, đêm là âm, giờ Ngọ (11h - 13h) là giờ trung dương kết dịch, mà giờ Tý (23h - 1h) là giờ trung âm, nó kết dịch. Nếu các vị tu thiền luyện khí mà thấy cơ thể nóng nhiều, nghĩa là thời gian các vị luyện bên dương nhiều quá. Trong cơ thể con người nó có âm có dương. Cho nên nhiều người vì thiếu hiểu biết mà cứ luyện dương miết rồi bỏ âm, rồi có người luyện âm miết rồi bỏ dương, hoặc chỉ thiền vào một giờ duy nhất trong ngày, nên dẫn tới cơ thể nhiều thay đổi mà họ không hiểu gì hết trơn. Còn giờ Mẹo (5h-7h), giờ Dậu (17h-19h) là giờ chuyển giao. Trong một ngày có 4 canh giờ quan trọng cho thiền định đó là Tý - Ngọ - Mẹo (Mão) - Dậu, giờ Mẹo chính là giờ chuyển từ âm sang dương, mà giờ dậu là chuyển từ dương sang âm. Cho nên giờ đó gọi là giờ chuyển giao. Nếu như các vị luyện thiền định mà thấy cơ thể của các vị luôn xảy ra hiện tượng, lúc thì nóng lúc thì lạnh có nghĩa là khi đến các giờ Mẹo, giờ Dậu các vị phải luyện khí để chuyển giao giữa âm với dương để điều hòa âm dương lại. Nhiều người tu thiền lúc thì nóng, lúc thì lạnh mà không biết làm sao để giải quyết vấn đề.
Trong thiền môn, có 2 chỗ rất quan trọng mà người tu cần hiểu rõ, đó là Đan Điền (Thầy đã nói ở trên) và chỗ đỉnh đầu, ngay vị trí huyệt Bách Hội. Trong Bà La Môn giáo, họ gọi chỗ đó là luân xa cuối cùng, luân xa số 7. Huyệt Bách Hội ở đỉnh đầu là nơi phát quang trí tuệ, còn có tác dụng kết nối liên thông vũ trụ, làm cho não bộ con người kết nối với vũ trụ. Có nghĩa là khi các vị ĐỊNH - TUỆ, thì là cái tuệ này nó sẽ mở rộng ra, liên quan đến vị trí trên đỉnh đầu. Do đó, để người hạ căn chuyển thành trung căn, thượng căn, và người ngu dốt chuyển thành người học giỏi, đều là do đỉnh đầu này quyết định. Đỉnh đầu là đỉnh của đường kinh Dương (Mạch Đốc), nên nó mới có thể kết nối. Cõi Trời Thượng Thiên giới là cõi Trời kết nối với Linh Giác Vũ Trụ, để hội nhập Cội Nguồn. Vì vậy, đỉnh đầu được khai mở thì con người sẽ ngộ được tuệ của mình, đỉnh đầu này là đỉnh kết nối.
Còn ở nơi Đan Điền chính là nơi dưỡng nuôi. Do đó, người nào muốn khỏe mạnh, cơ thể không bệnh tật thì luyện khí vào Đan Điền để Đan Điền này dưỡng nuôi khí chất của mình. Còn người nào muốn nhớ dai, thông minh, trí tuệ thì hãy chuyển khí lên đỉnh đầu. Muốn chuyển từ ngu dốt, học đâu quên đó, học dở quá để chuyển thành người giỏi nhất lớp cũng từ cái đỉnh đầu này sinh ra. Người hạ căn thường học mười biết một, rồi học một đường hiểu một nẻo, thì cần phải ngồi tĩnh tâm hoặc thiền định cho cái đỉnh đầu này nó thay đổi, trí tuệ sáng lần ra. Đa số các huyệt đạo trên cơ thể con người đều ứng theo Kinh Dịch. Trong Bà La Môn giáo, họ gọi một số huyệt đạo quan trọng là các luân xa. Ngày nay họ vẽ các đồ ảnh về luân xa khiến cho con người cảm thấy hấp dẫn hơn, chứ không có nghĩa gì. Các luân xa này nó ứng với các nơi trong vũ trụ. Cho nên các vị hiểu rằng con người là Tiểu Thiên vũ trụ thì nó sẽ tương ứng với Đại Thiên vũ trụ. Hễ Đại Thiên vũ trụ có gì thì con người mình có nấy. Thầy lấy ví dụ về trái tim con người, các vị thấy nó bình đẳng không, mỗi lần trái tim đập là nó lại vận chuyển dưỡng khí và máu huyết đến mọi tế bào, mọi cơ quan khác nhau trong cơ thể. Nó không có phân biệt chỗ nào mà luôn độc lập và bình đẳng. Trong một số sách thiền ngày nay, họ nói luân xa 4, liên quan đến tim mạch, cảm xúc, thấu cảm, và yêu thương. Trái tim luôn bình đẳng, vì bình đẳng, không phân biệt nên khi tu thiền được khai mở huyệt đạo (luân xa) này nghĩa là khai mở cái tánh yêu thương, bình đẳng của con người, chứ có gì lạ đâu. Rất nhiều người nói khắp cùng, nào là khai mở luân xa, đóng luân xa, năng lượng vũ trụ, năng lượng tình thương, tập trung thiền, thiền chuyển động, thiền siêu việt... Họ nói khắp cùng, làm cho con người đi vào sắc giới rồi mua các loại sách, đọc miết rồi tưởng mình hiểu biết cao siêu nhưng thực chất người đọc chẳng hiểu được gì về cơ bản của thiền. Họ chạy theo kiến thức lẫn lộn, hỗn độn nhưng không hiểu nổi cơ thể của chính mình. Các vị hãy tự suy ngẫm xem: con người có lục phủ ngũ tạng, lục phủ chia ra âm - dương, ngũ tạng cũng chia ra âm - dương, ngũ tạng của con người cũng có các bộ phận, các đặc tính như ngũ hành trong vật chất (kim - mộc - thuỷ - hoả - thổ) nghĩa là có tương sinh hỗ trợ lẫn nhau và có tương khắc kiềm chế lẫn nhau… Do đó hiểu được cơ thể của con người, hiểu được quy luật của tự nhiên chính là những kiến thức nền tảng cơ bản vững chắc của của thiền định.
Vậy khai mở luân xa là khai mở cái gì? Khai mở huyệt đạo là gì? Khai mở luân xa hay khai mở huyệt đạo như nhau. Trên cơ thể con người, phần Âm theo mạch Nhâm đi xuống, phân Dương theo mạch Đốc đi lên. Các đường kinh mạch và lạc mạch nằm dưới da, trên đó có các điểm hội tụ đặc biệt gọi là các huyệt. Các huyệt giao hội các đường kinh mạch gọi là Đại Huyệt, đó cũng chính là các luân xa. Nói cách khác, tại mỗi vị trí giao điểm hay góc khuất, lõm nhẹ dưới da là một huyệt đạo lớn (một luân xa). Trước con người có 7 cái huyệt đạo chính của đường kinh âm gọi là luân xa âm, ví dụ: mỗi góc khuất là một huyệt đạo: lỗ mũi, yết hầu, cổ, dưới rốn, đan điền… qua bên kia tương thông như vậy cũng có 7 huyệt đạo chính của đường kinh dương gọi là luân xa dương. Ví dụ các huyệt đạo chính: đỉnh đầu là huyệt Bách Hội (luân xa 7), giữa hai đầu lông mày là huyệt Ấn Đường (luân xa 6), Đan Điền, Thiên Đột, Đản Trung, Thần Khuyết, Đại Chuỳ, Thần Đạo, Mệnh Môn… Hoặc ngay chỗ cái cổ tương thông với cái ót (gáy) của mình, rồi từ cái quai hàm xiên lên 45°, nên cái huyệt âm phía trước này và cái luân xa phía sau này nó chếch lên gần 45°. Con người vì không hiểu cơ thể của mình rồi tưởng lung tung, tìm kiếm đủ thứ. Các vị nên nhớ con người như thế nào thì vũ trụ nó như thế nấy không khác gì.
Mọi cái luân xa này nó đều tương quan tới cái não bộ của mình. Ví dụ như các vị điểm huyệt ngay chỗ này trên bàn tay là các vị thấy nó điều khiển về tim mạch không? Tại vì các huyệt đạo này chính là con của bộ não. Giống như hễ bắt đứa con thì coi như điều khiển được người mẹ. Vì thế các huyệt đạo này chính là con của các bộ phận mẹ, cho nên hễ chỉ cần làm chủ các huyệt đạo này là làm chủ mẹ nó. Các vị không bao giờ hiểu được, với người phụ nữ, hễ bắt con là điều khiển được người Mẹ. Vì thế nên bấm huyệt chữa bệnh cũng chính là tác động tới những bộ phận bị đau trên cơ thể con người. Những huyệt đạo này nó cũng điều khiển não bộ. Não bộ điều khiển các cơ quan lục phủ ngũ tạng của con người. Bán cầu bên phải (não bên phải) điều khiển phần cơ thể bên trái, bán cầu bên trái điều khiển phần cơ thể bên phải để cho âm dương hòa hợp. Thường tay, chân bên trái nó chậm chạp hơn do phần não bên phải nó điều khiển phần cơ thể bên trái?
5. NHỮNG LƯU Ý TRONG THIỀN, ĐỊNH
Tu Thiền buổi học tiếp theo thầy sẽ giảng. Tu thiền trong Cội nguồn rất khoa học, các vị kiên nhẫn đợi, học từ từ. Đây mới có Thiền, đi tới Thiền Định, Đại Định Như Lai. Các vị tu Thiền để làm gì? tu Thiền Định để làm gì? tu Đại Định để làm gì? các vị không biết. Tu Thiền Định đạt giác ngộ ở vô biên… từ từ thầy sẽ khai mở hết cho kinh nghiệm của thầy hơn 30 năm. Để hiểu ngày giờ phân định như thế nào? trước khi các vị muốn học cái gì phải hiểu quy luật của nó rồi các vị mới vận hành nó được. Tu thiền vài bữa rồi thấy cơ thể sao nó nóng quá, sao nó lạnh quá, không biết được vì sao. Các vị thường hỏi lung tung, rồi các vị hỏi luân xa là gì, rồi huyệt đạo là gì, có nghĩa là các vị hỏi trong sở nghiệp vô cùng. Cho nên tu thiền miết cuối cùng đi vào loạn tâm loạn tánh. Đặc biệt trong tu đại định Như Lai, có hai cái điều tối kỵ chính là:
● Hễ phân biệt chỗ nào sinh ra sở nghiệp chỗ nấy
● Hễ chấp chỗ nào sinh ra vọng tâm chỗ đó.
Nên nó sẽ hủy hết tất cả các cơ nghiệp tu thiền định. Vì vậy các vị phải học thông hết các Kinh Dịch này trước, để các vị tránh đi những trường hợp đó, tránh đi trường hợp phân biệt chỗ nào sinh ra sở nghiệp chỗ nấy, chấp chỗ nào sinh ra vọng tâm chỗ nấy và hủy cơ ngơi thiền định. Các vị phải học hoài những cái quy luật của nó mới làm được. Giống như các vị muốn vận hành chiếc xe thì các vị phải học qua các quy luật lái xe thì các vị mới leo lên cái xe lái được. Trước khi bước vào thiền môn của Thầy thì các vị phải học qua các cái quy luật của nó rồi các vị mới thực hành nó. Ở Việt Nam học lái xe không học gì chỉ cho lái xe lái, không học học lý thuyết bài bản gì, cho người học leo lên xe rồi hướng dẫn thực hành. Người đó vài bữa lái xe ra đường gây tai nạn giao thông. Cho nên Thiền định thì rất nghiêm ngặt. Đức Phật Thích Ca truyền thiền môn cho một mình Ma Ha Ca Diếp, không truyền cho ai vì nó rất là nguy hiểm. Thầy lấy ví dụ về hai vị giáo chủ: Đức Đạt Lai Lạt Ma không thiền định trong khuôn khổ, hay khuôn phép giống như mấy ông Bà La Môn giáo thiền định trong khổ hạnh, mà đi vào trong chữ Định nhiều hơn chữ Thiền, nghĩa là tu Định. Giống như Đức Thầy Tịnh Không cũng tu Định, Định chữ “KHÔNG” đó, Tịnh trong cái chữ “KHÔNG” đó. Còn Đức Đạt Lai Lạt Ma Định trong pháp giới của ổng mà các vị không hiểu được. Thầy nhắc cho các vị hiểu.
Như vậy, hôm nay Thầy mới giảng kỹ tới chữ “THẦN”, còn “KHÍ” và “TINH”, thức ăn, nước uống Thầy giảng qua cho các vị hiểu sơ sơ như vậy thôi, khóa tiếp theo Thầy sẽ giảng kỹ hơn thêm, không thể nào giảng ngay cho hết được. Trong một buổi học, chỉ có một slide, may ra mới giảng hết được, còn hiện tại là lớp học vừa cơ bản vừa một chút nâng cao, nên có thể có vài slide trong một buổi giảng. Còn thiền định Thầy cũng mới giảng cơ bản, sơ sơ, chứ chưa đi đến sâu sắc, vì không có thời gian, các vị từ từ sẽ hiểu. Như Đức Phật Thích Ca giảng cho A Nan Đà và Ma Ha Ca Diếp bốn mươi mấy năm, họ mới hiểu nổi, chứ nói gì đến các hàng đệ tử khác. Còn các vị học đây, các vị giống như biết là trời mưa thì ướt áo, chứ các vị đâu có biết vì sao và như thế nào thì trời mưa. Có những người đọc kinh Văn Hóa Cội Nguồn đến nay ba bốn năm rồi, nhưng có anh nào hiểu được Mật Tạng, hiểu được Hiến Tạng, hiểu được Luật Tạng, hiểu được Thiên Tạng, hiểu được Pháp Tạng đâu, không có anh nào cả, ngay cả những người ở kế bên Quốc Tổ mấy mươi năm cũng không hiểu. Ngài có giảng đâu mà hiểu, cho nên Thầy giảng thì các vị mới biết còn không giảng thì làm sao các vị biết được. Kinh Văn Hoá Cội Nguồn vốn rất cao sâu, thậm thâm, vi diệu nên để hiểu được, các vị cần học từ từ.
Trên đây là một phần nhỏ liên quan tới thiền môn. Thầy giảng cho các vị hiểu cơ bản của xác thân tứ đại con người rồi mới đi đến tập hít thở ra sao và bắt ấn như thế nào, tại sao phải bắt ấn. Còn chi tiết hơn về tu thiền thì buổi học tới Thầy sẽ giảng tiếp. Tu thiền trong Cội Nguồn nó khác, nó đi vào khoa học, cho nên các vị cứ kiên nhẫn đợi, rồi học từ từ. Hôm nay các vị hiểu vậy là quá nhiều mà nhiều quá khiến cho các vị dễ quên. Thầy thấy, các vị học 1 hiểu 1 chứ không hiểu nhiều, cho nên hôm nay Thầy chỉ giảng có bấy nhiêu.
6. TRẢ LỜI CÂU HỎI CỦA HỌC VIÊN
CÂU HỎI SỐ 1:
THẦY NHÂN THẬP TRẢ LỜI:
Các vị phải hiểu “Như Lai” là thường còn mãi mãi, bất sanh bất diệt, bất cấu bất nhiễm, bất tăng bất giảm, đó gọi là Như Lai. Như Lai này chỉ cho Bản Thể Tổ Tiên, Linh Giác Vũ Trụ, nhưng tại sao các vị Phật vẫn sử dụng từ Như Lai, giống như danh hiệu của Đức Quốc tổ là Đức Hư Không Tạng Diệu Không Vô Biên Như Lai; danh hiệu của Phật Dược Sư là Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật/ Như Lai. Các vị nên hiểu rằng do các vị không hiểu ngộ được các đà la ni tạng tánh của nó, nên các vị sanh ra chấp pháp. Ví dụ như vầy các vị có thấy cái tánh vương của vũ trụ không? Giống như Cha Trời có tên là Lạc Long Quân, Ngài nói rằng các con cũng lấy chữ “Vương” vì “Quân” chính là “VƯƠNG”, mà vương chính là chủ. Cha Trời nói rằng: Khi nào các con làm chủ các Như Lai tạng tánh này thì các con sẽ lên ngôi Phật Thánh Tiên Thần Chúa thay thế Cha điều khiển tam thiên đại thiên thế giới.
Hoặc danh hiệu Quang Minh Vương Phật, có nghĩa là gì? “Vương” có nghĩa là vua, “Quang Minh” có nghĩa là bản thể linh giác vũ trụ luôn quang minh. Tánh quang minh của Linh Giác Vũ Trụ đó là một trong các thiên tánh của vũ trụ. Một vị Phật đạt được, làm chủ được tánh quang minh đó thì Ngài sẽ lấy chữ Quang Minh Vương Phật. Các vị có thấy Bản Thể Linh Giác Vũ Trụ vô sanh, vô trụ không? Khi các vị hiểu được tánh vô trụ đó chính là cái tánh của Linh Giác Vũ Trụ, cũng như đứa con nó hiểu được tánh của cha mẹ nó, cho nên cái tánh đó trở thành pháp danh của nó gọi là Vô Trụ Như Lai tổ tổ tổ.
Các vị có thấy tánh vương của Linh Giác Vũ Trụ không? Vì vũ trụ là bá chủ, cho nên bá chủ gọi là vương, là chủ. Vậy những con người mà ngộ được cái tánh vương đó, là cái tánh quảng bá, cái tánh điều khiển và cái tánh làm chủ của nó. Nên chữ “Vương” đi vào chữ không thì mới đúng tánh vương của nó. Có nghĩa là cái tánh của Bản Thể Linh Giác Vũ Trụ đều là tánh vương, hễ người nào làm chủ tánh đó thì gọi là tánh vương. Vương có nghĩa là làm chủ nên khi các vị làm chủ giác tánh đó gọi là vương. Ví dụ như: Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật, có nghĩa là Ngài ngộ ra một cái tánh pháp độ của vũ trụ này, “Dược Sư” không phải là chữa bệnh xác thân cho con người, mà chữa bệnh tâm linh, có nghĩa là cái tánh phổ quang, cái tánh làm chữa lành tất cả các linh căn diệu giác của những tiểu linh hồn để trở về đại linh hồn. Pháp môn của Cha Trời bao trùm rộng khắp vũ trụ. Còn pháp môn của Phật Dược Sư là một dược liệu để chữa lành, là dược liệu để độ tâm linh con người. Ngài ngộ ra được hết cái tánh phổ quang, cái tánh phổ quát của vũ trụ, các phương tiện, các pháp tạng của vũ trụ, ngộ ra được hết các tánh đó nên đặt danh hiệu là Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Những lời nói của Ngài nó trong suốt như Lưu Ly, nó làm sạch hết tất cả các tạng tánh mê, cái tánh này nó không bao giờ mất đi, cái pháp tạng của vũ trụ nó thường còn mãi mãi. Ngài ngộ được tánh đó và làm chủ được cái tánh đó.
Cho nên những vị Phật tổ tổ tổ, tất cả các danh hiệu của họ là một sự tập hợp các giác tánh của Bản Thể Linh Giác Vũ Trụ. Ví dụ như: Đức Hư Không Tạng Diệu Không Vô Biên Như Lai. Có nghĩa Đức Quốc Tổ ngộ được tất cả những mật tạng của vũ trụ, nên cái tên của Ngài nó thành một chuỗi tạng tánh của Linh Giác Vũ Trụ. Hư Không Tạng có nghĩa là tất cả các tạng tánh đều nằm trong Hư Không, mà từ trong tạng tánh Hư Không này sinh ra 8 muôn 4 ngàn tạng tánh của đà-la-ni tánh. Do vậy hiểu từ “Hư Không Tạng” nó cao rộng vô cùng, mà cái Hư Không Tạng này chính là Bản Thể Linh Giác Vũ Trụ, cho nên cái pháp hiệu của Đức Quốc tổ Hùng Vương là như vậy. Pháp hiệu của Ngài chính là mật tạng, là tạng tánh của Tổ Tiên Như Lai. Giống như đứa con nó lấy một phần tánh mà nó được di truyền để đặt tên cho nó, vì nó ngộ được điều đó từ Bản Thể Linh Giác Vũ Trụ. Cho nên Hư Không Tạng, Diệu không có nghĩa là thấu triệt hết tất cả các tánh không của vũ trụ này, chứ không phải đơn giản như một số người nghĩ đâu, cho nên mới gọi là tổng Đà La Ni. Để phân tích và hiểu được hết về danh hiệu Đức Hư Không Tạng Diệu không Vô Biên Như Lai các vị có thể viết thành một quyển sách, vì những danh từ này nó thuộc về Tổ Tiên chứ không phải thuộc về bọt nước, cho nên họ vẫn sử dụng từ Như Lai bình thường. Vậy “Vô Biên” có nghĩa là gì? “Vô Biên” có nghĩa là thấu triệt hết, không còn cái trụ nữa, không còn cái trụ nhưng mà vẫn trụ trong Linh Giác Vũ Trụ này. Như Lai nghĩa là cái tánh tương thông đó, cái tánh Diệu Không đó và cái tánh Vô Biên này nó là Như Lai mãi mãi, nó trường tồn vĩnh viễn theo thời gian, nó bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất nhiễm, bất tăng, bất giảm bất động, nó trường tồn vĩnh viễn. Vậy Quốc Tổ lấy pháp danh này chính là pháp danh của Linh Giác Vũ Trụ, vì Ngài chính là bọt nước thì Cha Trời chính là nước; Linh Giác Vũ Trụ chính là nước và Quốc Tổ là bọt nước nên bọt nước giác ngộ, làm chủ các tạng tánh của Vũ Trụ thì lấy đó để tự đặt pháp danh cho mình. Giống như thầy tên Cao Đức Toàn, cha Thầy họ Cao thì Thầy lấy họ Cao làm họ của Thầy. Nên các pháp hiệu của các vị Phật lớn đều là từ Như Lai tạng tánh ra. Giống như Quan Âm, Phổ Hiền cũng vậy, cái tánh Phổ Hiền của Linh Giác Vũ Trụ, các vị có thấy tánh Phổ Hiền của Linh Giác Vũ Trụ không? Nó hiền hòa vô cùng, nó luôn luôn Phổ Hiền cho muôn loài vạn vật, khi con người ngộ được cái tánh Phổ Hiền của linh giác vũ trụ, làm chủ cái tánh Phổ Hiền của Linh Giác Vũ Trụ liền đặt là Phổ Hiền Như Lai, vì tánh Phổ Hiền này không bao giờ mất, nó trường tồn từ trước khi ổng chưa ngộ đạo cho tới khi ổng thành đạo coi như muôn vạn ức kiếp thì cái tánh Phổ Hiền này nó ở trong Linh Giác Vũ Trụ, nó vẫn y như vậy, nó không bao giờ mất.
Mỗi danh hiệu của một Đức Phật các vị có thể diễn giải ra hàng vạn kinh luân, giống như danh hiệu của Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật các vị cũng có thể diễn ra hàng vạn kinh luân, vì đó là tạng tánh của Như Lai, Bản Thể Tổ Tiên. Các vị thường nhầm lẫn vô cùng, nên các vị chấp mê trong chỗ này. Không phải danh hiệu vị Phật nào cũng được gọi là Như Lai. Như Lai là danh hiệu chỉ dành cho những vị Phật lớn, làm chủ được Như Lai tạng tánh của vũ trụ. Cho nên Thầy nói rằng mỗi đà la ni tánh chính là một tánh của Linh Giác Vũ Trụ.
● 7 Danh hiệu của Đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật:
1. Thiện Danh Xưng Cát Tường Vương Như Lai
2. Bảo Nguyệt Trí Nghiêm Quang Âm Tự Tại Vương Như Lai
3. Kim Sắc Bảo Quang Diệu Hạnh Thành Tựu Như Lai
4. Vô Ưu Tối Thắng Cát Tường Vương Như Lai
5. Pháp Hải Lôi Âm Như Lai
6. Pháp Hải Thắng Huệ Du Hý Thần Thông Như Lai
7. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai
Để giảng hết ý nghĩa này phải giảng mấy buổi cũng không bao giờ hết được, vì nó chính là đà la ni tạng tánh của vũ trụ, mà Ngài kết hợp nhiều đà la ni tạng tánh của vũ trụ, cho nên vị Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật là một vị Phật tổ tổ tổ trong vũ trụ này chứ không phải thường đâu. Ví dụ như: Vô Ưu Tối Thắng Cát Tường Như Lai, cái tánh “Vô Ưu” chính là cái tánh tối ưu nhất của vũ trụ này, cho nên mọi vấn đề đều được giải quyết trong cái tối ưu nhất nhờ Luật Tạng của vũ trụ. Do có vô số các định luật (Luật Tạng) tồn tại trong vũ trụ này mà coi như không ai có thể thoát khỏi lưới Trời. Ví dụ: Định luật nhân duyên, định luật nhân quả, định luật thiện ác, đủ thứ định luật trên đời…, đến nỗi Linh Giác Vũ Trụ luôn đạt đến tối ưu nhất mà không ai tưởng nổi, cho nên người ta gọi là Vô Ưu. Vô Ưu có nghĩa là tối ưu vô cùng, mà cái tánh này nó đạt đến “Tối Thắng” là không có tánh nào hơn tánh này nữa gọi là tánh Vô Ưu. “Cát Tường” là viên mãn hạnh phúc vô cùng, nhờ cái tánh này mà làm cho vũ trụ này đạt tới trật tự vô cùng. Hiểu được các giác tánh này, làm chủ các tánh này nên Ngài lấy pháp danh là Vô Ưu Tối Thắng Cát Tường Như Lai.
Để Thầy giảng hết tất cả những pháp danh trên thì giảng mấy ngày mấy đêm, vậy thì các vị muốn hiểu được các danh xưng của Ngài thì các vị phải hiểu được các đà la ni tạng tánh. Nghĩa là khi nào các vị đến làm chủ một đà la ni tạng tánh thì đều xưng danh hiệu đó. Giống như Liên Hoa Hải Hội Phật Bồ Tát, là vị giáo chủ trong tương lai và Ngài có nhiều pháp danh vô cùng, mà con người không bao giờ hiểu được. “Hải Hội” có nghĩa là cái pháp của Ngài hội tụ nhiều như nước nước biển vậy đó. Ý nói lên vô lượng pháp, lớn vô tận vô biên vậy.
Danh hiệu Pháp Hải Thắng Huệ Du Hý Thần Thông Như Lai, đây chính là một một cái thiên tánh của của Như Lai tạng tánh. Pháp Hải là có nghĩa Pháp Tạng của nó giống như nước đại dương vậy. Nó nhiều khủng khiếp, nó nhiều vô tận, vô biên vậy. “Thắng Huệ” là cái trí huệ, cái pháp độ của Bản Thể Linh Giác Vũ Trụ không anh nào hơn. “Du Hý Thần Thông” có nghĩa là cái pháp này, chính là phép mà phép thì biến, nên cái pháp độ của Ngài nó giống như biến phép thần thông, pháp thuật vô cùng vi diệu mà không có ai hơn được, nó luôn tồn tại, ẩn hiện ở trong Linh Giác Vũ Trụ mãi mãi, trường tồn không bao giờ mất. Cho đến khi hết trái đất này lặp đi, lặp lại thì kiếp sau những con người ngộ tới cái Chân Tánh đó họ cũng sử dụng y cái pháp danh đó.
CÂU HỎI SỐ 2:
THẦY NHÂN THẬP TRẢ LỜI:
Người tẩu hỏa nhập ma có nghĩa là tinh thần bị loạn trí, không còn cái định của mình, cái thần khí của của mình thì sụp đổ. Giống như Thầy giảng cái chữ “Thần” vừa nãy, có nghĩa là nó sụp đổ cái Thần đó nên dẫn đến loạn trí. Thầy đã nói: Định sanh Tuệ sanh Tâm, nên hễ Định mà bị phá vỡ thì không còn Tuệ gì cả mà dẫn tới Tâm ý tán loạn luôn.
Vậy để giúp cho con người bị phá vỡ Định dẫn đến Tuệ Tâm tiêu tan, thì người đó phải bắt đầu đi vào một cái đầu tiên gọi là cần bằng, hài hòa trở lại. Nghĩa là giúp cho họ:
● Đạt tới cái cảnh giới phá chấp,
● Đạt tới cảnh giới mà khiến cho họ trở lại cái Định Lực, cái Định Tuệ của họ. Có nghĩa là làm cho Thần Khí của họ an định trở lại bằng vô lượng pháp môn, chứ không riêng gì một pháp môn.
Vì thế các vị phải đạt tới Pháp Tạng của vũ trụ chính là Đạo Tạng của vũ trụ mới có thể giúp được những con người đó. Các vị cần nhờ vào ngũ thông của mình để hiểu được họ, hiểu họ đã bị phá vỡ cái Thần Khí như thế nào mà từ từ mình nâng cái Thần Khí của họ trở lại. Phương pháp cứu độ này cần sử dụng vô lượng pháp môn trong Pháp Tạng vũ trụ. Pháp Tạng vũ trụ có nghĩa là mỗi cảnh nó đều ứng với một pháp môn của nó cho nên mỗi đà la ni tạng tánh sẽ ứng với một cái cảnh giới của sắc giới. Do đó, 8 muôn 4 ngàn đà la ni tạng tánh sẽ ứng với 8 muôn 4 ngàn sắc giới chủ lực, từ một sắc giới chủ lực nó sẽ ứng hiện với 8 muôn 4 ngàn sắc giới phụ của nó. Cho nên có vô số vô biên sắc giới.
Các vị Tổng Đà La Ni họ luôn luôn để ở tâm không cho đến khi nào sắc giới hiện ra thì họ sẽ giải quyết vấn đề, công việc tuỳ theo cảnh, bởi thế phước đức của họ tạo ra chuyển về phước đức của Trời chứ không phải là phước đức của họ nữa. Có nghĩa là khi hội nhập vào cái tâm không, chánh đẳng chánh giác thì toàn bộ phước đức đó chuyển về Trời nên gọi là tiêu hết phước đức của mình, để hội nhập Bản Thể Linh Giác Vũ Trụ. Lần lần họ hội nhập vào Bản Thể của Trời trở thành Trời luôn. Quốc Tổ Hùng Vương chính là vị Tổng Đà La Ni như vậy, nên sẽ thay thế Cha Trời vào giữa tiểu kiếp thứ 10. Khi các vị làm chủ một đà la ni tạng tánh có nghĩa là các vị trở thành một vị Phật tổ có vô lượng phước đức, công đức khiến cho vị Phật đó trở thành thù thắng, trở thành trang nghiêm.
CÂU HỎI SỐ 3:
Hỏi: Nhờ Thầy giải thích giúp em hiểu tác dụng, cơ chế hoạt động của các luân xa trên cơ thể.
THẦY NHÂN THẬP TRẢ LỜI:
Luân xa chính là từ được sử dụng trong kinh dịch của Ấn Độ, còn trong các kinh dịch từ xa xưa của con người bên sông Trường Giang thì đó chính là huyệt đạo. Cho nên trong Bà La Môn giáo, họ gọi đó là các luân xa, còn các vị Tiên Đạo ở phía nam sông Trường Giang họ gọi đó là các huyệt đạo.
Cả hai cách gọi này không khác gì nhau. Luân xa chính là huyệt đạo. Các vị có thể tự hình dung, trên cơ thể con người:
● Theo chiều dọc cơ thể có 14 huyệt đạo chính hay còn gọi gọi là 14 cái luân xa chính. Trong đó, bảy luân xa âm phía trước, bảy luân xa dương phía sau.
● Theo chiều ngang cơ thể có 14 huyệt đạo chính (luân xa), trên khuỷ tay, 2 lòng bàn tay, trên khuỷ chân, 2 lòng bàn chân có 8 cái.
Như vậy tổng cộng có 36 cái luân xa chính trên cơ thể con người. Hay còn gọi là 36 huyệt đạo chính của cơ thể con người. Nó tương thông tới bộ não con người, nó tương thông tới lục phủ ngũ tạng của con người. Rất nhiều người tu thiền hiện nay thường quan tâm đến việc khai mở luân xa, nên họ thường đi vào sắc giới. Họ chưa hiểu các nguyên tắc căn bản của thiền, cũng chưa đi vào tu định. Tu định là con người luôn luôn hoan hỷ, luôn luôn sống trong thế giới của an lạc, nên hai cái đó nó khác nhau.
CÂU HỎI SỐ 4:
Hỏi: Làm thế nào để hiểu rõ Linh Giác Thần Thông ạ?
THẦY NHÂN THẬP TRẢ LỜI:
Linh Giác Thần Thông, Thầy sẽ giảng trong phần thiền định. Cây cỏ cũng có Linh Giác Thần Thông. Vậy Linh giác thần thông là như thế nào? Linh Giác thần thông chính là thần lực của vũ trụ. Vì Bản Thể Linh Giác Vũ Trụ sanh ra thần lực vũ trụ nên thần lực vũ trụ có linh giác của nó, gọi là linh giác thần thông. Chính nhờ linh giác này, nên con người mới có thể điều khiển hết các vật chất trong vũ trụ này, nếu mọi thứ có sắc giới trong vũ trụ này mà không có linh giác của nó thì mình không bao giờ điều khiển được. Vật chất cũng có linh giác của nó, cây cỏ cũng có linh giác của nó, nên nhờ nó con người mới vận hành vật chất được. Ví dụ như: chiếc máy bay, nhờ có lực nên nó mới bay được; chiếc xe Tesla, nhờ điện lực mình mới lái chiếc xe chạy được. Hoặc như bóng đèn, nhờ điện lực nó mới sáng, nếu không có điện lực làm sao nó sáng được. Linh giác thần thông chính là thuộc Thiên Tạng vũ trụ. Nhưng vấn đề của nó là không bao giờ nó trở về Linh Giác của vũ trụ được. Một khi nó được sinh ra thì nó phải luân chuyển theo vật chất, vì nó là vật chất.
CÂU HỎI SỐ 5:
Hỏi: Người tu thiền cần làm gì trước và sau khi ngồi thiền để đạt được hiệu quả tốt?
THẦY NHÂN THẬP TRẢ LỜI:
Thiền thì Thầy đang bắt đầu giảng dạy, các vị sẽ hiểu từ từ. Muốn hiểu được thiền môn trước tiên phải hiểu được tất cả các quy luật của nó. Giống như mình muốn lái chiếc xe, mà thiền chính là lái chiếc xe cơ thể của mình, mình phải hiểu hết các quy luật của nó thì mình mới thiền đúng, mới đi đúng được, chứ không phải là thiền trong mơ hồ. Các vị sẽ được học để hiểu thiền môn ở các buổi tiếp theo.
CÂU HỎI SỐ 6:
Hỏi: Tại sao sau một thời gian ngồi thiền mình thường hay bị nóng tính?
THẦY NHÂN THẬP TRẢ LỜI:
Vì các vị thiền mà không hiểu các quy luật của nó. Trong cơ thể con người có âm có dương. Cho nên khi dương khí lớn, thì lần lần mình trở nên nóng tính, nó đốt cháy làm cho loạn trí, loạn tinh thần. Có hai canh giờ quan trọng để chuyển hoá âm dương đó là:
● Giờ Mẹo chính là giờ chuyển từ âm sang dương,
● Giờ Dậu là giờ chuyển từ dương sang âm.
Do đó, nếu mình nóng thì mình luyện khí vào giờ Dậu để chuyển hoá từ dương sang âm, để khí quân bình với nhau. Thường thì các vị không hiểu gì về kinh dịch, không hiểu gì về khí vận nhưng vẫn cứ ngồi thiền. Giống như việc mình ăn uống, có người nói với Thầy là: “bị cảm uống thuốc cảm nó tốt dữ lắm, uống vô vài bữa hết liền”, nhưng khi mình bớt rồi mà mình vẫn uống thuốc cảm nữa là nó gây tác hại cho gan thận của mình.
Tu thiền là một phương pháp của khoa học, là mình điều khiển xác thân tiểu thiên vũ trụ của mình, mình không hiểu nó thì làm sao mình điều khiển nó được. Giống như các vị lái xe mà các vị không hiểu nó, thì làm sao các vị lái xe được. Cho nên các vị phải hiểu toàn bộ các quy luật của nó. Giống như khi mình uống nước là tốt nhưng nếu uống nhiều quá trong thời gian dài sẽ gây tác hại cho thận, làm rối loạn điện giải. Con người cần ăn để mà sống, nhưng việc ăn thiếu khoa học cũng là một trong những nguyên nhân chính gây ra bệnh tật.
Vậy người tu thiền cần phải hiểu những cái gì mang tánh âm, khí âm, những cái gì mang tánh dương, khí dương? Mà âm dương nó phù hợp chỗ nào? Nó hòa tan chỗ nào? Để biết cách điều hoà âm dương trong cơ thể.
CÂU HỎI SỐ 7:
THẦY NHÂN THẬP TRẢ LỜI:
Thầy cảm ơn, câu hỏi này cũng hay. Để Thầy giảng giải câu hỏi này: Dương gian âm cảnh đồng nhất lý. Giả sử các vị sống đến 90 tuổi, khi các vị qua đời, nếu các vị không chuyển kiếp đầu thai hoặc không chuyển về cõi Trời, thì các vị sẽ mang đúng thân xác già nua 90 tuổi đó sống mãi ở bên âm cảnh. Có rất nhiều người khi già là gần tới con đường chia ly, khi con người bỏ xác phàm là đi vào con đường chia ly mới. Có những người khi đến gần tuổi già thì chồng ngủ một nơi vợ ngủ một nơi khác, cũng hiếm khi hai người già vẫn còn mặn nồng với nhau. Nhưng cũng có những tình yêu họ thề sống chết với nhau, nên vì lời thề nguyện của họ, mà họ sẽ kết nối nhân duyên đó, vì định luật nhân duyên này nó cứ xoay vòng. Cho nên khi các vị chết đi, nếu nhân duyên còn thì các vị vẫn là vợ chồng ở âm cảnh. Khi các vị lên cõi Trời, có thể các vị vẫn còn nhân duyên vì đã thề non hẹn biển như khi còn sống. Giống như Chử Đồng Tử trong câu chuyện: Chử Đồng Tử và nàng Tiên Dung, khi chết họ trở về non tiên cực lạc họ vẫn là vợ chồng của nhau. Cho nên vợ chồng là duyên số, là tùy thuộc duyên này còn hay mất. Nếu trần gian chưa hết thì qua âm cảnh vẫn tiếp tục, rồi lên cõi Trời cũng như vậy.
Nhưng có điều, ở trần gian khi các vị chết qua âm cảnh, nghĩa là các vị phải xuôi theo dòng nước, các vị chỉ biết tất cả mọi thứ diễn theo dòng nước, chứ không bao giờ nhìn về kiếp trước của mình được, nên tất cả những gì là kiếp trước của mình thì mình đều quên hết, mà chỉ xuôi theo dòng nước của nó. Giống như con mắt của mình, xuôi theo dòng nước là chỉ nhìn thấy cảnh phía trước chứ không bao giờ nhìn thấy cảnh phía sau lưng, đó là mật tạng của vũ trụ. Những con người mà không ngộ hết chân tâm chân tánh của mình, thì không hiểu hết được những mật tạng trong vũ trụ. Vậy người ở âm cảnh, họ luôn luôn xuôi theo dòng chảy, chỉ biết cảnh vật phía trước không bao giờ biết cảnh vật phía sau. Thầy lấy ví dụ: có những người thề non hẹn biển với nhau, khi mất đi linh hồn ở âm cảnh, vì con nhỏ này có chút phước đức nên nó đi đầu thai. Nhưng khi đầu thai thì nó quên hết những điều trong tiền kiếp, nó mê nên nó xuôi theo dòng nước, nó không bao giờ nhìn ngược về phía sau được, đó là định luật của nhân duyên. Nó cũng không phải là bậc chân tu, không phải là người ngộ chân tâm, chân tánh nên không có làm chủ được chân tâm, chân tánh của mình. Cho nên nó luôn luôn xuôi theo dòng chảy, nó yêu người khác, chỉ có anh kia không chịu đầu thai, ngồi chờ trong tuyệt vọng rồi thành ôm hận. Ví dụ khác, một người bị nước cuốn trôi, mình đứng trên bờ nhìn thấy người đó trôi theo dòng nước nhưng nó không biết gì về mình. Vì nó không thấy ngược vào trong tâm linh của nó, nó không nhìn thấy được quá khứ hiện tại vị lai của nó, mà nó chỉ thấy được hiện tại của nó trôi theo dòng nước.
Cho nên hai người thành vợ chồng là do nhân duyên. Thích Ca Mâu Ni sau khi thiền định xong thấy rõ bà A Du Đà La ở kiếp trước không phải là vợ ổng. Ổng biết rõ, theo định luật nhân duyên nên bà A Du Đà La ở kiếp này thành vợ ổng. Cho nên ổng thấy mọi thứ đều là giả tạm, ổng đi tu hành mà không vướng bận gì. Vì ổng biết rằng khi ổng thành đạo trở về cõi Trời, bà A Du Đà La cũng không phải là vợ ổng. Ở nơi cõi trời tâm linh của ổng đi đến chỗ bình đẳng, độc lập, tự chủ. Có một số người tu đạo ở trần gian vì không hiểu nên cho rằng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni từ bỏ vợ bỏ con đi tu là không đúng đạo vợ chồng. Nhưng thực chất, các vị tu đạo đó vốn tâm tánh đã bị u mờ, trí mù không biết gì. Trời sinh ra vốn con người có con mắt phía trước, họ chỉ nhìn thấy phía trước chứ không bao giờ nhìn thấy phía sau lưng của mình. Nghĩa là họ mê, họ không bao giờ nhìn thấy Cội Nguồn của họ, họ cũng không bao giờ hiểu được các quy luật tồn tại và vận hành trong vũ trụ này. Tại vì sao vậy? Vì linh hồn con người sinh ra từ Bản Thể Linh Giác của vũ trụ chỉ biết nó chứ không bao giờ biết đến Bản Thể Linh Giác Vũ Trụ, nên gọi là mê. Khi Bản Thể Linh Giác Vũ Trụ nó bể ra bọt nước, thì bọt nước đó chỉ biết nó chứ không bao giờ biết nó từ đâu sanh ra. Nó không biết Cội Nguồn của nó nên gọi là mê.
Các vị cũng vậy, chỉ thấy các vật trước mắt, gió chiều nào ngả theo chiều nấy chứ không bao giờ thấy Cội Nguồn. Đức Thích Ca Mâu Ni có nói rằng: nếu cái bát của ổng nổi trên sông và trôi ngược dòng về Cội Nguồn thì ổng mới thành đạo. Có nghĩa là nếu cái bát không trôi ngược là ổng không hiểu Cội Nguồn tâm linh của ổng, mà không hiểu Cội Nguồn tâm linh của ổng nghĩa là ổng không thành đạo, ổng xuôi theo dòng nước. Cái bát trôi ngược, nghĩa là ổng hiểu được Cội Nguồn tâm linh của ổng thì ổng mới thành đạo, ổng làm chủ giác tánh đà la ni tánh của mình.
Giống như con mắt của mình chỉ nhìn thấy phía trước chứ không nhìn thấy phía sau, cho nên không thành đạo được. Những con người bỏ đi Cội Nguồn giống như cành khô trụi lá, cây mất gốc trở nên héo ngọn rủ cành. Cho nên người nào bỏ đi Cội Nguồn, dù cho người đó tu trong tôn giáo nào cũng muôn đời vạn kiếp luân hồi sanh tử và luôn bị xoáy chuyển theo các định luật của vũ trụ. Những người nào lạc Cội, lạc Nguồn, không hiểu nguồn gốc của mình thì những người đó phải sống trong sanh tử luân hồi, đau khổ mãi mãi, hết phước rồi họa, hết họa rồi tới phước, linh hồn thay đổi các xác thân như thay những lớp áo. Những người này khó mà tránh khỏi sa vào ba con đường: sanh tử luân hồi, ngạ quỷ, súc sanh.
Những người tu trong Bà La Môn giáo, thiền định khắp cùng nhưng không bao giờ làm chủ được các giác tánh của Cội Nguồn. Họ tu thiền rồi thành cái xác khô, đốt thành xá lợi nhưng không bao giờ thấy được Cội Nguồn của mình, cho nên tu hoài cũng vậy.
CÂU HỎI SỐ 8:
THẦY NHÂN THẬP TRẢ LỜI:
Có nghĩa là gì? 100 vị Ông Bà tổ tổ tổ hiện hiện giờ vẫn đang thay thế Cha Trời điều hành vũ trụ này, theo nguyện vọng di chí của Tổ Tiên Như Lai. Họ là con Trời, hễ Trời sao họ vậy, sao lại không vui, không sướng mà họ vô cùng vui sướng. Họ luôn luôn đứng vào tận độ chúng sanh khắp cùng thế giới, đến khi họ an trụ vào Linh Giác vũ trụ, thời gian lâu xa họ biến thành Tổ Tiên. Khi họ an trụ vào Linh Giác vũ trụ, gọi là Thiên Ấn Kim Cang vũ trụ.
Trong Thiên Ấn Mật Tạng Kim Cang Chú của Long Hoa Thiên Tạng, phần đệ nhất ấn chú, có nói khi Cha Trời hiện ra thì tất cả các Thiên Ấn Kim Cang trong Bản Thể Linh Giác hiện ra khắp cùng. Đó chính là các vị Ông Bà tổ tổ tổ trong vô lượng ức kiếp. Mỗi quả địa cầu có 100 vị Ông Bà tổ tổ tổ ra đời, thay thế Cha Trời dìu dắt các bọt nước trở về với nước. Đến khi nào trái đất này không còn nữa thì họ hội nhập vào bản thể Linh Giác của vũ trụ trở thành Thiên Ấn Kim Cang vũ trụ, ở trong đó thời gian lâu xa chuyển thành Tổ Tiên.
CÂU HỎI SỐ 9:
THẦY NHÂN THẬP TRẢ LỜI:
Câu này rất hay, có nghĩa là ngày giỗ tổ Hùng Vương cũng sắp tới. Tại sao Quốc Tổ chọn ngày mùng 10 tháng 3 về Trời?

H.10 Sơ đồ Bát quái
Kinh dịch là như thế này: trong bốn mùa Xuân, Xạ, Thu, Đông phân thành 12 tháng: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Theo Tiên Thiên Bát Quái, quẻ Càn tượng trưng cho Trời, cho vị trí người cha trong gia đình, cho mùa Hạ, là thái dương, mà đỉnh dương của mùa Hạ là tháng 5, giờ đỉnh dương trong ngày là giờ Ngọ, hành Hoả cũng thuộc dương. Vì vậy, tháng 5 chính là tháng trung tâm, ứng với mùa hạ, hành hoả, giờ Ngọ. Từ đó các tháng, các mùa, các hành, các chi theo đó mà ứng hoá và phân định vào các vị trí tương ứng. Ví dụ: Tháng 5 - tháng Ngọ, tháng 3 - tháng Thìn, tháng giêng - tháng Dần… Điều đó lý giải tháng Dần là tháng đầu tiên trong năm chứ không phải là tháng Tý.
Vậy tại sao trong mỗi mùa đều có hành Thổ? Vì hành Thổ là hành trung ương nên hành Thổ này nó sống trong bốn hành kia đều được. Hành thổ là hành trung ương nên người hành Thổ sống khắp các phương đều được. Hành thổ là hành trung tâm, nên trong 4 hành kia, mỗi hành đều có hành Thổ, nên hành thổ gọi là hành Cội Nguồn. Vì thế, 5 màu da sẽ hành về nơi đất địa long hình chữ S mà tưởng nhớ về Cội Nguồn, vì nó là hành thổ. Trong kinh dịch chúng ta thấy:
Mùa Xuân có tháng 1 và tháng 2 là hành Mộc thuộc Dần, Mão, nhưng mà tháng 3 nó là hành Thổ, thuộc Thìn.
Mùa Hạ: tháng 4, tháng 5 là hành Hỏa thuộc Tỵ, Ngọ; nhưng tháng 6 vẫn là hành Thổ, thuộc Mùi…
Quốc Tổ về Trời mùng 10 tháng 3, mà tháng 3 chính là tháng Thìn và hành Thổ; mà Ngài chính là chủ nhân của hành Thổ. Số 0, số 5, số 10 là số của vũ trụ, con số 10 là số tròn, con số của Trời nên Quốc Tổ về Trời vào ngày mùng 10 tháng 3 không phải đơn giản như các vị tưởng nghĩ. Quốc Tổ về Trời không phải chôn cất, mà Ngài hủy xác thân để về Trời, nên các vị không bao giờ tìm thấy mộ của Ngài. Quốc Tổ với Kinh Dương Vương đều như nhau, tự nhiên thân xác tan biến về Trời vì các Ngài đều có nhị xác thân.
Trong kinh dịch, các vị sẽ thấy hành Thổ đứng ở cuối các mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Cho nên Thìn, Mùi, Tuất, Sửu nằm trong hành Thổ. Những người sinh vào những tháng này thường tài năng và đa tài. Vậy tại sao không để Tý là tháng một? Điều này cũng được giải thích dựa theo chu kỳ kinh dịch của trái đất này xung quanh núi tu di. Mùa Hạ là mùa nhìn rõ nhất là hành Hỏa, tháng Ngọ là dễ nhìn thấy nhất, Ngọ là đỉnh dương, nên nó ứng vào tháng 5. Tháng 5 là đỉnh của mùa Hạ. Rồi từ tháng 5 đó mà nó tính theo chu kỳ 12 con giáp, nhưng nó phân ra 3 tháng cho một mùa; mùa Xuân, mùa Hạ, mùa Thu và mùa Đông. Vậy thì còn một hành nữa, nó có tới ngũ hành là Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Vì hành Thổ là hành trung ương, mà hành trung ương có nghĩa là nó sống ở trong tất cả các hành kia đều được. Vì trong Kim cũng có đất; trong Mộc cũng có đất; trong Thủy cũng có đất; trong Hoả cũng có đất, đốt thành tro bụi cũng thành đất. Cho nên đất gọi là mẹ. Đất mẹ đứng ngôi số 5, nên Đức Mẹ Âu Cơ ứng hiệp vào ngôi số 5. Do đó, hành Thổ nó sẽ phân đều ra cho 4 mùa, hành Thổ sẽ đứng vào cuối của các mùa. Đó gọi là Kinh Dịch. Không ai đặt ra Kinh Dịch này, không phải do Thầy đặt ra, mà Kinh Dịch này do Tạo Hoá ứng hiện mà ra, hiểu được chu kỳ vận chuyển của Tạo Hoá mà người ta biết.
Trên đây, Thầy đã chia sẻ một chút về Kinh Dịch cho các vị hiểu. Cho nên ngày 10, tháng 3 đứng vào tháng Thìn và hành Thổ, mà Quốc Tổ chính là chủ giống da vàng hành Thổ.
CÂU HỎI SỐ 10:
THẦY NHÂN THẬP TRẢ LỜI:
Họ vào được chứ. Vì con cháu cúng rước ông bà, nghĩa là ông bà vẫn về ở trong gia tư của mình, tuỳ vào chủ quyền. Người thân mất thì linh hồn họ vẫn có thể ở trong nhà. Nhưng có thể sẽ có một số vấn đề, đó là những gia đình vì lo sợ và thiếu hiểu biết mà mời Thầy pháp, Thầy chú, Thầy bùa rồi trấn yểm tùm lum, nên một số linh hồn gia tiên, ông bà, không thể về được. Các vị trấn yểm tầm bậy, giống như họ về tới nhà nhưng mình khoá cửa vậy. Cho nên hiểu kinh dịch, hiểu thế giới âm cảnh thì mới làm đúng, không hiểu kinh dịch, không hiểu âm cảnh nên thường làm bậy.
Để hiểu về thờ cúng, các vị hãy tìm hiểu thêm trong sách Nghi Lễ Thờ Cúng Tổ Tiên, còn cái gì không có Thầy sẽ diễn giải ở đây để các vị bổ sung cho lần tái bản mới.
Ngày nay, một số nhà vẫn còn tồn tại bàn thờ Thiên, ở ngoài Trời . Nghĩa là từ ngày xưa, thời Bách Tộc Văn Lang đã có Văn Hoá thờ Trời. Thứ nhất, là người ta lập bàn thiên ngoài Trời để thờ Trời. Thứ hai, là người ta tạ ơn các công đức của Long Thần Hộ Pháp, Thiên La Thần, Địa La Thần đã giúp đỡ họ trong cả năm. Cho nên họ lập bàn Thiên ngoài Trời là như vậy.
CÂU HỎI SỐ 11:
THẦY NHÂN THẬP TRẢ LỜI:
Thanh minh có nghĩa là gì? Thanh minh trong tiết tháng 3 nghĩa là để tưởng nhớ công đức của ông bà tổ phụ, chứ không phải là riêng ngày giỗ Tổ Hùng Vương. Ngày đó nghĩa là gì? Ngày xưa, trong văn hoá của Bách Tộc Văn Lang, thanh minh có nghĩa là tưởng nhớ tới ông bà gia tiên, cha mẹ hiện tại của mình. Có nghĩa là người nối dõi, nối truyền dòng giống con Rồng cháu Tiên, cho nên mới gọi là:
Thanh minh trong tiết tháng ba.
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh.
Thanh minh là ngày con người tưởng nhớ tới công ơn của người phụ diễn lưu truyền, của ông bà, người thân từ nhiều đời tới mình nên nó có trong dân gian của Bách Tộc Văn Lang xưa.
CÂU HỎI SỐ 12:
Hỏi: Nhờ Thầy giảng thêm về ăn chay, ăn mặn ạ
THẦY NHÂN THẬP TRẢ LỜI:
Hôm sau ta học tiếp, hôm nay ăn chay ta đã hiểu một phần rồi. Tại sao người ăn chay lại thành đạo nhanh hơn? Giống như khi mình cõng cục đá lên núi vậy. Nhưng mục đích của ăn chay là như thế nào? Mục đích của ăn mặn là như thế nào? Thầy sẽ dành giảng vào tuần tới, các vị sẽ hiểu được rõ hơn. Hôm nay, ăn chay ăn mặn các vị hiểu được tinh, khí, thần; hiểu được nước uống, hiểu được mọi thứ. Hiểu được một phần ăn chay thế nào? Ăn mặn thế nào? Từ từ khai thác tiếp.
CÂU HỎI SỐ 13:
THẦY NHÂN THẬP TRẢ LỜI:
Thời xưa, Quốc Tổ đúc ra 7 thanh gươm báu đó là có thật. Còn bây giờ, 7 gươm báu đó chuyển thành Quốc Bảo trấn quốc bằng Kinh Tạng, đó là 7 bộ kinh:
Long Hoa Thiên Tạng
Long Hoa Pháp Tạng
Long Hoa Mật Tạng
Sau Thời Hậu Đế
Long Hoa Đại Cương
Nhân Luân Hiếu Nghĩa
Long Hoa Luật Tạng
Đây 7 bộ Kinh báu của Cội Nguồn.
Các thanh gươm báu đó các vị phong Thần đã thâu về cõi Trời. Vì thời Quốc Tổ, các vị ở cõi Non Tiên họ hạ phàm được, họ tu pháp, tu phép thần thông, họ thu hết. Cho nên 7 gươm báu trấn quốc giờ hiện về thành Quốc Bảo Chân Kinh. Ngày xưa trấn quốc bằng gươm báu, ngày nay trấn quốc bằng Pháp Bảo Chân Kinh. Nghĩa là Pháp Bảo Chân Kinh này mới thống nhất đại đồng được. Còn gươm nó thuộc về sắc giới, nó không phải thuộc về tâm linh. Muốn thống lĩnh thế giới đại đồng là thu phục tâm linh, không phải thu phục bằng gươm giống như ngày xưa. Cuối thời kỳ này khoa học đi vào nguyên tử, khoa học của lực nổ lớn, không phải giống như đánh kiếm trong Văn Lang Chiến Sự. Bây giờ nó đi vào vũ khí của thời mạt kiếp khủng khiếp, lực nổ của nó có thể nổ tanh bành trái đất. Cho nên 7 cây gươm trấn quốc chuyển thành Pháp Bảo Chân Kinh, để ổn định thế giới, hàng phục tâm ma.
CÂU HỎI SỐ 14:
THẦY NHÂN THẬP TRẢ LỜI:
Ta định lượng theo cơ thể của mình, phần đó nó rất sâu xa. Muốn giảng hết các phần đó, phải mất hơn 4 buổi, tương đương mất ít nhất hơn một tháng. Nghĩa là mỗi hôm Thầy chỉ giảng 1 slide, thì mới có thể hiểu hết được. Nhưng mà vì thời gian mình không có nhiều, Thầy giảng qua phần cơ bản để các vị hiểu rõ một phần, rồi tới khoá 4, tới khoá 5, Thầy lại giảng kỹ, giảng tới khi nào các vị hiểu thấu thì thôi. Nhờ cái cơ bản đó mà các vị định lượng được, và ước lượng được những điều mình muốn thu nạp vào trong kiến thức của mình.
CÂU HỎI SỐ 15:
THẦY NHÂN THẬP TRẢ LỜI:
Câu hỏi này nằm trong cuốn sách Nghi Lễ Thờ Cúng Tổ Tiên của Thầy đã có rồi. Giống như câu chuyện về ngày Rằm tháng 7 vậy, các vị phải hiểu người âm cảnh họ sống như thế nào? Các vị phải hiểu rõ người âm cảnh họ cần cái gì? Những người sống trong địa ngục cần gì để siêu thoát? Mình sẽ làm những điều có ý nghĩa cho họ để họ được siêu thoát; một là về Non Tiên Cực Lạc, hai là chuyển kiếp đầu thai ở nơi dương gian.
Như trên Thầy có nói: ví dụ hai người yêu nhau thề non hẹn biển, kiếp này ta chết đi rồi anh vẫn đợi em mãi mãi. Nhưng khi hai người cùng bỏ thân xác phàm tục, qua kiếp sau, vì con nhỏ này có một nhân duyên khác, nó đi đầu thai, nó trôi theo dòng nước chảy. Chỉ một mình anh đó vì đi ngược với định luật nhân duyên, ôm nỗi nhớ rồi buồn phiền, trông chờ mỏi mòn, rồi cuối cùng sống trong đau khổ và trầm luân mãi mãi. Vì không hiểu được định luật nhân duyên; nên theo, rồi phá miết con nhỏ đó, cuối cùng phạm vào thiên luật, lãnh hậu quả nên bị Trời phạt, nếu làm ác nhốt luôn xuống âm phủ. Con nhỏ này khi đầu thai rồi thì nó không còn biết gì nữa, vì nó trôi theo dòng nước. Vì con người không hiểu, không làm chủ được định luật nhân duyên mà phải khổ đau khắp cùng. Một người đi trôi theo dòng nước, một người vì không chịu đầu thai, ngồi đứng lại đợi chờ. Nghĩa là người trôi theo dòng nước họ không bao giờ biết mình nữa, như đôi mắt của mình chỉ nhìn thấy phía trước chứ không bao giờ nhìn thấy phía sau. Không làm chủ được định luật nhân duyên có nghĩa là đi ngược lại với luật của Trời. Ngược lại luật Trời nên phải chịu sự đầy ải trong khổ hạnh, thậm chí tang thương nát thịt.
Các vị thường không hiểu về Luật Tạng của vũ trụ, nên đứng vào sanh tử luân hồi mãi mãi là vậy. Muốn độ họ thì hãy đọc cuốn sách Nghi Lễ Thờ Cúng Tổ Tiên, trong đó có những lời Thầy giảng về thế giới âm cảnh. Khi mình biết thế giới âm cảnh họ cần cái gì, để mình cứu độ họ. Mình giúp họ, một là đủ phước đức về Non Tiên Cực Lạc ở, hai là chuyển kiếp đầu thai ở nơi dương gian mà tiếp tục tu hành, còn không là họ đứng miết trong đó.
Những người ở âm cảnh phải nhờ Nhà nước Tâm Linh Văn Lang chỉ dẫn nhập hồn, nhập cốt, nhập vào thân xác người nơi dương gian để lên đồng, lên cốt, giả danh các vị Thánh để khuyên dạy con người làm thiện. Khi tạo được phước dương gian mà chia đôi, tích lũy miết để đủ phước báu rồi đầu thai. Cho nên mình phải hiểu được dương gian, âm cảnh, địa ngục họ cần cái gì để siêu thoát linh hồn của họ. Mình sẽ vận dụng các Pháp Độ trong Cội Nguồn để độ họ, hoặc các Pháp Độ trong các tôn giáo mà độ họ.
Trong Cội Nguồn, Thầy không bao giờ bài bác các tôn giáo, mà Thầy luôn luôn giữ bản gốc của các tôn giáo, Thầy tôn trọng các tôn giáo khác vì tất cả các tôn giáo đều bình đẳng như nhau, tùy căn duyên mà độ người. Do đó, các vị không thể đem giáo điều tôn giáo vào đây để nói lý lẽ với Thầy được. Thầy bảo vệ Phật Thích Ca Mâu Ni ở tột đỉnh, nghĩa là tất cả những cái gì đúng nhất của ổng, Thầy giữ lại, không có giáo điều, cũng không có tam sao thất bản. Lão Tử cũng vậy, Thầy bảo vệ chân tâm, chân tánh của ổng vì nó hiệp với Cội Nguồn. Thầy bảo vệ Cội Nguồn chính là Thầy bảo vệ chân tâm chân tánh của mấy ổng, Thầy không bao giờ bài bác Phật giáo hay tôn giáo nào, mà Thầy giữ đúng bản sắc của nó, giữ đúng bản gốc cho họ. Giống như khi Đức Chúa Giêsu dạy con người như thế nào thì các vị phải giữ nguyên bản của nó, đừng có tam sao thất bản rồi giảng ra nói tầm bậy. Thầy bảo vệ họ, vì họ chính là một trong 7 giáo của Cha Trời, để mà tận độ chúng sanh, phải giữ cái bản gốc của họ trên nguyên lý của khoa học đời sống, khoa học tâm linh rõ ràng, để nhận ra được các giá trị của Phật giáo, của Thiên Chúa giáo, của Thánh giáo, của Tiên giáo, của Nhân giáo, của Thầy giáo.
Thầy lấy ví dụ: các vị đừng có tưởng rằng ăn chay là hơn người không ăn chay. Không phải vậy. Như Đức Huỳnh Phú Sổ, ổng ăn chay một tháng mấy ngày, nhưng mà các hàng đệ tử của ổng ăn chay trường nhưng có anh nào hơn được ổng. Cho nên không có ma mị gì ở nơi đây được. Thầy chính là bảo vệ bản gốc của mấy ổng. Vì bản gốc của mấy ổng chính là từ các giác tánh đà la ni của Cội Nguồn đi ra. Thầy bảo vệ các giác tánh đà la ni đó, Thầy làm chủ các giác tánh đà la ni đó, nên Thầy với mấy ổng giác tánh đà la ni không bao giờ khác nhau.
Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật, Ngài đã trải qua hàng vạn danh sách giác tánh, thu phục các giác tánh đà la ni trong vũ trụ. Các vị thấy 7 pháp hiệu của ổng. Thầy không bài bác ổng, mà ổng làm chủ 7 giác tánh chủ lực đà la ni tánh. Thích Ca Mâu Ni ổng hiểu được tánh bình đẳng chính là tánh từ bi, đà la ni tánh của vũ trụ. Nên ổng không bao giờ đạp lên đầu các vị giáo chủ khác, cũng không bao giờ leo lên đầu của các vị Phật, các vị Bồ Tát. Và ổng hiểu tánh độc lập của Bản Thể Linh Giác vũ trụ, ổng không phải đi theo A Di Đà, mà ông theo đúng cơ của tịnh độ thì ổng thuyết kinh của A Di Đà. Ổng thuyết về kinh tụng niệm để cho thiên hạ rửa gội tâm linh, là ông theo đúng cơ Trời mà tận độ chúng sanh. Ổng tạo lập, tạo dựng Quốc Độ của ổng, chứ không phải Thích Ca Mâu Ni là đệ tử của A Di Đà. Một số vị thường bị nhầm lẫn chỗ này.
Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật, ổng tận độ thiên hạ vô số vô biên, ổng tạo dựng Quốc Độ của ổng, mà trong thế gian này không phải cõi Tây phương chính là nhà, mà vô số các cõi Trời là nơi Tận Độ, Quốc Độ của các vị Phật. Ví dụ như ở thời này, các vị biết A Di Đà là do Thích Ca Mâu Ni ổng thuyết ra. Nhưng ở thời trước Thích Ca Mâu Ni, không ai biết A Di Đà, nhưng khi ổng giảng ra một vị Phật khác là người ta đi theo Quốc Độ của vị Phật đó. Chứ không phải như các vị tưởng Quốc Độ A Di Đà là một tổng thể đâu. Giờ các vị biết Quốc Độ của A Di Đà, vậy Quốc Độ của Chúa Giêsu nằm ở đâu? Thế giới có 7 tỉ dân, mà có tới 3 tỉ dân số thế giới này đi theo Quốc Độ của Chúa Giêsu. Phật giáo chỉ có một phần, chưa tới tỉ dân. Ở Trung Quốc mặc dù là tỉ mấy dân nhưng mà họ theo nhiều đạo chứ không phải họ theo một mình Phật Giáo. Cho nên các vị không bao giờ hiểu được. Các vị theo đạo Phật, các vị nghĩ Quốc Độ Tây Phương là Quốc Độ cuối cùng nhưng không phải.
Hôm nay Thầy nói bấy nhiêu là đủ, xin kính chúc các Quý Anh, Chị có nhiều sức khoẻ và thân tâm an lạc vào ngày cuối tuần. Chúng ta sẽ tiếp tục vào tuần tới.
__________________HẾT__________________