LỚP HỌC VĂN HÓA CỘI NGUỒN

KHÓA 04 - TUẦN 02

----------O----------

 

●                 ĂN CHAY VÀ ĂN MẶN

●                 TẬP SỰ VÀ HIỂU CƠ BẢN VỀ SƠ THIỀN (tt)

●                 MỘT SỐ CƠ BẢN KINH DỊCH CỦA PHƯƠNG ĐÔNG VÀ PHƯƠNG TÂY

Thời gian: 09/04/2022 (GMT+7)

Giảng trực tuyến trên nền tảng ZOOM APP

Chủ giảng: Thầy Nhân Thập Đại Cư sĩ,

Giáo sư Tiến sĩ Cao Đức Toàn

-------------O------------- 


1. LỜI GIỚI THIỆU NGÀY GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG

2. THẾ NÀO LÀ ĂN CHAY? THẾ NÀO LÀ ĂN MẶN?

a.Tính Tịnh là gì?

b.Tính Động là gì?

c.Ăn chay

d.Ăn mặn là gì?

3. THIỀN MÔN

a. Thiền là gì?

b. Chu kỳ kết tinh:

GIỜ:

THÁNG:

c. Can và Chi là gì? Mệnh là gì? Tứ hành xung là gì? Bắt ấn là gì?

Hôm nay các vị hiểu được rằng tại sao sinh ra mệnh của con người? Mà mệnh không ai giống ai?

+ Làm sao để thoát khỏi tứ hành xung?

+ Bắt Ấn là gì?

4. TRẢ LỜI CÂU HỎI CỦA HỌC VIÊN

Hỏi: Thưa Thầy Năm Dần có tháng giêng, là tháng khởi đầu năm mới ứng với năm Nhâm Dần và 365 huyệt trong đường nhâm mạch của tiểu thiên Vũ Trụ. Có 30/30 ngày âm dương tương hợp, vạn vật hóa sanh. Tháng 3 âm lịch và tháng 4 dương lịch lại tiếp tục 30/30 âm dương tương hợp, vạn vật hóa sanh và trong tháng này lại là ngày Tổ phụ về Trời. Kết lại hai trường hợp tháng giêng trước một tháng ngày Tổ phụ xuống trần 20/02 và tháng sau tưởng nhớ ngày Tổ phụ về Trời. Có phải báo hiệu từ năm nay trở đi Văn Hóa Cội Nguồn thiên ý Cha Trời, thiên luật Vũ Trụ sẽ phát triển tốt giống như đời đạo là một? Âm dương tương hợp?

Hỏi: Thưa Thầy, thánh thư từ thiên đình có phải xem là cây tâm linh để tiên tri trước cho nhân loại những gì sắp xảy ra như các vị chư thiên nhắc nhở phải không?

Hỏi: Thưa Thầy, khi con người bình thường chưa giác ngộ, lúc ngủ mình không kiểm soát được tâm thức còn các bậc giác ngộ như các vị Phật, Thánh, Tiên lúc ngủ các vị ấy kiểm soát được tâm thức của mình không?

Hỏi: Thưa Thầy, đọc Long Hoa Thiên Tạng Kinh có nói vũ trụ Ta Bà, trung tâm hình thành cách đây khoảng 2 ngàn 5 trăm lẻ 3 triệu năm. Hình thành sau 6 vũ trụ kia, cũng có nói rằng Vũ Trụ này diệt thì Vũ Trụ khác hình thành, quá trình này lặp đi lặp lại vô lượng vô biên Vũ Trụ. Vậy thì có điểm khởi thủy hình thành Vũ Trụ đầu tiên không? Đồng nghĩa với Linh Căn Huệ Mạng linh hồn cũng vô thủy vô chung không có khởi thủy?

Hỏi: Thưa Thầy, Phật Thích Ca Mâu Ni giảng pháp hơn 40 năm nhưng rốt cuộc ông có nói một câu là: Pháp vô định pháp. Đây có phải ông chưa đạt đến Tâm Vương hay làm chủ Tâm Vương không?

Hỏi: Thưa Thầy, việc mở kinh hằng đêm người âm cảnh họ vẫn nghe và nhận thức được phải không?

Hỏi: Thưa Thầy, ngày giỗ Tổ của người đã khuất thì mình cúng mặn hay cúng chay có ảnh hưởng gì đến linh hồn người âm cảnh không?

Hỏi: Thưa Thầy chấp sanh ra vọng tâm, vậy có những loại chấp gì?

Hỏi: Thưa Thầy, mình làm chủ một giác tánh rồi mình có 8 muôn 4 ngàn giác tánh đó nó tự huân tập mà trở thành tâm vương hay sao?

1. LỜI GIỚI THIỆU NGÀY GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG

Mến chào hết tất cả anh chị cô chú bác yêu quý lớp học Văn Hóa Cội Nguồn, chúng ta lại gặp nhau vào ngày thứ 7. Ngày mai là ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, Thầy mến chúc tất cả quý anh chị mang dòng máu con Rồng cháu Tiên luôn hướng về Cội Nguồn; Luôn hướng về truyền thống của dân tộc; Luôn hướng về Cha Trời, Mẹ Trời; Luôn hướng về Bản Thể Linh Giác của Vũ Trụ, để giúp chúng ta có thể vượt qua tất cả những chướng ngại, mà có thể đi đến sự giác ngộ sau này.

Truyền thống văn hóa tốt đẹp của nước Việt là một truyền thống rất linh thiêng. Văn hóa nước Việt hình thành cách đây hơn 5 ngàn năm, từ thời đức Quốc Tổ Hùng Vương dựng nước, khai sinh ra Bách Tộc Văn Lang, để lại cho con cháu Việt Nam hai di sản lớn đó là Địa Long hình chữ S, nơi đức Mẹ Âu Cơ với đức Cha Trời đã sanh ra nhân loại con người, năm màu da anh em. Cho nên trong lịch sử của đền thờ Phú Thọ đã nói rằng: Đức Lạc Long Quân, đức Mẹ Âu Cơ sinh ra Quốc Tổ Hùng Vương là con cả. Có nghĩa là khi đức Quốc Tổ Hùng Vương giảng pháp tại đền thờ Phú Thọ, là nơi đất đai Địa Long này chính là đức Cha Trời, đức Mẹ Trời (đức Lạc Long Quân và đức Mẹ Âu Cơ) sinh ra nhân loại con người, trong đó Vua Hùng là con cả của năm màu da anh em. Thời đó không có chữ viết thuần thục, mà chỉ truyền qua khẩu tự, ngôn từ, nên nó tam sao thất bản. Niên đại Hùng Vương kết thúc vào thời 18 đời Hùng Vương, ở hạ Hùng Vương là tiếp nối qua thời An Dương Vương. Ngày mai là ngày Quốc Tổ về trời, vào ngày mùng 10 tháng 3. Chúng ta mang dòng máu Lạc Hồng, mang dòng máu đỏ da vàng, chúng ta luôn hướng về Cội Nguồn của mình, thiên mệnh của mình là dòng máu đỏ da vàng.

Các vị học qua lớp học Văn Hóa Cội Nguồn, các vị hiểu được thiên mệnh. Đó là cái tứ ân, tứ hiếu; Mà ngay cả đức Phật cũng dạy tứ ân, tứ hiếu; Lão Tử cũng dạy tứ ân, tứ hiếu. Nhưng các vị muốn biết thật giả thế nào thì rất là dễ, chỉ cần xem qua: Các vị theo đức Phật nhưng các vị lại bỏ quên tứ ân, tứ hiếu; các vị rao giảng tứ ân, tứ hiếu nhưng Thầy chưa thấy ai tưởng nhớ Quốc Tổ Hùng Vương. Các tôn giáo có ai tưởng nhớ Quốc Tổ Hùng Vương không? Như thầy Thích Nhất Hạnh cũng về lạy đền thờ Quốc Tổ Hùng Vương. Các vị tu trong Phật giáo, Thiên Chúa giáo, tu trong các tôn giáo, các vị nói ta là chủ nhân con Rồng cháu Tiên nhưng không ai nói tới Ông Tổ của mình. Các vị đang sử dụng chữ: “con Rồng cháu Tiên, con cháu Lạc Hồng, dòng máu Lạc Hồng” là do Quốc Tổ Hùng Vương thuyết pháp tại vườn Cấm nước Xích Quỷ năm xưa và cũng tại đền thờ Phú Thọ sau khi dựng nước Đại Việt[A1] .

Thầy thấy qua các trang mạng, các tôn giáo dạy các vị là phải biết nhớ tứ ân, ân của quê hương đất nước, nhưng đến ngày giỗ tổ, Thầy không thấy có tôn giáo nào làm, mà chỉ có Nhà Nước làm lễ giỗ tổ Hùng Vương. Vậy thì các vị học Phật miệng nói một đường tâm nghĩ một nẻo, nên gọi là đời mạt pháp. Các vị nói ta là đệ tử của Thích Ca, ta là đệ tử của Chúa, ta là đệ tử của Đức Huỳnh Phú Sổ, ta là đệ tử của Phật Thầy Tây An, ta là đệ tử của Ngô Minh Chiêu nhưng các vị đều làm trật, miệng nói một đường tâm nghĩ một nẻo. Các vị xài chữ “con Rồng cháu Tiên”, mà các vị không biết chữ “con Rồng cháu Tiên” từ đâu ra. Sao tự nhiên đức Huỳnh Phú Sổ nói con Rồng cháu Tiên? Rồi bên Cao Đài tự nhiên nói Con Rồng Cháu Tiên? Chữ “con Rồng cháu Tiên” các vị sử dụng ngôn từ đó từ đâu ra? Cái gốc của ngôn từ “con Rồng cháu Tiên”, cái gốc của “con Lạc cháu Hồng”, cái gốc của “dòng máu Lạc Hồng” từ đâu ra? Tại sao tự nhiên các vị nhạc sĩ sử dụng các ngôn từ đó? Các vị là con cháu Quốc Tổ, kế thừa di chí Quốc Tổ Hùng Vương, các vị sử dụng ngôn từ của Quốc Tổ mà các vị không tưởng nhớ Quốc Tổ. Các vị tung hô ta là chánh đạo, vậy chánh đạo ở đâu? Hôm nay nhân dịp ngày mùng 10 tháng 3, Thầy giảng giải phần này cho các vị hiểu. Các vị nói rằng ta tu đắc đạo, vậy đắc đạo ở đâu? Các vị sống trên mảnh đất Địa Long hình chữ S, vậy ai là người dẫn con cháu về Địa Long hình chữ S? Ai là người thuyết ra các chữ “con Lạc cháu Hồng”, thuyết ra chữ “con Rồng cháu Tiên” mà các vị sử dụng trong các sấm kinh? Không phải Đức Huỳnh Phú Sổ đặt ra chữ “con Rồng cháu Tiên”, cũng không phải bên Cao Đài đặt ra. Vậy khi các vị nói rằng ta đây đắc đạo, ta đây kế thừa di chí Đức Huỳnh Phú Sổ, kế thừa di chí Ngô Minh Chiêu, kế thừa di chí Phật Thầy Tây An, Thầy xem qua tới ngày Giỗ Tổ Hùng Vương chỉ thấy có nhà nước làm lễ giỗ Tổ, chưa thấy tôn giáo nào làm. Vậy coi như đó là đi ngược với lời của Đức Phật, đi ngược với lời của Đức Huỳnh Phú Sổ, đi ngược với Phật Thầy Tây An, đi ngược hết tất cả tứ ân, tứ hiếu trong kinh giáo. Vậy các vị cho mình đắc đạo ở chỗ nào?

Để phân biệt thật giả thì các vị giác ngộ họ chỉ nhìn qua là biết liền, không cần nói tới nào là ta đây tu đạt đến chữ Không, nào là ta đây là di chí của Đức Huỳnh Phú Sổ. Các vị xem thử từ Nam chí Bắc, Thầy thấy nhà nước làm “con Rồng cháu Tiên” chứ Thầy chưa thấy tôn giáo nào làm, mà tôn giáo nhà Phật thì dạy con người tứ ân, tứ hiếu ở đâu? Có bấy nhiêu thôi đủ thấy rõ sự bất trung, bất hiếu rồi. Không phải tự nhiên Đức Huỳnh Phú Sổ ghi ra “con Rồng cháu Tiên”. Các sấm cơ đều nói “con Rồng cháu Tiên”. Sử dụng từ “con Rồng cháu Tiên” các vị phải biết nguồn gốc từ đâu ra? Ai đặt ra chữ “con Rồng cháu Tiên”? Nhân dịp ngày mùng 10 tháng 3 Thầy diễn giải cho các vị thấy rõ đâu là trung? Đâu là hiếu? Đâu là tứ ân của nhà Phật? Chứ không phải mình muốn nói sao mình nói. Các vị cho mình tu đắc đạo miệng nói thì thiên thiên địa địa, Kinh Phật thì thuộc làu làu, nhưng miệng nói một đường tâm nghĩ một nẻo, đó gọi là thời mạt pháp ra đời là như vậy. Thầy nhìn qua Thầy biết đâu bất trung bất hiếu rồi. Sống trên Địa Cốt Long Hoa mà không biết nhà Rồng Tiên. Vậy mà cho mình thông hiểu sấm cơ của Đức Thầy Phú Sổ, đó là không đúng.

2. THẾ NÀO LÀ ĂN CHAY? THẾ NÀO LÀ ĂN MẶN?

Hôm nay, Thầy sẽ tiếp tục bài giảng. Buổi học trước có một câu hỏi của anh Long Nguyễn: Thế nào là ăn chay, ăn mặn? Đáng lý là phần ăn chay, ăn mặn Thầy sẽ giảng sau khi các vị hiểu được Linh Giác Thần Thông của Vũ Trụ. Nhưng hôm nay Thầy sẽ khai mở một phần ăn chay, ăn mặn cho các quý vị hiểu: Thế nào là ăn chay? Thế nào là ăn mặn? Rồi sau đó Thầy tiếp tục đi vào thiền môn, thiền môn rất là quan trọng.

Các vị đã hiểu qua được Tinh, Khí, Thần. Cấu trúc của Tinh, Khí, Thần đó là đỉnh cao của Thiền định. Kết nối được từ Thần, Khí và Tinh; Kết nối xuyên suốt từ trên xuống dưới gọi là cấu trúc của tiểu thiên Vũ Trụ, cấu trúc này cũng tương ứng cấu trúc của đạị thiên Vũ Trụ khi hình thành nên Vũ Trụ này vững chắc như vậy. Tiểu thiên Vũ Trụ cũng điều khiển đúng y như vậy mới gọi là thiền. Con người giữ được Tinh, Khí, Thần là con người trị được bách bệnh, bảo vệ cơ thể của mình tốt nhất. Sau đó các vị đi vào đại định, có nghĩa các vị đi vào an trụ. Nên thiền có nghĩa là hiểu hết mọi ngóc ngách, sau đó đi đến an trụ để hiểu tất cả các mật tánh của nó. Nhờ an trụ này sanh ra thần thông, hiểu được linh giác thần thông mà nhìn thấy được tam thiên đại thiên thế giới. Còn các vị xuất hồn ra chỉ thấy bọt nước, các vị ở đại định không xuất hồn mà sử dụng sự tương thông, sự an trụ để kết nối. Các vị còn xa vời vợi trong thiền, tu thiền, giảng sách nhưng thật sự không hiểu trong đó.

Hôm nay Thầy sẽ giảng: Thế nào là các vị ăn chay, các vị ăn mặn? Còn các vị chọn ăn chay hay ăn mặn tùy thuộc vào pháp độ, phương pháp tu hành của các vị. Không phải các vị đem chấp pháp vào nơi đó: Mình ăn chay được rồi mình khinh thường người ăn mặn. Giống như các hàng đệ tử của Đức Huỳnh Phú Sổ ăn chay trường, nhưng không thể so sánh với Đức Huỳnh Phú Sổ chỉ ăn chay một tháng có mấy ngày. Tại vì các vị chưa làm chủ được chân tâm, chân tánh của mình, không làm chủ được giác tánh của mình. Vì vậy, ăn chay chính là điều kiện cần chứ không phải là điều kiện đủ. Cho nên các vị chấp pháp khắp cùng khi mình ăn chay được thì mình khinh thường người ăn mặn nhưng không phải. Các vị chắc gì hơn được Đức Huỳnh Phú Sổ mà các vị chê bai họ.

H1: Ăn chay, ăn mặn

Khi các vị muốn biết mình ăn chay hay ăn mặn có lợi ích gì? Giúp ích gì cho đời sống? Giúp ích gì cho môi trường này? Thì các vị phải hiểu được: Linh hồn chính là Linh Căn Huệ Mạng Linh Hồn và Linh Giác Thần Thông của động thực vật. Các vị phải hiểu cả hai thì các vị mới hiểu được mình đang ăn cái gì? Mình đang làm cái điều gì? Nó đúng hay nó sai? Không phải nói ăn chay rồi chỉ biết là ăn chay thôi, chứ không biết là như thế nào? Các vị muốn hiểu nó thì các vị phải hiểu tường tận về: Thân Căn Huệ Mạng Linh Hồn và Linh Giác Thần Thông của động thực vật. Nó có 2 phần như vậy.

a.Tính Tịnh là gì?

Con người phải hiểu được chữ “Tịnh”. Tịnh là giống như thiền. Tịnh có nghĩa là nhu, là hiền, sinh lời, dưỡng nuôi, hòa nhập và dung nạp tất cả. Con người mang tánh Tịnh thì người đó rất là nhu hiền, vì nhu hiền mà sinh lời không có bị lỗ, cho nên luôn luôn thu nạp, dễ hòa nhập.

  Nghĩa là khi con người hiền tính, ở thế tịnh thì người đó hòa nhập vào cộng đồng rất là dễ, vì nó không động chạm vào ai, nên nó rất là dễ dung nạp. Nên phải hiểu được chỗ này thì mới hiểu được ăn chay, ăn mặn là như thế nào.

Linh Giác Thần Thông của cây cỏ nó thuộc tính Tịnh nhiều hơn tính Động. Vì vậy, khi thiền định và ăn uống là mình hấp thụ Linh Giác Thần Thông này vào trong thần lực của mình. Chính là hạ thần, trung thần và thượng thần; Hấp thụ vào trong hạ khí, trung khí và thượng khí; Hấp thụ vào trong hạ tinh, trung tinh và thượng tinh. Phải hiểu rõ như vậy mới được. Chứ không thể nói mơ hồ, ăn chay cũng không biết là ăn chay, ăn mặn cũng không biết là ăn mặn.

Phải hiểu được tính “Tịnh” là tính nhu, tính hiền, tính sinh lời, tính hòa nhập và tính dung nạp... Cây cỏ có nhiều tính, nó có tới 8 muôn 4 ngàn tính tịnh. Lợi ích của tính tịnh: Có tới 8 muôn 4 ngàn tính lợi ích của nó.

b.Tính Động là gì?

Động là cương, động là nó sinh nghiệp, hễ động sinh ra vật chất, động sinh ra thiên đàng địa ngục, cứ động là nó sinh ra. Động chính là sinh, là cương, là nóng, là hung, là nghiệp, là tạo dựng, là tiêu hao. Cho nên hễ mình đi tập thể dục là mình tiêu hao năng lượng. Động là tiêu hao, sụt giảm, phản kháng, tự vệ, bảo thủ… Nó gọi là động.

  Ví dụ: Trong chữ viết cũng vậy, tính từ có thể kết hợp với động từ, tính từ kết hợp với tất cả danh từ. Trong ngôn ngữ học cũng vậy, tính từ giống như tịnh vậy, nghĩa là nó kết hợp với tất cả các danh từ, nên nó dung hòa, dung nạp. Còn động từ là để nó chia ra các danh từ, chia ra các hành động. Động đi vào cương, vào nóng, vào hung, vào diệt, vào tạo dựng, vào tiêu hao, sụt giảm, phản kháng, tự vệ, bảo thủ v.v… Nên động là tiêu hao, động thì sinh nghiệp, cho nên chỉ cần khởi biệt thì nó sinh ra nghiệp.

Các vị Phật, người mà làm chủ được 8 muôn 4 ngàn giác tánh Đà La Ni của mình, một khi họ khởi động là họ tạo ra vô số phước thiện, nghiệp thiện. Còn các vị chỉ cần khởi động là sinh ra vô số nghiệp ác, vô số nghiệp thiện lẫn lộn với nhau vì mình không làm chủ giác tánh.

Đấng Tổng Đà La Ni khi họ an trụ ở thế Tịnh của an trụ, của chữ Không. Chỉ khi họ khởi động liền tạo ra vô lượng phước đức. Họ an trụ về Không nên phước đức của họ chuyển về Trời, họ với Trời gần như là một.

Các vị chưa bao giờ hiểu được Tổng Đà La Ni, cũng chưa bao giờ hiểu được một vị Phật, nên các vị lẫn lộn giữa Tổng Đà La Ni và vị Phật vô cùng tai hại. Từ đó sinh ra chấp mê: Phật này cao hơn Phật kia, Phật kia cao hơn Phật nọ, sinh ra vô số chấp mê, tạo ra vô số nghiệp quả mà không bao giờ tránh được.

Động vật thuộc tính Động nhiều hơn tính Tịnh, phải hiểu chỗ này mới hiểu được ăn chay ăn mặn, còn không hiểu được chỗ này thì không cách gì hiểu được ăn chay, ăn mặn. Cho nên suốt đời nằm trong vòng lẫn quẩn, gọi là sự chấp mê bất ngộ liên tục.

  Các vị hễ nghe người này giảng kiểu này thì hiểu theo nghĩa này, người kia giảng theo kiểu kia thì hiểu theo nghĩa kia. Một số người giảng đụng chạm lẫn nhau, cuối cùng tranh luận lẫn nhau, dẫn tới nghiệp quả luân hồi liên tục mà ko bao giờ chấm dứt. Sau khi các vị hiểu được như vậy thì Thầy sẽ đi vào ăn chay.

c.Ăn chay

Ăn chay phải hiểu được: Thân Căn Huệ Mạng Linh Hồn và Linh Giác Thần Thông của cây cỏ thì khi đó mới hiểu được ăn chay.

H2: Ăn chay, ăn mặn

Ví như thực vật: Cây cỏ, rong rêu lớn hơn 70% tịnh và nhỏ hơn 30% động, thì thực vật này giác tánh rất ít. Mặc dù nó có tới 8 muôn 4 ngàn giác tánh vì linh hồn nào cũng như nhau nhưng tất cả các giác tánh kia không có hình tượng, không có Thân Căn Huệ Mạng nên giác tánh của nó rất là ít.

  Giác tánh cây cỏ không có tánh sát nghiệp như hận thù hay báo thù. Cho nên cây cỏ không có tánh hận thù hay báo thù. Cây cỏ không có đủ 8 muôn 4 ngàn thiên quyền của nó vì nó mê nên nó không có hiểu ra được, mặc dù nó có nhưng mà nó không biết. Giống như các vị bể ra từ bản thể Linh Giác Vũ Trụ mà các vị không biết các vị là ai.

Thực vật này chỉ hiểu được vài giác tánh, không có tánh hận thù, không có tánh báo thù và không có tánh gì hết, đó là tánh giác của thực vật. Nhờ tánh giác này hình thành nên Linh Căn Huệ Mạng Linh Hồn của nó. Nghĩa là nó bao bọc tâm của mình, nên giác tánh của nó rất ít. Thực vật này khi các vị tác động hay thay đổi mạnh là linh hồn nó xuất ra liền, vì cây cỏ ở thế Tịnh nên nó xuất hồn ra và chỉ còn lại Linh Giác Thần Thông. Linh Giác Thần Thông này chính là sự tiếp xúc giữa linh hồn và bán vô vi, nó tồn tại trong đó không ra. Nhờ Linh Giác Thần Thông này mà các vị mới chế được các dược liệu gọi là thần dược để chữa bệnh cho con người.

H3: Ăn chay, ăn mặn

Cây cỏ cắt ra khỏi gốc linh hồn xuất ra, giống khi các vị thiền định xuất linh hồn ra nhưng những người tu thiền, cho các chủng bào của họ tự thở lấy nhau là nhờ các linh giác thần thông đó mà nó tự sống nhưng nó là vật chất. Giống như thí nghiệm của nhà khoa học Nga, khi con người chết đi ông truyền dòng điện một chiều vào trong con người, xác tự đứng dậy do nhờ điện lực kết nối Linh Giác Thần Thông, khi các vị chết đi thể xác vẫn còn Linh Giác Thần Thông, nên các vị không hiểu rõ thấu đâu là linh hồn, Thân Căn Huệ Mạng Linh Hồn và đâu là Linh Giác Thần Thông nên lẩn quẩn trong vòng sở nghiệp vô cùng.

Một số nhà khoa học thế giới gọi là phần ác, họ thử nghiệm: Khi con người chết đi, họ truyền dòng điện một chiều vào làm cho cái xác dựng đứng ngược dậy, mắt mở ra làm cho họ hoảng hồn, tưởng rằng đã tìm ra được phương pháp hồi sinh con người sống lại. Do họ chưa hiểu khi Thân Căn Huệ Mạng Linh Hồn xuất ra, nó còn lại Linh Giác Thần Thông. Nhờ Linh Giác Thần Thông này mà các vị chế được dược liệu, mới có Đông y ra đời. Không lẽ những người chế thuốc giết cây cỏ là họ mang sát nghiệp để cứu người? Giống như Hoa Đà lấy cây cỏ nấu thuốc là Hoa Đà mang sát nghiệp? Không phải vậy, do các vị chưa bao giờ hiểu tánh giác của thực vật rất là ít, chỉ có vài giác tánh của nó. Trong đó thực vật không có tánh hận thù, báo thù, không có những tánh của sát nghiệp... Thực vật này khi cắt rời khỏi gốc hoặc là đun nóng ở nhiệt độ cao thì Linh Căn Huệ Mạng Linh Hồn xuất ra nhưng nó không có tính sát nghiệp. Vì không có tính sát nghiệp nên môi trường trong sạch. Linh Giác Thần Thông luôn ở tính tịnh, hiền lành nên người ăn thực vật luôn hấp thụ Linh Giác Thần Thông hiền từ. Khi các vị ăn cây cỏ nhờ Linh Giác Thần Thông ở tính tịnh, hòa nhập trong cơ thể con người rất nhẹ nhàng, dễ dàng làm cho con người giảm bớt bệnh tật.

Vì thực vật không có sự phản kháng nên trong Linh Giác Vũ Trụ tánh phản kháng là tánh của Trời, cái gì hễ không hợp với nó là nó phản kháng, đẩy lùi ra liền. Khi các vị mang tâm ác mà hội nhập vào bản thể Linh Giác của Vũ Trụ là nó đẩy các vị ngược ra liền. Những người mang tâm tánh ác độc mà muốn về Trời, nếu như không có thần lực dẫn dắt thì các vị bị thần lực của Vũ Trụ đánh rớt xuống trái đất, không cách nào về cõi Trời được.

  Vì Linh Giác Thần Thông tịnh này mà nó hấp thụ vào trong con người một cách dễ dàng không có sự phản kháng nào. Nên các vị ăn chay, ăn thực vật, các vị giảm vô số bệnh tật vì nó không có sự phản kháng. Hễ có sự phản kháng là sinh ra động, mà động thì sinh ra bệnh tật, sinh ra nghiệp mà nghiệp này có thể là nghiệp thiện hay nghiệp ác các vị không biết.

Vì vậy người ta ăn thực vật làm cho tâm mình luôn luôn thanh tịnh vì không có sự phản kháng. Vì Linh Giác Thần Thông hấp thụ vào con người một cách nhẹ nhàng, vì tánh tịnh là tánh dung hòa, tánh hòa hiệp nên nó dễ hòa hiệp vào tất cả Linh Giác Thần Thông của các vị. Cho nên nó chữa được nhiều bệnh.

Các vị phải hiểu rõ nó một cách khoa học và ngọn ngành như vậy, chứ đừng có tưởng nghĩ mơ hồ. Khi các vị ăn chay thì môi trường Linh Giác Thần Thông không có sát nghiệp. Vì không tạo ra sự oán hận nên Linh Giác Thần Thông của Vũ Trụ cũng không có khoấy động.

Vì chúng ta đang sống trong Linh Giác Thần Thông của Vũ trụ này, hễ Linh Giác Thần Thông cây cỏ có sát nghiệp sẽ tạo ra môi trường của sát nghiệp ở nơi đó. Nên các vị ăn chay thì không có tánh sát nghiệp, toàn bộ môi trường Linh Giác Thần Thông nơi đó sẽ trong lành, vì không có Linh Giác Thần Thông của Vũ Trụ điều khiển ảnh hưởng tới tâm tánh của chúng ta.

  Nếu Linh Giác Thần Thông của Vũ Trụ có tính sát nghiệp ảnh hưởng tới tâm tánh của các vị. Giống như Linh Giác Vũ Trụ là môi trường, hễ hạt giống trong tâm của các vị có đủ 8 muôn 4 ngàn tánh thiện, có 8 muôn 4 ngàn tánh ác, mà nếu Linh Giác Thần Thông của Vũ Trụ này ở thời mạt pháp là thời sát nghiệp nhiều do các vị tạo ra sát nghiệp đó chứ không phải ai hết.

  Các vị tạo ra sát nghiệp đó ảnh hưởng đến tánh sát nghiệp của các vị nên thời này đa số con người nham hiểm vô cùng, nó hận thù, nó giết người không gớm tay. Không phải giết người bằng gươm đao giáo mác mà giết người bằng những điều gọi là miệng lưỡi thế gian, giết người bằng những điều thâm độc và hại người một cách vô hình mà không ai biết. Chỉ có Trời mới nhận ra. Cho nên không phải tự nhiên mà các vị thầy họ khuyên các vị ăn chay; Ăn chay làm cho Linh Giác Vũ Trụ này không có sát nghiệp. Linh Giác Thần Thông của nó không có sát nghiệp.

Vì con người sống trong môi trường Linh Giác Thần Thông đó nhưng hễ Linh Giác Thần Thông này tạo ra oán khí nhiều, oán nghiệp nhiều thì ảnh hưởng tới tâm tánh của các vị dẫn tới các vị tu hành đảo điên, điên đảo. Vì các vị không làm chủ được giác tánh của mình. Các vị không thể nào giống như một đóa sen nằm trong bùn mà không hôi tanh mùi bùn.

Nằm trong bùn mà thành đóa sen đó mới chính là các vị Phật Tổ Tổ Tổ ở cõi Trời Trung Thiên Giới hạ phàm. Họ xuống trần gian ở thời mạt pháp này tâm tánh của họ vẫn như đóa hoa sen, chứ không phải như các vị nghĩ đâu. Nên các vị phải hiểu ăn chay ăn mặn là một phương pháp khoa học vô cùng, một phương pháp tu hành thuận lợi cho mọi người, không phải giống như người ta vẫn thường nghĩ? Nếu các vị luôn luôn chấp trong sở nghiệp thì sẽ tạo thêm sở nghiệp đấu đá với nhau.

 

H4: Ăn chay, ăn mặn

Hôm nay các vị hiểu được một phần thực vật lớn hơn 70 phần trăm tịnh và nhỏ hơn 30 phần trăm động là vậy. Còn các thực vật nhỏ hơn 50 phần trăm tịnh, lớn hơn 50 phần trăm động thì sao? Các vị thấy các cây rừng lớn, khi các vị cắt gốc, hâm nóng hoặc đốt nó thì Thân Căn Huệ Mạng Linh Hồn nó xuất ra, chỉ còn lại Linh Giác Thần Thông, nhưng nó có tính sát nghiệp rất là ít hoặc có những cây chưa có sát nghiệp. Nên khi các vị ăn những đọt cây hay những lá cây này thì có nghĩa là các vị hấp thụ Linh Giác Thần Thông ở tánh tịnh, nhưng cây cỏ tánh tịnh ở tánh tịnh dương. Khi mặt trời lên cây cỏ quang hợp khí Trời. Cho nên tánh tịnh của cây cỏ mang tánh tịnh dương.

Nhưng nếu các vị đốn chặt hàng vạn cây, các vị phá hàng vạn cây rừng các vị sẽ tạo ra tánh sát nghiệp làm cho khí vận nơi đó chuyển vận thành mưa bão các vị gánh hậu quả của thiên nhiên. Cho nên gánh hậu quả của thiên nhiên không phải do Trời mà do chính các vị, do sự tuần hoàn của các vị làm cho Linh Giác Thần Thông bị ô nhiễm mà các vị phải gánh hậu quả?

 Không tin các vị đốt hết rừng, chặt hết cây rừng (đây là mới nói tới những cây thường thôi, chưa nói tới linh mộc), một ít sát nghiệp cộng cộng lại tới hàng vạn tỷ như vậy sẽ tạo ra một sát nghiệp lớn mà nó ảnh hưởng vào trong Linh Giác Thần Thông của Vũ Trụ, Linh Giác Thần Thông Vũ Trụ này bị oán nghiệp đó nên nó phải tẩy rửa nó; phải tạo ra sự oán giận chuyển đổi khí vận trời đất, thiên nhiên sanh ra bão lũ, mưa gió khắp cùng mà các vị phải trải qua những kiếp nạn chẳng hạn như là bệnh dịch … đủ thứ trên đời. Chính các vị tạo ra không phải do Trời. Cho nên oán Trời thì Trời giảm tuổi thọ các vị. Chính do các vị tạo ra oán nghiệp đó vào trong Linh Giác Thần Thông. Linh Giác Thần Thông Vũ Trụ điều khiển khí vận của nó mà tạo ra cơn bão, tạo dịch bệnh… Hễ các vị tàn phá môi trường nó ảnh hưởng tới Linh Giác Thần Thông Vũ Trụ này dẫn tới Thần lực có sát nghiệp trong đó mà hủy diệt các vị, có nghĩa là các vị ăn miếng trả miếng.

  Hiểu ăn chay ăn mặn là phương pháp khoa học vô cùng, chưa có ai giảng cho các vị nghe về điều này, họ chỉ giảng cho các vị trong sự mơ hồ đủ thứ, vì họ chưa hiểu về Linh Giác Thần Thông Vũ Trụ. Cái tiểu sẽ ảnh hưởng tới cái đại, cái đại ảnh hưởng tới cái tiểu. Nghĩa là có sự tương tác lẫn nhau. Giống như định luật ba của Newton, khi các vị tác động vào nó một lực thì nó tác động ngược lại vào các vị một lực y như vậy. Cho nên Newton là nhà khoa học thiên tài chứ không phải đơn giản như các vị nghĩ.

H5: Ăn chay, ăn mặn

Các loại thực vật hấp thụ linh khí của Trời Đất như: nhân sâm ngàn năm, những loại kim chi… Đất nước Việt Nam gặp tai họa trùng trùng là do đốn hết các linh mộc trên các huyệt long hình chữ S mà phải gánh hậu quả bão lũ, mưa gió hàng năm. Những người đốn linh mộc này về làm gỗ cho nhà mình là những người tội đồ.

Nguyên dãy Trường Sơn có các linh huyệt, các linh huyệt này mới sinh ra các thượng mộc, các linh mộc. Chính các vị tạo ra sát nghiệp. Những linh mộc này sống hàng trăm năm, hàng ngàn năm, hàng triệu năm trở lên, nó sống được là nhờ nó nằm trên các linh địa khí hóa của Vũ Trụ mà hút các linh lực đó. Các loại cây này chủng tánh rất cao, có tánh hận, tánh thù. Các vị đốn linh mộc các vị sẽ tạo ra sát nghiệp, Linh Giác Thần Thông của linh mộc có sát nghiệp mà oán hận làm cho Linh Giác Thần Thông của Vũ Trụ nơi đó hình thành vô số sát nghiệp.

Linh Giác Thần Thông Vũ Trụ này chứa sát nghiệp phải tạo ra những sự thay đổi của môi trường mà hại lại các vị. Vì các vị tác động vào nó một lực thì nó tác động ngược lại các vị một lực. Không phải nước Việt hàng năm gánh mấy chục cơn bão, lũ lụt khắp cùng, hủy hoại môi trường làm cho thời tiết khí hậu mất nhu hòa… do Linh Giác Thần Thông Vũ Trụ nó trả lại các vị. Các linh mộc này tính sát nghiệp cao, nó tương thông với Linh Giác Vũ Trụ nên tánh sát nghiệp tạo ra môi trường xấu vô cùng.

  Đời mạt pháp các vị tàn sát hết linh mộc, thú cầm khắp cùng. Các vị ăn chay, ăn mặn các vị hấp thụ linh giác của nó. Các vị hấp thụ ác nghiệp của nó là tánh ác nghiệp của các vị hiện ra, là vì các vị không kìm chế, không làm chủ được giác tánh Đà La Ni. Cho dù các vị là Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa ở Non tiên Cực lạc hay ở Dục giới hạ phàm, nhưng tánh của các vị xuống thời mạt pháp ác ghê gớm. Các vị không làm chủ Giác Tánh Đà La Ni, các vị phải trả quả, các vị xuống thời mạt pháp nó xoay các vị xuống âm phủ.

Nên nếu không có các vị Tổng Đà La Ni, các vị Phật ở Trung Thiên giới hạ phàm cứu các vị thời mạt pháp thì các vị xuống âm phủ hoặc rớt ở lại trần gian. Vì sát nghiệp nuôi các tánh ác, các vị đâu có làm chủ tánh Đà La Ni. Vì vậy các vị tàn phá linh mộc trên đất nước Việt Nam thì các vị sẽ gánh hậu quả về thay đổi môi trường.

Thế giới hiện giờ thời tiết, khí hậu thay đổi khắp cùng cộng với thời kỳ chuyển hóa của Vũ Trụ tạo ra sự thay đổi môi trường khủng khiếp. Chu kỳ vận hóa của Vũ Trụ từ các Đại thiên vũ trụ ảnh hưởng tới tiểu Thiên Vũ Trụ mà con người không tránh được. Cuối tiểu kiếp con người tạo ra vô số ác nghiệp tác động qua lại lẫn nhau dẫn tới hủy diệt khắp cùng, dịch bệnh sinh ra khắp cùng mà các vị chưa bao giờ hiểu được.

d.Ăn mặn là gì?

Ăn mặn là các vị đang ăn cái xác của động vật, chính là Linh Giác Thần Thông của nó.

H6: Ăn chay, ăn mặn

Khi các vị sát sanh, các vị cầm dao cắt cổ gà đó là các vị sát nghiệp nó, các vị tạo ra môi trường sát nghiệp. Vì con gà nó có tánh oán, tánh hận, tánh thù. Nên khi các vị làm như vậy thì linh hồn của nó điều khiển Linh Giác Thần Thông của nó làm ảnh hưởng tới Linh Giác Thần Thông của Vũ Trụ này, tạo ra môi trường sát nghiệp vô cùng. Vì tánh giác Vũ Trụ là tánh trong suốt, tánh hiền lành mà nếu nó gặp sát nghiệp là nó phải trả lại sát nghiệp. Cho nên nó thay đổi vận khí làm cho khí hóa Trời Đất dịch chuyển tạo ra những cơn bão, tạo ra đủ thứ môi trường mà con người không bao giờ tránh được, một phần là do các vị tạo ra.

Các loại côn trùng như bọ xít, bồ hóng… giác tánh sát nghiệp như hận thù, báo thù rất ít, không có nhiều. Nhưng khi các vị ở các vùng Tây Bắc giết hàng vạn con bọ xít thì mỗi cái ít nó cộng cộng dồn lại tạo thành một sát nghiệp lớn vì trong tánh của nó có tánh hận, có tánh báo thù.

Như các vị thấy, mỗi khi con bồ hóng húc vô bóng đèn là nó chết, những động vật này các vị chỉ cần tác động nhẹ là linh hồn nó xuất ra liền, nó chỉ còn lại Linh Giác Thần Thông của cái xác. Vậy khi các vị ăn các côn trùng này thì Linh Giác thần lực của Vũ Trụ có sát nghiệp, vì loại này cũng có đủ giác tánh hận thù. Nếu các vị giết nhiều sẽ tạo ra một sát nghiệp làm ảnh hưởng tới giác tánh ác của các vị. Cho nên thời bây giờ con người không phải tự nhiên sinh ra rồi bị điên điên cuồng cuồng giống nhau là do môi trường lớn nó ảnh hưởng tới môi trường nhỏ. Giống như con cá sống trong nước, nếu môi trường nước bị ô nhiễm thì con cá cũng sinh ra ghẻ chốc như thường vì không có gì để bảo vệ nó. Muốn bảo vệ nó các vị phải làm chủ các giác tánh Đà La Ni mới bảo vệ được ở thời mạt pháp này.

Thời kỳ mạt pháp này các vị giác ngộ (ngộ chính là hiểu, mà giác ngộ có nghĩa là hiểu tận tường của nó); Có nghĩa là các vị vừa thiền, vừa định là an trụ trong tánh giác đó và thực hành tánh giác đó cho đến khi nào mình làm chủ được nó. Giác ngộ (hiểu) thôi chưa đủ mà phải làm chủ giác tánh thì các vị mới thoát được vòng xoáy của Vũ Trụ ở cuối tiểu kiếp này. Ở cuối tiểu kiếp các vị Phật ở Dục Giới hạ phàm vì còn ham mê sắc dục, còn ham mê cái dục của mình nên không bao giờ vượt qua được vòng xoáy của Vũ Trụ, vòng xoáy của tánh ác vì tánh ác nó cũng có 36 chủ lực của tánh ác nên những người đó họ hạ phàm thì sẽ bị 36 tánh chủ lực ác này nó điều khiển mà không bao giờ vượt qua được. Cho nên các vị Phật ở Trung Thiên giới phải hạ phàm mới cứu nổi. Các vị Tiên ở cõi Trời Non Tiên Cực Lạc hạ phạm xuống sẽ xưng hùng, xưng bá, xưng khắp cùng cuối cùng mình cũng đọa lạc xuống Âm phủ. Những người xưng này xưng nọ đa số ở các Non Tiên Cực Lạc hạ phàm cuối cùng làm cho thiên hạ mê muội thì dẫn tới âm tánh thì rơi hết vào âm phủ. Vì vậy, các vị Phật ở Trung Thiên giới phải hạ phàm mới cứu được họ.

H7: Ăn chay, ăn mặn

Động vật như heo, trâu, bò, gà, cá… giác tánh hận thù của nó cao. Nếu các vị giết nó, các vị ăn là ăn cái xác. Nhưng các vị thấy các lò mổ giết súc sanh không? Các vị tu hành họ chỉ cần nhìn nơi nào xây dựng lò mổ giết súc sanh là họ thấy ở nơi đó sát nghiệp lớn vô cùng. Họ tương thông vào Linh Giác Thần Thông của Vũ Trụ, họ nhìn thấy được ở nơi đó rất âm u.

Ví dụ: thời Covid19 vừa qua Thầy thiền định nhìn thấy rõ nơi nào mà con người chết nhiều là sát nghiệp nơi đó khắp cùng trong Vũ Trụ. Nơi nào có lò mổ bò, mổ heo là nơi đó sát nghiệp khủng khiếp. Nên những con người sống nơi đó cũng ảnh hưởng tánh sát nghiệp đó. Còn khi các vị đi siêu thị mua thịt gà các vị ăn, các vị hấp thu Linh Giác Thần Thông của con gà. Con gà mang tánh động ở dương, các vị ăn thịt gà tốt hơn thịt chó vì Linh Giác Thần Thông của con gà mỗi sáng thức tỉnh nó gáy Ò Ó O, nó hít khí Trời về dương khí nên trong thịt con gà có tánh dương. Còn hễ các vị ăn thịt chó, con chó có âm tánh của nó. Giống như đạo Hồi cấm ăn thịt heo, Ấn Độ cấm ăn thịt bò nên các tôn giáo họ hiểu một phần nào thì họ sẽ ra lệnh giới của họ, nhưng họ cũng chưa biết đến tận cùng của nó.

Tánh sát nghiệp này tạo ra môi trường cũng giống như định luật 3 của Newton: Nếu các vị tác động vào Linh Giác Thần Thông Vũ Trụ như thế nào thì Linh Giác Vũ Trụ tác động ngược lại quý vị, mà các vị phải trả quả dẫn tới dịch bệnh, dẫn tới thiên tai hỏa hoạn khắp cùng.

H8: Ăn chay, ăn mặn

Các loài thú này có đủ giác tánh hận thù, nhưng mà ở mức trung bình. Nhưng nếu các vị sát hại các loài linh mộc (thực vật thì có linh mộc), trong loài thú thì có linh thú chẳng hạn như cá heo ở ngoài biển. Những nhà máy giết hại cá heo, sát nghiệp tạo ra trùng trùng ngoài đại dương. Các vị giết cá heo ở ngoài biển nên cuối cùng lãnh hậu quả tạo ra vô số sóng thần, bão lũ khắp cùng. Các vị không hiểu rằng: Những cơn bão hàng năm hình thành là do các vị giết hại những Hải cẩu, những loài động vật có tánh giác yêu thương giống con người. Nếu các vị sát hại những loài linh thú như: Loài báo có linh tính hoặc những con cọp đầu đàn nó có linh giác, sát nghiệp rất lớn.

Thời bây giờ băng cực tan ra một phần là do chu kỳ của tạo hóa, một phần là do các vị tạo ra, tác động qua lại khủng khiếp vô cùng. Khi có người săn bắn lấy thịt, lấy mỡ cho các vị ăn. Vậy các vị ăn là ăn gì? Các vị ăn là hấp thụ những linh giác của nó. Thời bây giờ các vị ăn uống đồ bổ không hẳn là bổ khỏe đâu, vì Linh Giác Thần Thông của nó có chứa hận thù trong đó.

 Ngày xưa thời Hoa Đà, một linh giác về linh mộc thôi mà Hoa Đà chế tạo ra thuốc mang tánh hiền từ, nên ngày đó Hoa Đà chữa bệnh là giảm bớt liền. Còn bây giờ đủ loại thuốc bổ trên đời nhưng Linh Giác Thần Thông của nó mang những sát nghiệp trong đó, bổ thì cũng bổ nhưng nếu uống nhiều thì không tốt. Vì động vật này mang tánh động nhiều hơn tánh tịnh, mang tánh sát nghiệp. Linh Giác Thần Thông nó mang tánh động nhiều hơn tánh tịnh, mà tánh động là cái tánh bảo thủ, tánh khó dung hòa như thực vật. Cho nên khi các vị ăn động vật thì các vị sẽ có nhiều bệnh vì các Linh Giác của nó để mà hòa nhập vào Linh Giác của các vị là nó phải mất thời gian tiêu hóa, mất thời gian để hòa đồng. Giống như khi các vị nhốt hai người có hai tánh khí khác nhau, thì rất lâu ta mới thấy họ hòa đồng, nghĩa là cần thời gian rất lâu để hòa đồng Linh Giác Thần Thông của nó với Linh Giác Thần Thông của các vị. Nó thường hay bảo thủ nhau, nó tác động sinh ra nhiều thứ bệnh mà mình không bao giờ biết.

Vì vậy người ta ăn chay vì Linh Giác Thần Thông của nó tịnh, mà con người tu thiền là con người đang ở cái tịnh. Nên cái tịnh với cái tịnh nó rất tốt, trở thành cộng hưởng với nhau. Còn nếu các vị ăn cái động thì các vị phải sử dụng thiền định để dung hòa nó.

Ví dụ: Trong phim Trung Quốc Cửu Dương Thần Công, nếu tánh nóng mà nóng quá thì phải sử dụng thiền định để dung hòa, phải dùng triết lý của đạo gia dung hòa Cửu Dương Thần Công, dùng triết lý của đạo gia là Âm Dương hòa hợp để dung hòa nó, để cho không bị đứt mạch máu mà chết.

Cho nên Linh Giác Thần Thông của động vật nếu các vị muốn dung hòa nó, các vị phải an định mới dung hòa được nó. Giống như Đức Huỳnh Phú Sổ ăn chay một tháng có mấy ngày nhưng mà tâm của Đức Huỳnh Phú Sổ định, nên nó không có ảnh hưởng gì tới Đức Huỳnh Phú Sổ, nếu có ảnh hưởng thì cũng rất ít, giống như mình trầy chút da vậy. Nhưng đối với các vị thì nó ảnh hưởng khắp cùng.

Trong nhà Phật có Nam tông và Bắc tông. Bắc tông vẫn ăn mặn, nghĩa là khi họ đi khất thực, người ta cúng cái gì họ ăn cái nấy, người ta cúng thịt thì họ ăn thịt vì thời đó Đức Phật Thích Ca Mâu Ni hiểu được. Còn các vị tu sau này, sau khi Phật giáo chuyển về nhà Đường thì nó biến chuyển một phần của Đạo gia trong đó, nên các vị chưa hiểu về Nam tông và Bắc tông dẫn đến tranh luận nhau vì các hàng đệ tử chưa hiểu, còn đức Phật thì hiểu rõ.

 Ví dụ: Khi đức Phật nhìn vô chén nước thấy hàng vạn con vi trùng mà đệ tử của đức Phật thì không biết gì. Cho nên kinh giáo đức Phật tam sao thất bản mà các vị không bao giờ biết. Khi có người cúng mặn thì ăn mặn nhưng mà không có ảnh hưởng gì đến đức Phật, vì đức Phật hiểu được Linh Giác Thần Thông của Ngài. Linh Giác Thần Thông của này do các linh hồn điều khiển, hễ Đức Phật làm chủ giác tánh Đà La Ni thì đức Phật điều khiển nó như trở bàn tay. Còn các vị bị nó cuốn luôn, các vị không làm chủ Đà La Ni giác tánh, các vị mới có hiểu ngộ (hiểu ngộ là giác ngộ). Ngộ là các vị mới đứng ở chỗ Thiền và Định nhưng các vị còn chưa đạt tới đỉnh cao của nó, chứ chưa nói đến việc các vị làm chủ giác tánh Đà La Ni. Rồi các vị thấy sao kì vậy, Tế Công bên Trung Hoa uống rượu, ăn thịt sao lại đắc đạo? Nhiều người hỏi nhưng không ai trong số họ trả lời được, vì họ chưa hiểu gì. Cho nên một số thầy chùa tu mấy mươi năm chết đi để lại cái thân khô đét do tu thiền nhưng cũng không hiểu gì, cũng chưa biết giải thích vì sao Tế Điên ăn thịt, uống rượu mà lại thành Phật, họ chưa hiểu được.

Vậy các vị ăn chay hay ăn mặn là các vị hiểu được mình đã làm chủ giác tánh Đà La Ni chưa? Khi các vị làm chủ các giác tánh Đà La Ni thì các vị phải sống theo thiên quyền của tạo hóa là “Tánh” vì mình được sống thì mình không nên sát hại sự sống của người khác. Những người đó họ phải sống như Trời, là dưỡng nuôi hết tất cả muôn loài vạn vật. Đó là những con người trở về với bản thể Linh Giác của Vũ Trụ, trở về Trời, hội nhập vào bản thể của Trời, lên ngôi Tổng Đà La Ni Vũ Trụ. Nhưng mà ở trần gian này các vị ăn mới sống được, ăn để nuôi tiểu thiên Vũ Trụ này. Các vị ăn cây cỏ là tinh hoa của nó dưỡng nuôi thể xác của các vị, thân xác này là tinh hoa của Vũ Trụ, tinh hoa của vật chất ở trần gian này nhưng nó vẫn là nhục dục, là ố trược.  Mặc dù nó là tinh hoa của vật chất nhưng khi các vị khạc nước miếng ra mà các vị nuốt vô lại được không? Các vị thấy máu mủ ghẻ lở của mình chảy ra mà không thấy ớn lạnh người không?

Khi mang xác thân của tiểu thiên Vũ Trụ này là trường thi tiến hóa linh hồn. Nếu muốn nói rằng, các vị muốn dưỡng nuôi hết tất cả muôn loài vạn vật giống như Trời dưỡng nuôi cả muôn loài động thực vật, vậy thì làm sao các vị sống được? Các vị không ăn mặn thì các vị ăn chay. Nhưng khi các vị mang thân xác này là để các vị tu các giác tánh của mình, để làm chủ giác tánh của mình rồi các vị về Trời hội nhập bản thể Linh Giác Vũ Trụ. Khi ở cõi Trời, thân của nó là kim khí, nó chỉ hít không khí và các hương của hoa quả, chứ ở cõi Trời không ai đi chặt cây, đốn củi, nếu có trường hợp đó cũng chỉ có ở Non Tiên Cực Lạc. Non Tiên Cực Lạc là cảnh giới của thiên đàng cực lạc cõi Trời đầu tiên; Nó hơn một người giàu sang, hơn một tỷ phú ở trái đất này gấp muôn triệu ức lần; Nó hơn thế giới hiện tại của mình đang ở, chỗ nào văn minh nhất nước Mỹ cũng thua xa Non Tiên Cực Lạc muôn triệu ức lần. Nên các vị hạ phàm là các vị mang thân xác này để thuần giác tánh Đà La Ni của mình, các vị muốn làm như Trời dưỡng nuôi động thực vật là chưa đủ.

Một số người thời bây giờ xảo ngôn nói: Ăn cây cỏ cũng sát sanh hại mạng không khác gì nhau. Vì họ chưa hiểu gì nên mới nói vậy. Thời bây giờ một số người xảo ngôn họ lợi dụng ngôn từ nói theo sở nghiệp của họ nên dẫn tới mạt pháp vô cùng. Ngay cả các vị thầy chùa cũng vậy, một số người xảo ngôn tu hành mà miệng nói một đường tâm một nẻo. Hôm nay các vị hiểu được ăn chay ăn mặn.

 Khi các vị xuống trần gian rồi không phải là tự mãn vậy hoài, cứ nghĩ ăn cây cỏ cũng sát sanh mà ăn thịt cũng sát sanh thì các vị sẽ tự hủy hoại đi thân xác tiểu thiên Vũ Trụ này. Mà thân xác tiểu thiên Vũ Trụ này chính là phương tiện để giúp cho các vị thuần thục 8 muôn 4 ngàn Đà La Ni giác tánh. Nên các vị lên cõi Trời các vị làm Vua Trời, khi Vua Trời đầy đủ rồi, Trời cho các vị hạ phàm làm vua trần gian để thuần thục giác tánh vương, tánh công bằng. Mà hễ xuống trần gian các vị làm vua rồi mà các vị không giữ được tánh công bằng là các vị hết phước, ở lại trần gian.

 Đinh Bộ Lĩnh cũng là Vua Trời khắp cùng nhưng Trời khiến ông hạ phàm mà để thuần phục tánh vương của mình. Khi hạ phàm mà không giữ được tánh bình đẳng của mình là nó giết ông liền nên ông phải tu hàng vạn kiếp như vậy để thuần thục tánh bình đẳng của mình; Hiến Tạng, Luật Tạng, Đạo Tạng của mình; Tu muôn vạn ức kiếp mà phước báo của ông vô cùng lớn. Đức Quốc Tổ Hùng Vương thuần phục tánh vương của mình như trở bàn tay, dựng nên cơ nghiệp của Bách Tộc Văn Lang kéo dài độc lập 2701 năm. Cho nên nếu giảng hết một ngày về ăn chay ăn mặn cũng chưa giảng hết được.

H9: Ăn chay, ăn mặn

Vì vậy, ăn chay hay ăn mặn là do con người lựa chọn trên con đường tu hành của mình vì quyền được sống, vì thiên tánh không tạo môi trường ác tánh đó làm ảnh hưởng đến xã hội, đến các ác tánh của nhân loại.

 Cho nên người tu hành như đức Phật họ ăn chay, các vị Tổng Đà La Ni họ cũng ăn chay. Tại vì sao? Vì các vị đó nếu ăn mặn cũng gián tiếp làm cho vô số người khác sinh ra nhàn hạ mà hại mạng, giết hại sát sanh tạo ra ác nghiệp, mà ác nghiệp đó tạo ra ác tánh của con người, vì vậy mà họ ăn chay. Nhưng nếu các vị thử tưởng nghĩ mình là Tổng Đà La Ni thì pháp độ của các vị ở thời mạt pháp như thế nào? Không phải dễ đâu. Đó là bí mật của các vị Phật ở Trung Thiên giới. Pháp độ của họ hạ phàm là họ phải sống như thiên hạ để độ người, hòa mình vào thiên hạ để cứu độ chúng sanh, chứ nếu mình tách biệt ra thì làm sao mà cứu họ được. Vì các vị không viết ra được kinh tạng của Vũ Trụ, không viết ra được mật tạng của vũ trụ nên các vị phải sử dụng các hành pháp để cứu độ chúng sanh.

Nên nhớ kỹ câu này: Nếu các vị phân biệt chỗ nào thì sinh ra sở nghiệp chỗ nấy, nếu các vị chấp chỗ nào thì sinh ra vọng tâm chỗ nấy. Nếu các vị phân biệt sinh ra sở nghiệp ác thiện lẫn lộn thì các vị chính là phàm phu tục tử. Hễ các vị phân biệt mà sinh ra thiện nghiệp thì các vị chính là Phật tổ, Tiên tổ, Chúa tổ, Thần tổ, là người làm chủ được Đà La Ni tạng tánh. Còn hễ các vị chấp chỗ nào thì sinh ra vọng tâm chỗ nấy, các vị không bao giờ hiểu được các Đà La Ni tạng tánh. Nếu các vị vọng tâm làm cho các vị dẫn tới các tánh của âm tánh như: Nào là bất mãn, nào là mê muội, nào là cãi nhau um sùm, ác khí tùm lum, là các vị phải trả quả vào con đường của vô minh, trí tuệ các vị sẽ bị hủy diệt lần lần. Các vị phải nhớ rõ lời Thầy.

Như đấng Đà La Ni hạ phàm, Ông luôn luôn an trụ, an định trong chân tâm chân tánh của Ông gọi là tâm không. Tâm các vị chưa hiểu tâm không là gì, hễ cảnh giới hiện ra thì Ông ứng hiện Đà La Ni thâu phục cảnh giới đó, đến khi cảnh giới đó hoàn thành thì Ông hiện về tâm không. Có nghĩa là phước báu đó Ông không có hưởng thụ, phước báu đó giống như phước báu của Trời.

Các vị Phật phước báu của họ là phước báu thù thắng, các vị Phật có phước báu khủng khiếp, Phước báu đó họ phải làm sao cho hết phước báu đó mới trở về tâm không, trở về an định trong 8 muôn 4 ngàn Đà La Ni tạng tánh trong giác tánh. Giống các vị làm Vua Trời là phước báo của các vị thù thắng khắp cùng, hưởng phước vô tận vô biên, đó là hưởng phước quả của Đà La Ni tạng tánh.

Phước của các vị không phải phước của Trời, phước của các vị do Trời ban, còn Tổng Đà La Ni Phước của Ông chính là Phước của Trời.

Phải phân biệt chỗ này mới hiểu được đâu là Phật đâu là Tổng Đà La Ni.

Các vị tu thành quả vị Bồ Tát, giống cõi nước của Phật Thích Ca, Phật A Di Đà là cõi nước thù thắng vô biên, đó chính là phước báo của Phật Thích Ca hay của Phật A Di Đà chứ không phải là phước báo của Trời. Phước báo của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật là phước báo của cõi nước của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật, là do Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật làm chủ vô số vô biên Đà La Ni tạng tánh mà tạo dựng nên phước báo thù thắng của cõi nước của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật.

Còn Tổng Đà La Ni - Ông tạo ra phước báu: Khi cảnh hiện ra, Ông hiện ra Đà La Ni tạng tánh thâu phục cảnh giới phước báu đó. Sau đó Ông trở về cảnh giới của Vũ Trụ giống như Cha Trời. Cho nên phước báu đó hiện về chính là phước báu của Trời, đó gọi là phước báu của Trời dưỡng nuôi muôn loài vạn vật. Những người như vậy mới hội nhập vĩnh viễn vào bản thể Linh Giác Vũ Trụ. Vì phước báu của Ông chính là phước báu của Trời, Trời và Ông cũng giống nhau. Đó gọi là Tổng Đà La Ni mà muốn làm được điều đó các vị tu vô lượng kiếp, mà phải có sự thừa kế từ thời Cha Trời, Mẹ Trời sanh ra mới có đủ, không phải 100 người con Trời ai cũng có hiểu tới chỗ đó, 100 vị con Trời cao lắm chỉ có Quốc Tổ hiểu rõ. Cho nên Tổng Đà La Ni do Trời chỉ định. Các vị không hiểu Tổng Đà La Ni. Khi thế giới hiện cảnh Tổng Đà La Ni ứng hiện với tâm Tổng Đà La Ni của Ông, hiện ra Đà La Ni tánh thâu phục cảnh giới đó, khi cảnh giới đó hoàn thành Ông trở về cảnh giới Đà La Ni tánh. Phước báu của Ông tạo ra, phước báu thâu phục cảnh giới đó biến về phước báu của Trời chứ không có phước báu của Ông. Phước báu của Trời cũng là phước báu của Ông. Hiểu được chỗ này, có nghĩa hiểu đây mới gọi là người gần giống như Cha Trời, gần như 99% giống tâm Cha Trời. Vì vậy, đến giữa tiểu kiếp thứ 10, Đức Quốc tổ Hùng Vương sẽ thị hiện pháp thân Cha Trời, tại vì tất cả phước báu thù thắng của Ông là phước báu thù thắng của Trời. Nên thân tướng của Ông mới hiện tướng như núi Tu Di Sơn, không có vị Phật nào thị hiện. Các vị ngộ chỗ này là các vị đã hàng vạn kiếp tu hành. (Ông chính là chỉ Quốc Tổ Hùng Vương khi giảng Pháp tại Vườn Cấm Nước Xích Quỷ - trong Long Hoa Mật Tạng).

Thường các vị phân biệt lẫn lộn không biết đâu là đâu dẫn tới chấp mê rồi tranh luận lẫn nhau. Nên Phật không chịu Chúa, Chúa không chịu Phật là vậy. Còn nếu tất cả các vị trở về Tổng Đà La Ni của Vũ Trụ, thì chính các vị là đồng bản thể với Tổ Tiên, không ai lớn hơn ai, vì 8 muôn 4 ngàn Đà La Ni tạng tánh nó như nhau, nó công bằng bình đẳng như nhau.

Hôm nay các vị hiểu được: Tại sao mình phải ăn chay? Tại sao mình phải ăn mặn? Vì vậy, người ăn chay không phải khinh thường người ăn mặn, ăn mặn không phải khinh thường người ăn chay mà các vị hiểu được pháp môn của mỗi con người và hoàn cảnh của mỗi con người. Trong thế giới muôn sắc màu này nó có tới 8 muôn 4 ngàn cảnh giới của sắc giới, mỗi cảnh giới sắc giới đó nó ứng với một pháp của Đà La Ni tánh. Các vị không ở cùng trong Đà La Ni tánh vì vậy các vị mới phân biệt nó. Các vị chấp mê nó dẫn tới vọng tâm, dẫn tới vô số vô minh ra đời, dẫn tới vô số vô biên nghiệp quả thiện ác ra đời mà các vị không làm chủ được nó. Với một câu hỏi ăn chay ăn mặn, nếu thầy giảng đến từng chi tiết phải mất mấy ngày. Các vị có thể viết thành một cuốn kinh mà hiểu tường tận khoa học của nó. Các vị giải thích được vì sao nó ảnh hưởng tới luật tuần hoàn của Vũ Trụ. Nghĩa là hễ các vị tác động vào trong Linh Giác Vũ Trụ như thế nào thì Linh Giác Vũ Trụ nó tác động ngược trở lại.

Linh Giác Thần Thông này do bản thể Linh Giác Tổ Tiên Vũ Trụ vì nó tịnh mà nó sinh ra Linh Giác thần lực, thần lực này nó có thể xuyên qua hết tất cả vật chất, nó dung nạp hết tất cả. Giống như con người mình hễ mất đi cái thần thì con người đó trở thành cái xác không hồn nhưng nó vẫn chưa chết, những con người có xác không hồn giống người điên là vì nó không có thần. Cho nên muốn hiểu nó thì phải hiểu Vũ Trụ, hiểu Vũ Trụ thì hiểu con người, mà hiểu con người thì hiểu Vũ Trụ.

Ăn chay ăn mặn không phải là giải thích theo kinh luân. Thời Thích Ca Mâu Ni giảng như vầy, có nghĩa trong cảnh giới của Đức Phật hiện ra Đức Phạt Thích Ca Mâu Ni phải sử dụng Đà La Ni pháp của Ông ứng với cảnh đó. Nên các vị thường chấp pháp là các vị nói rằng: Sao Phật Thích Ca Mâu Ni nói này, rồi sau khi gặp cảnh này Phật Thích Ca Mâu Ni nói khác? Là các vị đi vào chấp mê khắp cùng, đi vào chấp rồi sinh ra phân biệt đủ thứ. Các vị tạo ra vô số vô minh mà các vị không biết. Các vị không hiểu được rằng trong thế giới cảnh giới của sắc giới nó có tới 8 muôn 4 ngàn cảnh giới sắc giới, mà ứng với mỗi cảnh giới sắc giới đó mà pháp môn Đà La Ni của Phật Thích Ca Mâu Ni ứng hiện với sắc giới đó để thâu phục nó. Cho nên pháp giới của thời Phật Thích Ca Mâu Ni hễ gặp tới thời mạt pháp bây giờ thì pháp giới của Phật Thích Ca Mâu Ni nó không phải là cảnh của Đà La Ni pháp thời bây giờ.

Vì vậy, các vị Phật, Thánh, Tiên ở Trung Thiên giới họ hạ phàm là để ứng hiện pháp giới Đà La Ni của cảnh giới hiện ra thời bây giờ. Nhưng các vị chấp mê vào Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói như này nên bảo thủ nó, tại vì các vị bảo thủ cái vô minh tạo ra vô minh, tại vì vô minh sanh ra các vị. Do các vị không hiểu được trong sắc giới hình thành tới 8 muôn 4 ngàn cảnh giới sắc giới ứng với 8 muôn 4 ngàn pháp giới Đà La Ni của chân tâm. Nên thời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni - Ông hiện ra pháp giới Đà La Ni của Ông để thâu phục cảnh giới đó, cảnh giới của Ông khác cảnh giới bây giờ. Các vị không bao giờ hiểu nên dẫn tới các vị chấp vào kinh luân là một, các vị phân biệt trong ngôn từ là hai trong vô lượng kiếp dẫn tới các vị chính là con của vô minh, con của sở nghiệp ác và thiện, nên tu suốt tu suốt cả cuộc đời cuối cùng lìa trần gian này, thầy bảo đảm các vị nếu như không Ngộ tánh thì các vị tu hết kiếp này, dù có tu thiền luyện khí cao lắm các vị ở Non Tiên Cực Lạc, và ở lại trần gian này. Nếu đi ngược lương tâm các vị xuống luôn âm phủ, thầy bảo đảm 100% các vị chết các vị còn sống mãi, các vị sẽ gặp lại thầy. Thầy bảo đảm các vị không Ngộ được, không làm chủ được giác tánh của mình các vị suốt cuộc đời các vị chỉ ở trần gian, Non Tiên Cực Lạc hưởng phước cho vui, cao lắm cõi Dục Giới. Không bao giờ Ngộ được chân tâm chân tánh, không bao giờ Ngộ được Đà La Ni giác tánh, không bao giờ làm chủ được Đà La Ni giác tánh của mình vì các vị luôn luôn vọng chấp, các vị luôn luôn phân biệt mà các vị chính là con của vô mình.

Vì các vị không hiểu cảnh giới của sắc giới tạo ra có tới 8 muôn 4 ngàn sắc giới hiện ra nó ứng hiện với 8 muôn 4 ngàn Đà La Ni tạng tánh con người để thâu phục cảnh giới đó. Phật Thích Ca Mâu Ni giảng pháp khi gặp một người phụ nữ của Bà La Môn Ổng giảng pháp khác, Ông gặp một người của tu thiền Ổng giảng pháp khác. Tại vì cảnh giới của tu thiền nó ứng với Đà La Ni pháp tạng của ổng khác nhau. Cảnh giới của một người vợ Bà La Môn giáo với cảnh giới của pháp Đà La Ni của Ổng khác nhau. Ngày xưa đức Phật Thích Ca Mâu Ni giảng ở Ấn Độ, còn các vị đi về đất nước phương Nam, mà đất nước phương Nam hiện giờ chính là đất nước Việt. Nó chính là đa nguyên tôn giáo. Nếu đem giáo pháp của đức Phật sử dụng vào trong đa nguyên tôn giáo thì giống như râu ông này cắm cằm bà kia. Cũng giống như khi các vị đem khoa học văn minh của phương Tây mà ứng dụng vào đất nước Việt Nam để các vị hiểu rõ nó có phù hợp không? Đất nước Việt Nam chính là nôi địa long Vũ Trụ cách đây 5 ngàn năm Quốc Tổ thuyết giảng 5 hạt giống Cội Nguồn đó là Phật, Thánh, Tiên, Thần Chúa trong tâm. Các vị không hiểu được nó, nên đem đó về áp dụng vào Việt Nam một cách ào ạt. Chẳng qua vì quyền lực, vì đám đông, vì tiền bạc mà các vị hùa nhau chạy theo mà các vị đi đầu chính là con của vô minh. Theo Phật giáo bây giờ nếu không vì tiền đố ai theo, các vị không vì lợi ích của bản thân mình các vị không bao giờ đi theo, cho nên không có tu hành được gì hết.

Thiền môn của thầy không phải như người ta tưởng, ăn chay ăn mặn các vị đi khắp nước Việt thử anh nào giảng khoa học về ăn chay ăn mặn, sát sanh tạo ra nghiệp quả? Nghiệp quả từ đâu ra? Cho rằng đốn cây củi, đốn cây rừng, đốn Linh mộc ở rừng Trường Sơn tại sao không sanh ra nghiệp quả? Nghiệp quả đùng đùng. Không giải thích được tại vì anh nói anh đâu có sát sanh gì, đốn cây rừng đâu có sát sanh gì? Đốn Linh mộc làm gì sát sanh? Cho nên các vị thấu rõ đây cũng là một binh pháp để giải quyết vấn nạn của quốc gia sau này, binh pháp để giải quyết vấn nạn về thiên tai của Việt Nam cũng nằm ở đây. Đốn các linh mộc trên các địa huyệt của đất nước Việt Nam chỉ có nước gây họa. Những anh đốn xong xây nhà xây cửa, tại sao phong thủy không linh? Các vị lớn trong chính quyền, giống các miền núi họ đốn các linh mộc xây nhà xây cửa, sống trong nhà toàn linh mộc nhưng các linh mộc chỉ bảo vệ thân xác các vị, các vị quên rằng đó là các vị bảo vệ bọt nước nhưng môi trường ảnh hưởng tới bọt nước. Cho nên họ sống trong đó họ trạm Rồng chạm Phụng bằng gỗ Linh mộc khắp cùng trong nhà nhưng họ quên mất rằng Vũ Trụ này mới là Toàn, các vị mới là bọt nước, các vị đó mới bảo vệ linh khí của bọt nước nhưng các vị vô tình tạo ra màn đen u tối cho sự oán hận trong Linh Giác Thần Thông, cho nên các vị sẽ lãnh hậu quả, tâm tánh các vị sẽ bị ảnh hưởng bởi Linh Giác Thần Thông. Nên các vị lãnh đạo lần lần ác tâm ác tánh hiện ra, nội lực sẽ phá vỡ phước đức của gia đình họ, lãnh đủ hậu quả, nghiệp quả của nhân hòa. Thường thì các vị không bao giờ hiểu hết được các quy luật, các định luật của Vũ Trụ nên dẫn tới mê muội, dẫn tới chấp pháp, dẫn tới vọng tâm, dẫn tới phân biệt vọng chấp khắp cùng, mà dẫn tới vô số vô biên vô minh ra đời, các vị chính là con của vô minh. Tại vì vô minh đẻ ra các vị cho nên các vị khó mà trở về ngôi bổn của Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa làm con Trời, con của Cha Trời Mẹ Trời, con của Linh Giác Vũ Trụ.   

Tâm con người là do sự khởi biệt của Linh Giác Vũ Trụ nó sinh ra một cái tâm gọi là tâm vương, mà tâm vương này ban đầu nó vô minh, nó không biết nó từ đâu ra. Tâm vô minh này nó sinh ra sở tâm của nó gọi là sở tâm mê, sở tâm mê này tạo ra vô số nghiệp quả mà hễ các vị sống trong cảnh giới đó thì các vị là con của vô minh, các vị không phải là con của Trời. Khi các vị làm chủ chân tâm chân tánh của mình thì mới gọi là con của Trời, vì vậy các vị chính là vô minh. Nên chấp chỗ nào sinh ra vọng tâm chỗ đó, phân biệt chỗ nào sinh ra sở nghiệp chỗ đó, cho nên mình phải làm chủ nó. Hễ mình phân biệt thì sinh ra vô số nghiệp (thiện, ác). Tánh động là nó sinh ra, nó xây dựng. Giống như khi các vị xây dựng công trình thì động thổ, động nó mới xây dựng nhưng mà nó xây dựng công trình là xây dựng phước thiện, còn các vị xây dựng ác thiện lẫn lộn, không làm chủ được nó gọi là vô minh.

Đáng lý các vị phải hiểu Linh Giác Thần Thông trước rồi Thầy mới giảng cho các vị hiểu về ăn chay ăn mặn nhưng hôm nay, Thầy nói rõ cho các vị hiểu một phần về ăn chay ăn mặn, có thể ta mất đi một buổi nhưng để giảng thông pháp độ chỗ này là Thầy thấy viên mãn, Thầy thấy hạnh phúc. Không cần phải học nhiều, tùy duyên mà học pháp.

3. THIỀN MÔN

a. Thiền là gì?

Hôm trước các vị đã hiểu qua: Tinh, Khí, Thần thì cấu trúc của Tinh, Khí, Thần là đỉnh cao của thiền.

Thiền là để cho mình giữ vững cấu trúc này, khi các vị đọc Long Hoa Mật Tạng kinh: Quốc Tổ giữ hạ thần, trung thần và thượng thần; Giữ hạ khí, trung khí và thượng khí; Giữ hạ tinh, trung tinh và thượng tinh rất hay.

Ví dụ giữ hạ thần: Khi thiền định Quốc Tổ thấy mọi thứ mệt mỏi, Quốc Tổ dạo vườn hoa, ngắm hoa, Quốc Tổ hiểu định luật của hoa mà hiểu hạ thần, giữ được hạ thần. Còn như các vị tu ở Việt Nam, ví dụ họ giữ hạ thần là họ đi phóng sanh, họ thả con chim ra khỏi lồng, thấy con chim nó bay bay là họ cảm thấy tâm hồn nhẹ nhàng, là họ có cái hạ thần. Còn những con người như các vị thầy chùa họ đi thuyết pháp, giảng kinh, đi làm lành giúp đỡ con người là họ thấy hạ thần của họ lên cao, họ giữ cái hạ thần. Cấu trúc của vũ trụ nó cũng y như vậy, từ khi nó sinh ra thần lực đến khi nó hình thành vật chất, vận chuyển vật chất đó như thế nào thì cơ thể con người nó cũng y như vậy. Từ thượng thần tới trung thần tới hạ thần; Từ thượng khí tới trung khí tới hạ khí; Từ thượng tinh tới trung tinh tới hạ tinh, những cái này nó phải gộp lại thành một, gọi là Tinh Khí Thần gộp một thì khi đó con người đạt tới đỉnh cao của thiền môn. Trong thiền môn các vị muốn đạt tới nhị xác thân thì phải có Tinh Khí Thần này gộp thành một.

Cấu trúc của Vũ Trụ như thế nào thì cấu trúc của tiểu thiên Vũ Trụ y như vậy. Các vị mất đi cái Thần, còn cái Khí với cái Tinh thì gọi là mất trí, giống như người mất hồn.

Các vị mất đi cái Tinh, tinh chất là vật chất của thể xác này có nghĩa là Thần và Khí nó bay lên trên về Trời, là các vị hủy đi tiểu thiên Vũ Trụ. Cái Tinh nó như móng nhà các vị, giống cột nhà ở tầng cuối, chặt cột tầng cuối nó tự sụp, Cho nên Tinh mà bị vỡ thì giống như đức Phật Thích Ca Mâu Ni khi còn là Thái tử tu thiền luyện khí bảy bảy 49 ngày kiệt sức dẫn tới suýt chết là vì tiểu thiên vũ trụ không giữ, vì hủy đi cái Tinh này chỉ còn lại Thần với Khí. Cái Tinh giống như tòa nhà 10 tầng các vị chặt tầng cuối cùng của tòa nhà thì nó tự sụp xuống.

  Mất Khí: Hễ các vị ngưng thở 10 phút là các vị chết. Giống như tòa nhà ở Mỹ, Cuộc tấn công ngày 11/9 của nhóm khủng bố AI- Qaeda bằng máy bay đâm thẳng vào tầng giữa nó sụp cả tòa nhà.

Mất Thần là chỉ còn cái xác không hồn. Chẳng hạn tòa nhà trên cao chặt đi phần đỉnh thì vẫn còn tòa nhà nhưng nhà đó chưa sập liền mà sập từ từ xuống giống như người mất đi cái thần khí. Mất đi cái Thần chỉ còn lại Khí và Tinh giống như người mất hồn. Mất cái Thần thì lần lần các Khí và Tinh này nó tự hủy vì nó không giữ được nữa, nó sinh ra đủ thứ bệnh mà chết sớm. Những người bị suy sụp tinh thần thì người đó từ từ lần lần thể xác héo mòn, mặc dù các vị ăn uống đồ bổ mà nó không có hiệu quả, vì cái thần không giữ, cho nên có ăn uống gì một thời gian cũng sinh bệnh chết. Người mất tinh thần nhìn vào thấy ốm; mất tinh thần không ăn không uống gì là lần lần chết. Nên người mà mất tinh thần cũng giống như các vị chặt tầng trên cùng của tòa nhà thì nó vẫn còn cái nhà nhưng mà cái nhà đó chưa sập liền mà nó sập từ từ xuống. Nên Tinh Khí Thần hợp một thì nó là đỉnh cao của thiền môn.

Cho nên Tinh mà bị vỡ giống như thái tử Tất Đạt Đa ngồi thiền không ăn uống gì theo trường phái cực đoan suốt 49 ngày suýt chết như đốn cái gốc nó sụp luôn, đốn cái Tinh nó sụp luôn.

Khí mà vỡ giống như tòa nhà đốn tầng giữa sụp cái rắc, nó sụp cả tòa nhà, mất cái Khí.

Thần mà đốn thì thần chưa sụp liền giống tòa nhà 11 tầng chiếc máy bay đâm tòa trên cùng nó sụp từ từ từ từ.

Nên phải hiểu rõ cấu trúc con người bị sụp đổ, phá vỡ chỗ nào. Vì cấu trúc Tinh, Khí, Thần bị phá vỡ sanh ra bệnh tật. Con người đạt qua không còn bệnh tật có nghĩa là con người đạt tới Tinh, Khí, Thần hợp nhất tạo thành áo giáp kim cang để bảo vệ. Nhưng cái áo giáp này có chịu được Linh Giác Thần Thông của môi trường hay không đó là giống các vị chế ra chiếc xe hơi, các vị tông môt cây trụ điện thì chiếc xe hơi đó thương tích ít hay nhẹ do cấu trúc của chiếc xe đó.

Cho nên các vị hợp nhất Tinh, Khí, Thần ở thời mạt pháp này có nghĩa là các vị chống chọi với môi trường thiên nhiên, môi trường này chính là Linh Giác Thần Thông, nó to lớn, nó có phá vỡ Tinh, Khí, Thần hợp nhất của các vị được hay không là tùy thuộc vào chân tâm, chân tánh của các vị. Tùy thuộc vào thượng thần của các vị. Thượng thần của các vị mới là quan trọng, nó chống chọi khắp cùng, đó chính là nội lực của các vị. Cho nên các vị tạo ra áo giáp kim cang nhưng chỉ là áo giáp kim cang bọt nước, nó vỡ hay không là do sát nghiệp của thần lực Vũ Trụ này, giống như chiếc xe tăng khi bị tên lửa bắn vô làm nó vỡ tan. Có nghĩa là chiếc xe tăng đó cũng là Tinh Khí Thần hợp nhất, nhưng tên lửa là môi trường nó tác động tới, nếu môi trường lớn hơn thì làm cho vỡ tan cấu trúc Tinh, Khí, Thần. 

Trong Vũ Trụ này, về phép thuật thần thông thì Phật với Ma Quỷ như nhau, không thua kém gì nhau. Phật hơn Ma Quỷ là do làm chủ được chân tâm, chân tánh của mình, làm chủ được Đà La Ni tạng tánh của mình. Vì làm chủ được Đà La Ni tạng tánh này nên Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa chính là con Trời; Còn Ma Quỷ là con Trời nhưng nó ở vô minh nên không bao giờ thắng được Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa là vậy. Vì Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa làm chủ Đà La Ni tạng tánh nên hơn Ma Quỷ ở chỗ đó. Vì làm chủ nên Ma Quỷ không thể nào làm hại được con Trời. Nếu các vị không làm chủ được Đà La Ni tạng tánh thì các vị bị Ma Quỷ hại, không cách gì không bị hại. Cho nên không có Ma Quỷ nào hại được Thích Ca Mâu Ni, không có Ma Quỷ nào hại được Quốc Tổ Hùng Vương. Quốc Tổ Hùng Vương độ luôn cả Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, Ma Quỷ trên khắp cả tam thiên, đại thiên thế giới. Cho nên Ma Quỷ không hại được Quốc Tổ Hùng Vương vì Quốc Tổ làm chủ được Tổng Đà La Ni giác tánh, mà Tổng Đà La Ni giác tánh chính là Trời nên trong Vũ Trụ này không có ai có thể hơn được Trời là vậy. Không phải tự nhiên trong Vũ Trụ này không có một vị Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa nào hơn được Trời. Hễ các vị làm chủ hết tất cả các giác tánh Đà La Ni, trở về an trụ được trong cái tâm “Không” của Trời. Giống như vô trụ chính là an trụ, vô tánh chính là tánh thì các vị giống như Trời. Trên thế giới này, trong muôn loài, trong tam thiên, đại thiên thế giới này không ai hơn được. Ma Quỷ không thể nào hại được Quốc Tổ, Quốc Tổ độ luôn cả Ma Quỷ, độ cả Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa nên đó gọi là thiền, các vị hiểu như vậy mới là cơ bản, còn đi sâu vào nó còn nhiều chi tiết nữa. 

b. Chu kỳ kết tinh:

Hôm trước Thầy giảng về người tu thiền cần hiểu rõ chu kỳ kết tinh.

 Thể đặc con người kết tinh ở ngày, nên ngày nào mình cũng ăn, ăn để kết tinh, ăn uống để dưỡng da thịt mình, nên thể đặc kết tinh ở ngày.

Thể lỏng (máu huyết) kết tính ở tháng, muốn hiểu chỗ này nhìn người phụ nữ. Người phụ nữ rõ ràng là máu huyết thải ra theo chu kỳ hàng tháng, người đàn ông nó bị ẩn nên không thể nhìn thấy rõ được nên thể lỏng nó kết tinh ở tháng.

Thể khí kết tinh ở năm. Cho nên muốn hiểu rõ chỗ này thì phải hiểu rõ chu kỳ kết tinh. Ngày là dương, đêm là âm, phải hiểu được khí vận âm dương.

H10: Chu kỳ kết tinh

GIỜ:

+ Giờ Kết dịch:

Giờ Ngọ (11h trưa đến 13h chiều) là trung dương kết dịch, giờ Tý (23h đến 01h sáng) là trung âm kết dịch. Ở con người khi mình ăn vô đến 12h đêm là toàn bộ các cơ quan của mình nó chuyển hóa và nó kết dịch thể. Sáng mình ngủ dậy là mình thấy khác liền vì 12h đêm nó kết dịch thân thể mình. 12h trưa cũng vậy, các vị nghỉ buổi trưa một tý là nó kết dịch, nó dương khí liền.

+ Giờ chuyển vận:

Giờ Mẹo (5h sáng đến 7h sáng) chuyển vận từ âm sang dương. Ví dụ giờ mình cảm thấy chuyển vận chẳng hạn như 6h sáng từ âm sang dương là mình thấy bắt đầu mình chuyển vận cơ thể, các cơ quan ngũ tạng nó bắt đầu chuyển vận.

Giờ Dậu (17h chiều đến 19h tối) cũng vậy chuyển vận từ dương sang âm. Trong cơ thể của mình lục phủ ngũ tạng nó cũng chia ra dương âm mà nó vận hành theo chu kỳ của nó, nên mình phải hiểu rõ chu kỳ kết tinh.

H11: Giờ vận chuyển

+ Đỉnh cao giờ kết dịch và chuyển vận:

Giờ Tý là từ 23h đến 01h sáng, 12h đêm tức 24h chính là đỉnh của giờ Tý.

 Trong giờ nó phân ra hạ, trung và thượng. Trung là trung dương, là nơi sanh ra. Giống như bụng người phụ nữ ở trung mới sanh con, dưỡng nuôi, kết tụ thai nhi. Ví dụ giờ Tý là từ 23h đến 01 giờ sáng, đúng 24 giờ là giờ trung, nên bụng người phụ nữ kết tụ thai nhi ở giữa, bụng là miền trung, con vật cũng vậy con người cũng vậy, ví dụ con cá bụng kết ở thể trung.

Giờ Ngọ cũng vậy, giờ Ngọ từ 11h trưa đến 13h chiều, 12h trưa chính là giờ trung, là giờ đỉnh cao của nó.

Giờ Mão từ 5h sáng đến 7h sáng, 6h sáng chính là đỉnh của nó.

Giờ Dậu từ 17h chiều tới 19h tối, 18h chiều chính là đỉnh của nó.

Tu thiền phải hiểu rõ nó thì các vị mới mong đạt kết quả tốt được.

H12: Tháng chuyển vận

THÁNG:

Kỳ trước Thầy giảng Kinh Dịch

Tại sao tháng 5 là tháng Ngọ? Trong 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông thì tháng 5 ta thấy nó cực dương, mà cực dương chính là Ngọ. Cho nên nó bắt đầu từ Ngọ. Tháng nào rõ nhất trong năm thì chọn. Vì vậy, tháng giêng nó rơi vào tháng Dần, chứ không phải tháng giêng là tháng Tý.

 Tháng 2 là tháng Mão, tháng 2 là tháng chuyển vận giữa âm sang dương. Từ mùa Đông sang mùa dương. Chẳng hạn Ở phương Tây cũng vậy, tháng 2 mới thấy rõ rệt sự chuyển đổi giữa mùa đông và mùa hạ. Tháng 2 chính là tháng Mão, tháng Mão chính là tháng chuyển, tháng 3, tháng 4, tháng 5 nó bắt đầu trổ ánh dương lớn.

Tháng 8, tháng 11 là tháng Tý. Tháng 11 ở phương Tây nó âm cực âm, mới thấy tuyết bắt đầu rơi xì xèo, nên tháng 11 là tháng Tý cực âm.

Cho nên âm dương trong tháng phân định theo mùa, không phải tự nhiên hỏi: Tại sao tháng giêng là tháng Dần mà không phải là tháng Tý? Vì các vị không hiểu về Kinh Dịch. Vì vậy tháng 2, tháng 5, tháng 8, tháng 11 bỏ tu thiền trong các tháng này thì các vị phải đợi thêm một năm tới. Có nghĩa chu kỳ kết dịch về huyết khí của con người, chỉ cần các vị bỏ rơi các tháng này thì các vị phải đợi năm tới. Chẳng hạn như các vị bỏ tu thiền tháng 5 là tháng trung dương, là tháng kết dịch về huyết chất của con người, về khí huyết của con người, về máu huyết của con người là các vị phải đợi tháng 5 của năm tới.

Còn ngày kết dịch thì hết ngày này tới ngày khác, ngày nào cũng có. Nhưng bỏ tháng các vị đợi thêm một năm nữa tới tháng đó. Tu thiền là các vị chỉ ngồi để tịnh tâm cho vui chứ các vị chưa hiểu rõ về nó. Vì vậy, Kinh Dịch này bữa trước Thầy đã giảng rồi nên Thầy không giảng nữa.

c. Can và Chi là gì? Mệnh là gì? Tứ hành xung là gì? Bắt ấn là gì?

Năm Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Hễ các vị tu thiền mà bỏ qua một trong bốn năm Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu thì các vị phải đợi đúng 1 chu kỳ 12 năm, quan trọng cỡ đó. Mà đời người các vị cuối thời mạt pháp 60 năm, để luyện đỉnh cao của nó khó. Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu 12 năm, các vị bỏ qua các vị phải đợi 12 năm nữa, các vị phải luyện đủ 10 chi khí (10 âm, 10 dương) thì mới đạt tới nhị xác thân khủng khiếp như Quốc Tổ ngày xưa.

Nhưng Quốc Tổ ngày xưa có nhiều phương pháp để rút ngắn thời gian tu. Tại vì trong tất cả chi khí của nó đều có Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu. Quốc Tổ góp tất cả Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu đó để rút ngắn thời gian tu luyện của mình. Còn theo chuẩn học từ cấp 1, cấp 2, cấp 3 mới tới đại học nhưng có những con người học từ cấp 1, cấp 2 lên tới đạị học. Tại vì trong các chi khí cũng đều có Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu. Cho nên Quốc Tổ là nhà thông về Kinh Dịch, nên Quốc Tổ góp tất cả Kinh Dịch trong các tháng thành một, vì trong đó nó cũng có Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu như nhau. Còn mình muốn đạt chuẩn giống bình thường các vị phải trải qua lớp 1, lớp 2, lớp 3, lớp 4, lớp 5, các vị phải đi như vậy, phải gom đủ 10 dương 10 âm là 20 chi khí như vậy, giống như mẹ Trời tóm thâu khí Tiên Thiên ở trần gian tạo thành bào thai. Quy tắc y như vậy.

Quốc Tổ ngày đó luyện tới nhị xác thân đạt tới cỡ đó vì Quốc Tổ chính là bậc thầy trong Kinh Dịch. Quốc Tổ hiểu trong các Kinh Dịch có âm có dương như thế nào, Quốc Tổ sẽ lựa trong đó mà lấy nó thành một để tu tiến hóa nhanh nhất. Cho nên chỉ có Quốc Tổ mới làm được, ngay cả Kinh Dương Vương cũng không làm được.

 

H13: Can – Chi - Mệnh

Hôm nay các vị hiểu được rằng tại sao sinh ra mệnh của con người? Mà mệnh không ai giống ai?

Là khi các vị đầu thai xuống chốn nhân gian này các vị nằm trong thế giới của Ngũ Hành, thế giới của Thiên Can và Địa Chi. Vì vậy hễ các vị bước vào vòng xoáy của chơi game thì các vị phải theo luật game của nó. Cho nên người ta nói rằng Dần, Thân, Tỵ, Hợi tứ hành xung. Vậy coi theo số mệnh Dần, Thân, Tỵ, Hợi tứ hành xung mà các vị lại nằm trong các cung này thì làm sao các vị lấy chồng, lấy vợ được? Tứ hành xung là gì? Làm sao để thoát khỏi tứ hành xung?

Tại vì các vị nằm trong Thiên Can và Địa Chi? Các vị đầu thai xuống chốn nhân gian này các vị phải chấp nhận vòng thi của Vũ trụ. Các vị thi làm chủ Vũ Trụ, thi làm chủ chân tâm chân tánh của mình, thi làm chủ các giác tánh Đà La Ni, thi tất cả. Hễ các vị bước vào đó các vị phải tuân theo định luật của nó mà các vị sống. Cho nên mỗi con người sẽ ứng vào cái mệnh của mình, ứng vào mệnh của trò chơi đó, mà cái mệnh tùy thuộc vào Can và Chi.

+ Can: Can có nghĩa là 10 con số: từ số 0 đến số 9, cho nên nó sinh ra Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Con người sẽ rơi vào Can của mình, có nghĩa là rơi vào trong một con số, mà một con số sinh ra mười hai Chi. Có nghĩa là từ con số 0 cho tới con số 9, mỗi người sanh ra, sẽ chọn một con số thì gọi là Thiên Can, gọi là con số Trời. Vậy từ con số 0 cho tới con số 9 là con số Trời.

+ Chi: Từ số 1 đến số 12 là Chi, Có nghĩa trong 1 Can sanh ra 12 chi nhánh, Tại sao nó sinh ra 12 chi? Vì ở Vũ Trụ này nó sinh ra đúng có 4 phương 8 hướng. Các vị nhìn hình sẽ thấy: Trên hình tròn nó chia ra 12 hướng ứng với tất cả các cung mệnh của Trời. Số 5 ở giữa.

Cho nên các vị sinh ra thì Can của các vị, Can thuộc về mệnh Trời, mà mệnh Trời thì nó rơi vào con số từ số 0 đến số 9. Nói chung là từ số 1 đến số 10 (số 0 chuyển thành số 10) là 10 con số. 10 con số này nó cũng có âm có dương. Mỗi con số đó nó ứng với 12 chi khí của nó, các khí đó phân trên vòng tròn thì đó gọi là Địa Chi.

+ Mệnh:

Hễ các vị chọn số và chọn chi khí thì các vị rớt vào con số đó gọi là Mệnh, đó là Kinh Dịch. Giống hình tròn các vị vẽ ra đúng 12 hướng thì ở cõi Trời các vì sao nó cũng phân định y như vậy. Cho nên Thiên Can là con số 0 tới số 9 hoặc từ số 1 đến số 10. Đó là Can của Trời, các vị sẽ chọn số Trời. Âm hay dương các vị tự chọn.

  Một can sinh ra 12 Chi, Can Chi đó cộng lại thành “Mệnh”, mệnh của các vị sẽ rơi vào trong mệnh của các vị ở trần gian này.

+ Tứ hành xung:

Tứ trụ chính là bốn hướng, đứng vào độc lập trong cung tứ giác của hình tròn. Tứ giác này tiếp xúc với hình tròn, với Càn Khôn của nó. Các vị nhìn thấy Thiên Can chỉ nằm trên hình tròn. Tứ trụ nằm trên hình vuông, tiếp xúc với Thiên Can. Bốn trụ này phải độc lập.

Trong tứ trụ, các trụ đó riêng rẽ độc lập nhau, các trụ này trụ vững với Địa Chi, bốn trụ này không thể nào dính với nhau được nên gọi là tứ hành xung.

Hễ gộp chung thành một (bốn trụ thành ba trụ) nó mất cân bằng dễ bị đổ vỡ.

+ Làm sao để thoát khỏi tứ hành xung?

Các vị xuống trần gian chọn trò chơi, để làm chủ Vũ trụ, làm chủ chân tâm chân tánh, làm chủ tất cả. Có nghĩa Trời tạo ra một chiếc xe hơi thì các vị sẽ làm chủ chiếc xe hơi đó mà lái nó đi.

Các vị lấy vợ lấy chồng rơi vào các cung tứ hành xung, rơi vào tứ trụ là bốn phương tám hướng. Các vị gộp hai chi thành một, có nghĩa cụt hẳn một chân gọi là sụp đổ. Hai người này kết hợp, hai chân trở thành một chân là trở thành sụp đổ, trở thành mất cân bằng dẫn tới khó trụ vững trong Thiên Can, Địa Chi. Cho nên gọi là tứ hành xung.

Hễ vợ chồng gộp một, có nghĩa tứ trụ này, hai trụ thành một chân dẫn tới dễ sụp đổ, gia đình dễ đổ vỡ, khó mà trụ vững vuông tròn của nó. Giống đạo vuông tròn, hình vuông ở trong, hình tròn ở ngoài. Các lực Vũ trụ tác dụng vuông góc thành hình vuông góc với nhau. Hễ các vị gộp một mất trụ của nó dẫn tới dễ vỡ, vì không còn vuông góc, chỉ cần lực ngoài tác động là gia đình đổ vỡ. Mà nội thể của nó khó trụ vững khi vòng tròn (Thiên Can Địa Chi) xoay chuyển, khó mà trụ vững. Vì vậy tứ hành xung gây ra nhiều nguy hiểm (ricky). Khi Thiên Can Địa Chi quay vì Vũ trụ quay. Nên hễ mất trụ thì dễ vỡ. Cho nên gọi là tứ hành xung. Làm sao để thoát khỏi tứ hành xung?

Trường hợp 1: Hễ các vị bái đường Tiên Tổ thành thân, có nghĩa Tổ tiên cho các vị gộp chung nó lại, là các vị phải đứng vị trí Thiên Can, Địa Chi. Có nghĩa là các vị chấp nhận cuộc chơi, các vị đi vào gộp chung, các vị lãnh đủ? có nghĩa các vị gộp 2 trụ lại thành một trụ, khi các Thiên Can, Địa Chi xoay chuyển, hễ Thiên Can Địa Chi quay, tùy thuộc vào sự chống đỡ của các vị, các vị té, mất cân bằng là do các vị chọn chứ không phải do Trời. Nghĩa là nó xoay chuyển nó dễ đổ vì nó mất cân bằng.

Giống các vị chơi đu quay, các vị chọn không thắt dây an toàn thì nó quay là văng luôn. Còn hễ chơi đu quay các vị chọn thắt dây an toàn thì nó an toàn.

Những người lấy nhau ở cung tứ hành xung tuyệt đối đừng ở chung với nhau nhiều. Ví dụ người ở Nam, người ở Bắc lâu lâu gặp nhau, có nghĩa lâu lâu tứ trụ này hợp nhất về con số 5, rồi nó trở lại về như cũ. Đó là phương pháp tránh tứ hành xung. Có nghĩa vợ chồng đừng ở với nhau nhiều, chịu cảnh đứng tứ trụ. Tại vì bốn trụ phải đứng, hễ có hợp lại (là hợp ở con số 5) giống Liên Hợp Quốc cuối cùng cũng trở về tứ trụ của nó. Ví dụ: Tổng thống Mỹ, Pháp, Nga, Trung Quốc họp rồi cũng phải tẻ ra về nước của họ. Có nghĩa là các vị ở trong thế tứ trụ, các vị không nên gộp thành một giống như vĩnh viễn, giống như anh ở đâu, em ở đó. Các vị phải hiểu mình đang ở tứ trụ, các vị phải chọn cách để đứng tứ trụ, thì lấy nhau không bị gì cả, vì mình hiểu nó.

Trường hợp 2: Cho nên hễ các vị bái đường các vị gộp chung nó lại, lỡ lấy nhau phải ở xa nhau. Còn nếu không bái đường thì không sao hết, giống nhà ai nấy ở. Có nghĩa là trụ nào đứng trụ nấy. Nếu không cưới nhau thì có thể ở gần nhau, giống như các Thiên Can, Địa Chi, sinh con đẻ cái bình thường nhưng tuyệt đối sống chết có nhau, hai đứa lấy dây cột lại với nhau thành một trụ, là ráng chịu, giống mình chơi đu quay mà tháo dây an toàn, hễ quay mạnh quá, tay giữ ghế không chặt nó văng luôn. Tại vì không có dây an toàn, giống chơi đu quay, các vị nắm tay vào hai cái ghế, các vị không thắt dây an toàn, hễ nó quay, tay các vị giữ không chặt thì nó rớt luôn.

Nên nhiều người nói: Tại sao nhiều người tứ hành xung mà ở lại được, vì lực tay của nó nắm, nó quay nhưng tốc độ quay chậm. Vòng xoáy cuộc đời của họ quay chậm, còn những trường hợp Thiên Can, Địa Chi quay nhanh là tiêu liền. Đó là Thiên Can Địa Chi, đó là Kinh Dịch phương Đông. 

+ Bắt Ấn là gì?

Vị trí trên các ngón tay của mình nó ứng với: Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Trên tay của các vị, khi các vị tu thiền nó ứng với Tý, Sử, Dần, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi… là trên ngón tay các vị, thầy có đưa hình minh họa. Khi các vị bắt ấn Tý là cái ngón cái của mình là ngón chủ chi. Nếu ngón cái bấm vào nút nào ở trên bàn tay mình thì gọi là bắt ấn. Ấn Tý, Ngọ, Dần, Mẹo, Thìn, tỵ, Ngọ, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, nó ấn vào các nút đó.  Ngón cái chính là ngón chủ chi, là chi chủ. Hễ chi chủ ấn vào nút nào giống ngón cái chính là Thiên Can, ngón cái là mẹ (mẹ là đứng ở thiên can).

Ngón cái bấm vào chỗ nào thì có nghĩa mình đang bắt ấn ở cung mệnh đó. Cho nên bắt ấn Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu… chính là bắt ấn ở cung mệnh. Hiểu rõ Kinh Dịch là phải hiểu rõ tận tường vậy đó. Hiểu rõ Kinh dịch các vị làm gì cũng được. Hễ các vị bắt ấn Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu có nghĩa dùng ấn cái, ấn cái chính là Thiên Can, chính là chủ chi, cái là mẹ.

H14: Bắt Ấn

Hễ bấm vào trong Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu… trên bàn tay như hình trên là sử dụng bàn tay trái thì Tý nằm ngay vị trí ngón đeo nhẫn; Các vị trí Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi tính theo thuận chiều kim đồng hồ; Còn khi các vị dùng bàn tay phải thì các vị trí Tý cũng nằm ngay ngón đeo nhẫn đó nhưng phải tính Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi tính theo ngược chiều kim đồng hồ.

Nam tả nữ hữu, bàn tay trái là tính theo thuận chiều kim đồng hồ, bàn tay phải tính theo ngược chiều kim đồng hồ. Cho nên hễ bắt ấn Tý, Ngọ thì:

●  Người nam bắt tay trái ấn Tý mà tay phải bắt ấn Ngọ.

●  Người nữ tay phải bắt ấn Tý tay trái bắt ấn Ngọ.

Như vậy khí huyết trong con người mới dịch chuyển tốt được. Còn mấy anh tu thiền bây giờ thì nam nữ bắt ấn như nhau nên nữ tu miết thành đảo lộn kinh mạch, đảo lộn thần khí tùm lum hết. Nguyên nhân là do mấy thầy dạy thiền không hiểu gì hết trơn, không hiểu về Kinh Dịch, ảnh chỉ dạy cho mọi người như nhau nên đa số phụ nữ bây giờ họ tu thiền lần lần tâm trí họ bị đảo ngược kinh mạch hết. Còn mấy anh nam giới ít bị hơn tại vì ngày xưa đạo Phật không cho nữ tu. Cho nên cái gì cũng bắt theo nam. Thời này phụ nữ đắc đạo cao lắm. Thầy chỉ dạy làm cho phụ nữ điên điên loạn loạn đầu, vì anh không hiểu Kinh Dịch là gì. Cho nên ngày xưa các chùa chiền không cho phụ nữ tu, ở Trung Quốc đâu có cho tu đâu. Nên đa số các tu thiền đó đều theo Kinh Dịch của nam giới. Nên đến thời mạt pháp này nữ giới là Phật, Thánh, Tiên, Thần hạ phàm nhiều lắm, mà nữ bây giờ thời cơ của Đức mẹ Âu Cơ cho nên phụ nữ họ ngộ đạo cao lắm, nam giới khó sánh kịp.

Nên khi mấy thầy vô tình dạy cho nữ giới làm cho nữ giới choáng váng mặt mày, tu miết điên điên, khùng khùng. Tu riết tính khí lúc nam lúc nữ. Nó chuyển tính khí, nó chuyển khí vận con người làm cho người phụ nữ khó mà an định được, lần lần tu miết dẫn tới tẩu hỏa nhập ma. Ngay thầy nghe ông Ngô Tuấn Kiệt, ông chỉ người ta tu thiền trên núi Thiên Long Sơn, ông chỉ nam nữ bắt ấn như nhau. Ổng chỉ tầm bậy, làm miết vài bữa, nữ giới sẽ đảo lộn kinh mạch, nam giới không bị. Nên mù trí, không hiểu về Kinh Dịch đâu, không hiểu về tạo hóa, không hiểu về vận khí hóa cho nên nói bậy khắp cùng.

Thời bây giờ thời của Đức mẹ Âu Cơ, phụ nữ họ ngộ đạo cao dữ lắm, họ ngộ tánh tình thương của họ lớn lắm, mà tính tình thương chính là đi đến tính bình đẳng giống như nam giới. Từ bi chính là bình đẳng, cho nên nữ hay nam như nhau. Từ bi chính là bình đẳng, từ bi giống như Đức Mẹ Âu Cơ. Cho nên phụ nữ bây giờ họ ngộ đạo cao lắm. Nhưng mà mấy cái anh chủ trì thường mang dương tánh, dương thường môn tánh chủ trì, ảnh dạy thiền môn tầm bậy, làm cho phụ nữ đảo lộn kinh mạch, lần lần điên đảo không an định cái tâm linh của mình. Nam giới không bị nhiều mà nữ giới thì thôi khắp cùng, làm cho nữ giới mất đi tính an định của mình, lần lần tu miết điên cuồng, điên loạn vì kinh mạch đảo lộn, khí huyết đảo ngược. Tại vì ngày xưa Tôn giáo họ không cho nữ giới tu, các vị thấy các chùa chiền bên Trung Quốc làm gì có nữ giới tu. Ni Cô sau này mới phát triển ra, ngày xưa muốn làm thầy chùa nữ phải giả trai, chứ không ai cho vô đó tu.  Vì vậy mới sanh ra cái phái Nga Mi vì bên phái Võ Đang họ không cho. Các vị không hiểu được đâu, các triết lý đạo gia bên Trung Quốc lần lần họ lấy theo nam giới sử dụng. Vào thời của Long Đế Sùng Lãm người phụ nữ cũng nhiều chuyện, cho nên Long Đế Sùng Lãm cấm phụ nữ can dự triều chính, nhưng mà bây giờ nó khác. Thời Đức Mẹ Âu Cơ người phụ nữ ngộ tánh từ bi, tánh từ bi chính là tánh bình đẳng. Cho nên nam nữ bình đẳng như nhau. Vì tánh bình đẳng chính là tánh từ bi, nên hai cái này giống như nhau. Nữ giới bây giờ ngộ chân tâm chân tánh cao dữ. Nhưng có điều mấy anh xuống trần cái thời mạt pháp này, ảnh xưng hùng xưng bá, ảnh lấy y cái cũ của ảnh, ảnh không hiểu gì về Kinh Dịch, anh dạy thiền, ảnh chỉ bắt ấn nữ nam, bắt ấn Tý Ngọ như nhau. Cuối cùng nam thì ít ảnh hưởng, nhưng mà nữ thì khí huyết đảo lộn, lần lần điên loạn, làm mất đi cái an định của họ. Tại vì họ chọn cái thân nữ tướng, thân nữ để tu thiền. Lâu nay anh lấy y thiền môn của bên Trung Quốc. Cao Đài, Hòa Hảo cũng như nhau, không có anh nào dạy nam nữ bắt ấn cho trúng. Vì thế nam tu thì càng ngày càng sáng láng ra, còn nữ tu càng ngày càng trở nên vô nghĩa. Nó đảo ngược. Nên đã học Kinh Dịch phải hiểu rõ Kinh Dịch.

H15: Thiên Can, Địa Chi

Thầy giảng tới đây một phần Thiên Can, Địa Chi, hôm sau thầy giảng tiếp. Ở phương Nam, Can Chi quyết định cái mệnh. Nhưng muốn đoán vận tính khí con người phải dùng Kinh Dịch phương Tây. Đoán tính khí con người mà để biết tới chi tiết của nó dùng Kinh Dịch phương Đông tính toán hơi lâu. Nên muốn đoán tính khí của một con người dùng Kinh Dịch phương Tây nhanh nhất. 

Các vị đang tính chu kỳ của năm Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi, Thân Dậu, Tuất, Hợi. Tính vào chu kỳ của tháng, người phương Đông hay lẫn lộn giữa chu kỳ tháng với chu kỳ năm. Cho nên tính để mà tính đạt tới tính khí của con người rất khó. Nhưng phương Tây tính vào Chi của tháng. Từ Chi của tháng chuyển sang Chi của ngày. Có nghĩa là nó ứng hiện với thủy triều lên, giống trong một tháng thủy triều lên xuống. Các sao của tháng chiếu theo cung mệnh. Theo Kinh Dịch phương Tây con người đoán vận tính khí của người đó chính xác. Cho nên Kinh Dịch phương Đông của mình tính theo chu kỳ của năm Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi, Thân Dậu, Tuất, Hợi. Nhưng tháng tính theo Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi, Thân Dậu, Tuất, Hợi thì tính tháng hơi cực. Vì các vị thường phân định, không hiểu mùa của tháng, của năm. Ở Phương Tây sử dụng theo các chu kỳ của ngôi sao, tính theo chu kỳ của tháng. Có nghĩa “tính” tính khí của con người trong vòng một năm. Có nghĩa là nó gần Kinh Dịch với con người, hiểu tính khí con người nhanh nhất.

 Vì vậy muốn đoán, muốn nhìn tính khí con người dùng Kinh Dịch phương Tây đoán một cách chính xác. Đoán cung mệnh của con người dùng Kinh Dịch phương Đông tính là chính xác. Kinh Dịch phương Tây không tính được cung mệnh, muốn tính cung mệnh theo phương Tây khó, phải là một nhà thiên văn học tài năng mới tính được cung mệnh của các vị như hoàng đế Napoleon hay các vị hoàng đế các nước La Mã. Ngày xưa muốn tính cung mệnh của các vị hoàng đế phải là những người giỏi của phương Tây mới làm được. Còn ở phương Đông tính được cung mệnh dễ, nhưng tính (đoán) được tính khí của họ khó. Cho nên đó là Kinh Dịch thiên kinh vạn quyển.

Hôm nay thầy giảng tới đây các vị hiểu được ăn chay, ăn mặn. Các vị hiểu được Thiên Can, Địa Chi là tốt rồi. Các vị hiểu được thế nào là tứ hành xung là các vị cũng hiểu được rồi. Tứ hành xung là cái gì? Không hiểu tại sao lại gọi là Tứ hành xung? Tứ hành xung có nghĩa là hình tứ giác này tiếp xúc với Thiên Can của nó. Khi Thiên Can, Địa Chi quay chuyển, chính là cái mệnh con người quay chuyển. Hễ các vị lấy vợ, lấy chồng mà gộp hai trụ thành một trụ, giống các vị chơi đu quay, các vị chơi thoát dây an toàn, nắm hai tay vô đu quay, lực tay thua lực quay của Vũ Trụ các vị tiêu tan một là vợ chết, hai là chồng chết hoặc gia đình tan nát… Muốn giải quyết nó: Ví dụ hễ bái đường gộp một, nhưng nếu bái đường buộc phải tách ra trở về như cũ. Mà hễ không bái đường vô chuyện không sao. Đến với nhau đừng bái đường không sao hết, tại vì người nào cũng giữ trụ của nó, luân chuyển theo trụ của nó. Các vị không hiểu Kinh Dịch rất nhiều, các vị đọc Kinh Dịch khắp cùng nhưng để hiểu nó các vị không hiểu, tại vì các vị không hiểu định luật tuần hoàn Vũ Trụ. Cho nên khi các vị bước vào vòng xoáy của trần gian, các vị đã chọn Thiên Can và Địa Chi cho mình. Để vào chơi game này để làm chủ định luật Vũ Trụ, làm chủ chân tâm chân tánh, làm chủ các giác tánh Đà La Ni của mình. Đó là trò chơi của trần gian để giúp con người làm chủ nó. Trời tạo ra vòng tuần hoàn này để giúp con người ngộ chân tâm chân tánh mà trở về Bản thể Linh giác Vũ Trụ. Các vị không làm chủ nó, các vị không bao giờ trở về làm chủ định luật, trở về bản thể Linh giác Vũ Trụ được. Cho nên Cội Nguồn chính là bảy giáo, không thiếu Tôn giáo nào, nó là bậc thầy của bảy giáo. Nó giải quyết tất cả các vấn đề.              

Hiểu được Quốc Tổ Hùng Vương nhân ngày 10/3, các vị phân định rõ đâu là trung hiếu. Các vị đọc Kinh Dịch khắp cùng nhưng để hiểu được nó thì các vị chưa bao giờ hiểu hết được, vì các vị không hiểu được các định luật tuần hoàn của vũ trụ. Trời tạo ra vòng tuần hoàn này để giúp con người ngộ chân tâm chân tánh mà trở về với lại bản thể Linh Giác Vũ Trụ, các vị không làm chủ nó thì các vị không bao giờ trở về lại bản thể Linh Giác Vũ Trụ được. Cội Nguồn không phải giống như Phật giáo không đâu, nó không thiếu tôn giáo nào, nó chính là bậc thầy 7 giáo, cho nên nó giải quyết hết tất cả các vấn đề. Khoa học khắp cùng.

Thầy đi qua câu hỏi: Hôm nay các vị hiểu được ăn chay, ăn mặn. Hiểu được một phần Kinh Dịch, hiểu được Quốc tổ Hùng Vương nhân ngày mùng 10/03. Các vị phân định rõ đâu là trung hiếu. Cho nên các vị nói, hành theo tứ ân của nhà Phật nhưng thấy các vị có hành theo đâu. Thấy các vị đại đức giác ngộ có anh nào hành theo đâu. Bất trung bất hiếu sao gọi đắc đạo được, chỉ lừa thiên hạ, miệng nói một đường, tâm nghĩ một nẻo.   

4. TRẢ LỜI CÂU HỎI CỦA HỌC VIÊN

CÂU HỎI SỐ 1:

Hỏi: Thưa Thầy Năm Dần có tháng giêng, là tháng khởi đầu năm mới ứng với năm Nhâm Dần và 365 huyệt trong đường nhâm mạch của tiểu thiên Vũ Trụ. Có 30/30 ngày âm dương tương hợp, vạn vật hóa sanh. Tháng 3 âm lịch và tháng 4 dương lịch lại tiếp tục 30/30 âm dương tương hợp, vạn vật hóa sanh và trong tháng này lại là ngày Tổ phụ về Trời. Kết lại hai trường hợp tháng giêng trước một tháng ngày Tổ phụ xuống trần 20/02 và tháng sau tưởng nhớ ngày Tổ phụ về Trời. Có phải báo hiệu từ năm nay trở đi Văn Hóa Cội Nguồn thiên ý Cha Trời, thiên luật Vũ Trụ sẽ phát triển tốt giống như đời đạo là một? Âm dương tương hợp?

THẦY NHÂN THẬP TRẢ LỜI:

Theo chu kỳ tạo hóa, hễ Mẹo là chuyển. Năm Mẹo là năm thuận chuyển từ âm sang dương, nên các vị sẽ thấy có nhiều sự thay đổi, mà các vị cũng đã thấy dần dần thay đổi rồi. Không phải là Thầy không biết nhưng vì bí mật của Vũ Trụ Thầy không được phép nói nhiều, nhưng Thầy nói rằng tới năm Mẹo là nó bắt đầu chuyển. Giống như tu thiền cũng vậy, tới giờ Mẹo là nó chuyển từ âm sang dương, Ngọ là đỉnh kết dịch, Tý cũng là đỉnh kết dịch, mà Dậu thì nó chuyển từ dương sang âm. Vậy cơ Thánh Đức là cơ gì? Cơ Thánh Đức là cơ từ âm sang dương. Hễ năm Mẹo là năm từ âm sang dương nên năm Mẹo là năm có nhiều sự chuyển biến lớn, chuyển biến như thế nào thì các vị có thể xem ý Trời, cơ Trời. Tới năm Ngọ là đỉnh của nó và Con Rồng Cháu Tiên đi đến phát triển lớn.

CÂU HỎI SỐ 2:

Hỏi: Thưa Thầy, thánh thư từ thiên đình có phải xem là cây tâm linh để tiên tri trước cho nhân loại những gì sắp xảy ra như các vị chư thiên nhắc nhở phải không?

THẦY NHÂN THẬP TRẢ LỜI:

Đa số con người không hiểu hết thiên cơ. Chư thiên họ nghe thiên cơ từ các vị giáo chủ các cõi trời họ thuyết pháp hằng ngày. Giống như Đức Di Lặc Thế Tôn ổng thuyết pháp ở cung trời Đâu Suất Đà Thiên, thì các vị Thần Thánh này nghe được tất cả các thiên cơ bí mật của vũ trụ đó. Còn các vị ở cõi trời Trung Thiên Giới, hằng năm tới mùa hoa sen nở họ đều hiểu được thiên cơ của trời. Vì nơi đó là nơi hội tụ vào mùa sen nở ở cõi trời Phước Sanh, thì các thiên cơ này do các vị giáo chủ đó nói ra. Cho nên Phật Thánh Tiên Thần Chúa ở khắp hạ hạ thiên vũ trụ đều hiểu rõ và trần gian cũng hiểu, ở âm cảnh họ cũng hiểu, các nhà nước tâm linh họ cũng hiểu. Vì vậy họ cùng đó mà tạo dựng công đức cho mình, họ nhập vào các linh điển hoặc nhập vào xác ở trần gian hay điển quang tùm lum. Để giúp cho con người hiểu rõ thiên cơ nhưng mà cũng có những người họ làm bậy, cũng có những người họ làm đúng thì công tội do Trời phán xét. Không có vị Phật Thánh Tiên nào phán xét công tội của tiểu thiên vũ trụ mà chỉ có Trời mới phán xét được. Các vị giáo chủ ở Trung Thiên Giới họ không bao giờ phán xét đệ tử, mà các đệ tử làm gì thì trời đất theo luật của nó mà vận chuyển. Vì có luật Trời nên họ không bao giờ sinh ra oán hận về ai nữa. Giống như những người giết Chúa GiêSu thì Chúa GiêSu ổng không bao giờ oán hận, vì ổng biết rằng những người đó sẽ bị luật Trời xoay chuyển. Nên người Do Thái phải bị hủy diệt và làm nô lệ khắp cùng mặc dù họ thông minh vì tội giết con Trời. Chứ không phải đơn giản đâu, phải lãnh đủ hậu quả đó, Trời ổng giải quyết vấn đề. Các vị có làm hại các vị giáo chủ đi nữa nhưng mà họ vẫn không bao giờ làm rung động mảy lông của họ. Họ biết rằng Trời sẽ xoay chuyển các vị, nên các vị có làm gì cũng không bao giờ thoát được lưới Trời. Các vị có lừa dối thiên hạ khắp trần gian này đi nữa, các vị cho dù cả thế gian này tung hô vạn tuế đi nữa nhưng mà các vị không bao giờ thoát được lưới Trời đâu. Đừng có tưởng rằng thiên hạ thế giới này suy tôn các vị, rồi nghĩ rằng vượt qua được linh giác của Trời là sai lầm. Các vị lừa được thiên hạ không bao giờ lừa được Trời, mà trong vũ trụ này Trời sẽ xoay chuyển linh hồn của các vị như trở bàn tay.

Những người lừa thiên hạ, kết bè kết phái lừa thiên hạ hại các giáo chủ mà Trời biết hết. Trời ổng xoay chuyển các vị tiêu tan hết phước phần, mà còn hễ làm hại luôn tới con đường của Thiên Ý là Trời nhốt luôn các vị trong hố đen đến khi cái huệ mạng linh hồn của các vị tiêu. Âm phủ không nhốt được các vị thì Trời trong linh giác vũ trụ hiện thành hố đen hút các vị, nhốt đến khi nào trí tuệ các vị tan biến luôn rồi thả ra. Đó là huyền Mật Tạng của vũ trụ các vị không bao giờ qua được huyền Mật Tạng của vũ trụ, đừng có tưởng làm ác mà không ai biết. Đừng tưởng rằng mình kết bè kết phái hại thiên hạ mà trời đất không biết, hại tới các vị giáo chủ hạ phàm. Vì các vị giáo chủ xuống trần gian là họ hy sinh hết tất cả làm theo Thiên Ý của Trời, hễ các vị hại cái người đó thì các vị sẽ lãnh đủ hậu quả. Chứ những người đó họ không bao giờ oán hận các vị, họ không bao giờ mảy ra sợi lông nào ác á. Nên tâm họ luôn luôn bình đẳng vì họ biết rằng có luật Trời phán xử.

Nếu các vị tu thiền luyện khí đạt tới chữ không rồi làm ác thì Địa Ngục không nhốt được các vị, Trời ổng sẽ hiện ra hố đen hút các vị nhốt vào đến khi nào trí tuệ của các vị tan thôi, linh căn huệ mạng các vị tan luôn. Đó là huyền Mật Tạng của vũ trụ, đừng tưởng rằng ta tu thiền luyện khí đạt tới vô thiên là ta có thể hại được con Trời, không làm được đâu. Khi đó Địa Ngục không nhốt các vị được, các vị luyện tới phép thuật thần thông nên pháp thuật của Ma Vương với Phật như nhau. Phật ko thể nào đánh phép hơn Quỷ đâu mà Quỷ cũng không bao giờ đánh phép hơn Phật. Nên 2 bên đó đánh hoài đánh mãi không bao giờ hết. Nhưng hễ hại con Trời thì cái linh giác vũ trụ hiện ra hố đen hút vô luôn, hủy linh hồn các vị tiêu luôn. Cha Trời nhốt các vị trong đó. Cha Trời là chủ càn khôn vũ trụ mà hễ các vị hại tới con đường Thiên Ý của Cha Trời là Trời hút nhốt vô trong hố đen. Nên đừng có tưởng giỡn, đừng tưởng mình làm sai mà không ai biết. Thiên hạ họ theo bè theo phái, họ tôn phong theo thời mạt pháp này, họ hùa theo mà họ đâu biết họ hùa theo cái đúng hay là cái sai đâu nên cuối cùng cũng bị nhốt vô.

Các vị làm Phật Tổ cũng nằm trong tam giới này, các vị chưa ra khỏi tam giới đâu. Cuối mạt pháp con người thường cống cao ngã mạn, 36 cái tánh ác chủ lực của vũ trụ này nó hiện trong tâm các vị. 36 tánh ác này nó hợp với linh giác sát nghiệp của vũ trụ mà linh giác sát nghiệp sinh ra từ đâu các vị đã hiểu rõ. Nó hợp với linh giác sát nghiệp của nó mà linh giác sát nghiệp này không phải giết thú vật mà giết con người. Giết một con người nó sinh ra sát nghiệp tăng muôn triệu ức lần so với giết động vật vì con người là tiểu thiên của vũ trụ. Trong các công ty hay các cuộc chiến tranh xảy ra chết người thì cái sát nghiệp nó tăng đến muôn triệu ức lần mà các vị phải trả cái giá khủng khiếp. Cuối thời mạt pháp chiến tranh xảy ra, sát nghiệp sinh ra nên bệnh tật không bao giờ dứt được. Hễ giết động vật giết hàng vạn nhưng mà không bằng giết một con người. Hễ giết con người là coi như cái sát nghiệp nó oán hận vào trong Linh Giác Vũ Trụ khủng khiếp, tăng cao khủng khiếp.

Nên giờ xã hội ở mạt pháp này sát nghiệp lớn là do bất công, mất bình đẳng, do sát hại lẫn nhau vì danh, vì lợi vì đủ thứ. Không phải Quỷ giết Quỷ không đâu đến nỗi Phật Thánh Tiên Thần Chúa ở Non Tiên Cực Lạc và Dục Giới hạ phàm vẫn giết nhau bình thường. Vì danh vì lợi vì 36 chủng tánh ác đó mà họ giết hại lẫn nhau, hại gia đình người ta đi vào tự tử, chết túa bua xua, rồi các nhà khoa học có khoa học dương, khoa học âm. Khoa học dương là chế tạo ra nguyên tử, súng đạn giết người. Giống như nước Mỹ năm nào cũng có người cầm súng giết nhau khiến cho sát nghiệp tăng tăng hoài nên nước Mỹ đến một hồi nào đó, có thể là 100 năm sau nước Mỹ sẽ suy trào chứ không phải không xảy ra đâu. Thầy thiền định thấy rõ như ban ngày. Do mất công bằng bình đẳng xã hội phân hóa tranh giành vì quyền lực giết con người hàng loạt, cái này sát nghiệp lớn hơn hàng vạn lần các nhà máy giết mổ súc vật, lớn hơn hàng vạn lần các nhà máy ở Mỹ giết trâu bò. Sát nghiệp nó khủng khiếp vậy. Tại vì con người nó kết nối linh giác thần thông vũ trụ khủng khiếp. Nên vì mất công bằng xã hội, đàn áp xã hội mà người dân khóc oán khắp cùng nước Mỹ. Không chỉ có nước Mỹ. Ở Mỹ đi vào khu ổ chuột CaLi sẽ thấy sự oán hận. Nên sát nghiệp của nó khủng khiếp lắm, bao nhiêu những cái oan ức đủ thứ trên đời.

Cho nên 10 đại nguyện của Quốc tổ Hùng Vương là để giải quyết các vấn đề đó, làm trong sạch lại Linh giác Vũ Trụ. Cho nên 10 đại nguyện của Quốc Tổ không phải tự nhiên mà có. Vì 10 đại nguyện của Quốc tổ mà Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa hạ phàm, Thích Ca Mâu Ni hạ phàm, Quán thế Âm Bồ tát hạn phàm ở nước Việt. Mắt thường không thấy được. Vì 10 đại nguyện của Đức Quốc Tổ mà Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa trong khắp cùng Vũ Trụ hạ phàm.

 Sự oán hận, sát nghiệp bây giờ không phải do giết súc sanh gây ra không đâu mà do sự giết con người lẫn nhau trong xã hội. Chẳng hạn như Putin giết người hàng loạt, thì những oán hận sát nghiệp đó thấu lên tận trời xanh, xông thẳng lên tới cung trời Đao Lợi Thiên, rồi nó xông tới cả cõi trời Phước Sanh trung thiên giới. Vì nó đi vào cái linh giác thần thông của Vũ Trụ gớm lắm. Cuối thời mạt pháp này chủ yếu là do con người hại nhau, giết nhau khủng khiếp mà khiến cho cái sát nghiệp lớn vô cùng. Tuy giết động vật, giết cá Heo, cá Voi ngoài biển, rồi giết các linh thú, giết những linh mộc, tàn phá rừng đã thấy khủng khiếp rồi, nhưng cái chủ lực to lớn nhất vẫn là giết hại con người. Một số nơi ở Việt Nam, con người hại nhau vì cái danh cái lợi, hại nhau đến thân tàn ma dại, tạo ra ma túy để hút chích, tạo ra đủ thứ văn hóa đồi trụy hại con người đi đến chỗ oán hận khủng khiếp, mà thấu tận trời xanh. Các vị ở Trung Thiên giới bắt buộc theo lệnh Trời hạ phàm, theo chân Quốc Tổ mà để phò trì 10 đại nguyện của Quốc Tổ. Cho nên đó là Thiên cơ.

 Các vị không biết môi trường sát nghiệp này từ đâu tạo ra nên các vị nói rằng là do giết hại động vật quá mà tạo ra Covid, không phải đâu mà do chính cái sát nghiệp đã giết người hàng loạt. Tiểu thiên vũ trụ này mà giết hại lẫn nhau thì cái sát nghiệp lớn lắm. Nên các vị thấy xã hội Việt Nam mấy thằng ăn cướp nó giết người ghê gớm, giết người cướp của rồi hiếp dâm đủ thứ trên đời. Các chủ tịch Tập đoàn lớn họ còn giết người hàng loạt, vì danh lợi với nhau mà hại nhau tới nỗi khủng khiếp, không tưởng tượng được, đó mới gọi là sát nghiệp của Vũ Trụ này.

CÂU HỎI SỐ 3:

Hỏi: Thưa Thầy, khi con người bình thường chưa giác ngộ, lúc ngủ mình không kiểm soát được tâm thức còn các bậc giác ngộ như các vị Phật, Thánh, Tiên lúc ngủ các vị ấy kiểm soát được tâm thức của mình không?

THẦY NHÂN THẬP TRẢ LỜI:

Khi các vị học tới Linh Giác Vũ Trụ thì các vị sẽ hiểu được Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa cũng chính là con của Linh Giác Vũ Trụ, hễ Linh Giác Vũ Trụ sao thì họ cũng giống như vậy. Ví dụ như: Khi các vị đi vào đại định, có nghĩa là đi vào ngủ sâu không biết gì (nếu người ta có khiêng các vị ném ra ngoài đường các vị cũng không biết gì) nhưng nó vẫn thấy nghe hay biết tự nhiên. Giống như khi các vị nhắm con mắt của mình lại nhưng các vị vẫn thấy nhưng mà thấy tối thui. Nghĩa là do sự thấy nghe hay biết tự nhiên liên tục mà hình thành lên Linh Căn Huệ Mạng linh hồn. Các vị giác ngộ cũng vậy, nhưng mà Linh Giác của họ, họ biết. Giống như các vị chích thuốc mê thì bác sỹ mới phẫu thuật được, không chích thuốc mê thì làm sao phẫu thuật được. Chích thuốc mê vô giống như một giấc ngủ sâu, mà đến ngay cả khoa học bây giờ rất phát triển (kể cả khoa học Mỹ) cũng không giải thích được tại sao khi chích liều thuốc mê vô con người đi tới chỗ đó.

Cho nên Văn Hóa Cội Nguồn là khoa học của Vũ Trụ, khoa học biện chứng Vũ Trụ. Câu hỏi này có nghĩa là hễ bản thể Linh Giác Vũ Trụ sao thì con người Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa cũng như vậy vì Linh Giác của mình cũng chính là Linh Giác của Vũ Trụ.

CÂU HỎI SỐ 4:

Hỏi: Thưa Thầy, đọc Long Hoa Thiên Tạng Kinh có nói vũ trụ Ta Bà, trung tâm hình thành cách đây khoảng 2 ngàn 5 trăm lẻ 3 triệu năm. Hình thành sau 6 vũ trụ kia, cũng có nói rằng Vũ Trụ này diệt thì Vũ Trụ khác hình thành, quá trình này lặp đi lặp lại vô lượng vô biên Vũ Trụ. Vậy thì có điểm khởi thủy hình thành Vũ Trụ đầu tiên không? Đồng nghĩa với Linh Căn Huệ Mạng linh hồn cũng vô thủy vô chung không có khởi thủy?

THẦY NHÂN THẬP TRẢ LỜI:

Vũ Trụ Ta Bà trung tâm hình thành cách đây khoảng 2 ngàn 5 trăm lẻ 3 triệu năm, nhưng thực sự con số này nó không chính xác. Khi đánh máy có thể là thiếu con số. Đúng phải là 2 trăm ngàn, 5 trăm lẻ 3 triệu năm, là tính từ lúc chưa có quả địa cầu nào hình thành ở Vũ Trụ Ta Bà, khi đó nó là một bản thể hư không của Vũ Trụ, nó chưa có Vũ Trụ nào hết thì ít nhất là 2 trăm ngàn 5 trăm lẻ 3 triệu năm. Sau này kinh Long Hoa Thiên Tạng Thầy sẽ sửa lại, tại khi đánh máy nó không đúng.

Vũ Trụ này các vị phải xem xét hư không khi nào? Hư không khi 6 cái hư không vũ trụ này chưa hình thành. Hay là cái hư không khi nó hình thành cái vũ trụ đầu, các hư không kia nó vẫn còn ở trong hư không.  Rồi hư không của vũ trụ Ta Bà là khi 4 quả địa cầu nó nổ tung, nó chỉ còn lại thượng thiên, trung thiên và từ tầng địa phủ thứ 11 trở xuống. Thì khi đó 4 quả địa cầu và núi Tu Di này nổ tung thì nó cũng trở thành thể không.

Các vị phải hiểu thế nào là hư không vũ trụ. Nên hư không này cái vị phải ước lượng được cái không gian chiếu của nó. Muốn biết được khởi thủy của nó là khi đó nó không có cái gì hết, đó gọi là khởi thủy vũ trụ. Còn các hư không mà giống như hết lực rồi nó nổ tung 4 quả địa cầu, rồi nó hợp lại quả địa cầu, khi nó nổ tung vậy nó trở về với không nó vẫn là không. Khi đó nó giữ được cái Trung Thiên Giới, Thượng Thiên Giới và 8 tầng Địa Phủ phía dưới, còn lại từ tầng 10 trở lên cho tới 6 cõi trời dục giới nó nổ tung tan tành, núi Tu Di nổ tan tành thì nó cũng trở thành hư không. Cái hư không trong vũ trụ, các vị phải hiểu cái hệ quy chiếu của nó.

CÂU HỎI SỐ 5:

 Hỏi: Thưa Thầy, Phật Thích Ca Mâu Ni giảng pháp hơn 40 năm nhưng rốt cuộc ông có nói một câu là: Pháp vô định pháp. Đây có phải ông chưa đạt đến Tâm Vương hay làm chủ Tâm Vương không?

THẦY NHÂN THẬP TRẢ LỜI:

Phật Thích Ca Mâu Ni nói câu “pháp vô định pháp” là ý nói pháp của Phật Thích Ca Mâu Ni nó vô định, không có cố định. Cho nên con người mà chấp vào pháp của ổng là những con người phàm phu tục tử. Giống như khi nãy Thầy nói, hễ phân biệt thì sinh ra sở nghiệp, mà sở nghiệp thiện thì nó là vị Phật; Còn các vị sinh ra sở nghiệp thiện ác lẫn lộn nhau, đó gọi là chúng sanh. Các vị chấp chỗ nào sinh ra vọng tâm chỗ đó trở thành vô minh, là con của vô minh. Khi đức Phật Thích Ca Mâu Ni giảng pháp cho bà vợ của ông đạo Bà La Môn thì đức Phật giảng khác, còn khi đức Phật giảng cho một vị tu thiền Bà La Môn thì giảng khác. Đức Phật muốn nói rằng pháp của đức Phật chính là vô định pháp, có nghĩa là đức Phật làm chủ giác tánh pháp định của mình, nên pháp định của Phật Thích Ca Mâu Ni là ứng hiện với Đà La Ni tạng tánh của ổng.

Trong bài giảng hôm trước của Thầy đã giảng: Thế nào là Tổng Đà La Ni? Và các vị biết rằng: Khi các vị làm chủ 1 Đà La Ni giác tánh, các vị mới là một vị Phật tổ, Thánh tổ, Tiên tổ, Thần tổ, Chúa tổ, có thể các vị lên tới tổ tổ tổ. Nhưng từ giác tánh làm chủ đó trở về đồng một giác tánh chữ không đó là Tổng đà la ni tánh, chính là tánh Trời. Khi trở về, giống như các vị đã vẽ được 1 hình tròn rồi (giác tánh làm chủ), các vị vẽ đúng tâm điểm, đúng bán kính của nó thì cũng là một hình tròn, các vị vẽ 100 lần thì nó cũng là một hình tròn. Mà vẽ tới 8 muôn 4 ngàn lần nó cũng là một hình tròn thì gọi là tâm của Tổng Đà La Ni. Tâm này chính là tâm của Cha Trời, vậy Phật Thích Ca Mâu Ni ở chỗ nào các vị tự hiểu. 

Khi tâm của họ là tâm của Cha Trời thì họ không có phước đức gì, vì phước đức của họ chính là phước đức của Trời. Cho nên, khi hiện cảnh ra thì họ sử dụng tâm không của họ biến thành tâm Đà La Ni tạng tánh liền, mà mỗi tâm Đà La Ni tạng tánh đó là sẽ làm chủ một cảnh giới trước mắt họ. Khi Quốc Tổ làm chủ và giải quyết hết vấn đề đó thì tự nhiên trở về tâm không của Ông liền. Cho nên phước đức của Quốc Tổ không phải Ông thụ hưởng mà phước đức đó biến về phước đức của Trời, nên phước đức của Quốc Tổ chính là phước đức của Trời, gọi là Tổng Đà La Ni Vũ Trụ.

Còn các vị Phật là có phước báu thù thắng khắp cõi Trời, có nghĩa là họ tạo ra quốc độ của họ, họ chính là đang làm chủ các giác tánh của Đà La Ni. Các vị làm chủ giác tánh Đà La Ni thì các vị trở thành vị Phật. Giống như Đức Dược Sư Ly Lưu Quang Vương Phật, vì làm chủ vô số giác tánh Đà La Ni của mình, nhờ giác tánh Đà La Ni đó tạo vô lượng phước báu cõi nước Trời, mà cõi nước Trời của đức phật Dược Sư Lưu Ly xinh đẹp không thua gì cõi nước của A Di Đà. Mà phước báu đó là do Đức Dược Sư Ly Lưu Quang Vương Phật thụ hưởng nên phước đức đó Đức Phật Dược Sư Lưu Ly dùng để ban phát phước đức cho thiên hạ chứ chưa gọi là phước đức của Trời. Cho đến khi nào Đức Phật Dược Sư Lưu Ly không còn phước đức nữa, cho đến khi nào phước đức của Đức Phật Dược Sư Lưu Ly chính là phước đức của Trời. Phước đức của Trời chính là Tổng Đà La Ni.

Vậy các vị phân định: Đâu là Tổng Đà La Ni? Đâu là vị Phật tổ tổ tổ? Các vị hiểu rõ thì các vị sẽ phân định được. Các vị trong Cội Nguồn cũng vậy, các vị lập công bồi đức là các vị lập công bồi đức cho giác tánh Đà La Ni của các vị, vì lập công bồi đức như vậy mà các vị trở thành vua Trời hoặc là Thánh Mẫu hoặc là đại Thánh ở các cõi Trời. Đó là phước đức thù thắng của các vị, do các vị làm chủ giác tánh Đà La Ni của mình mà trở thành phước đức thù thắng đó. Phước đức thù thắng này là của các vị, Trời ban cho các vị chứ không phải phước đức của Trời.

Còn Quốc Tổ Hùng Vương thì các giác tánh của Ngài là 8 muôn 4 ngàn giác tánh vẽ thành một hình tròn. Đức Quốc Tổ Hùng Vương theo lệnh ý của Cha Trời, hễ Cha Trời hiện ra cảnh giới sắc giới nào thì Ngài sẽ hiện ra Đà La Ni tạng tánh đó mà thâu phục sắc giới đó, làm chủ sắc giới đó. Mà khi Ngài hiện ra có nghĩa là Quốc Tổ Hùng Vương động, mà Quốc Tổ Hùng Vương động là tạo ra vô lượng phước đức. Nhưng khi Quốc Tổ Hùng Vương tạo vô lượng phước đức đó không có giữ cho riêng mình mà Quốc Tổ Hùng Vương trở về với tâm không của mình, thì phước đức đó nó chuyển về phước đức của Trời, gọi là Tổng Đà La Ni. Cho nên tâm của Quốc Tổ Hùng Vương gần giống với tâm của Cha Trời là vậy. Từ làm chủ Đà La Ni tạng tánh mà để trở về tâm một hình tròn đó là các vị phải trải qua vô lượng ức kiếp.

Hôm trước Thầy có giảng một slide: Làm chủ giác tánh Đà La Ni? Thế nào là Tổng Đà La Ni?

Thầy nói rằng gặp Phật là khó, gặp Tổng Đà La Ni càng khó hơn, khó muôn vạn ức lần. Nhưng gặp Tổng Đà La Ni không phải khó, tại chỗ nào cũng có ổng, chẳng qua mình không nhận ra. Giống như các vị tưởng gặp Trời là khó nhưng chỗ nào mình cũng ở trong Trời. Trên đời khó có người hiểu được, gặp Tổng Đà La Ni là vô cùng khó, nhưng mà cái gì vô cùng khó thì nó lại vô cùng dễ, vì nó là đỉnh, vì chỗ nào cũng có Ngài, chẳng qua là mình có nhận ra hay không? Các vị gặp được Quốc Tổ Hùng Vương cách đây 5000 năm hạ phàm, bây giờ các vị gặp Ngài truyền đạo Ngài chuyển thành Thiên Ấn, Thiên Bút nhưng mà đó là sắc giới. Còn các vị muốn gặp được Linh Giác của Quốc Tổ Hùng Vương thì lúc nào cũng có. Các vị thường chạy theo sắc giới vô cùng nhưng mà không hiểu gì.

Cũng giống như các vị nói rằng gặp Trời khó, có vị nào thấy Cha Trời, Mẹ Trời đâu? Các vị tưởng rằng gặp Cha Trời, Mẹ Trời là khó nhưng mà dễ vô cùng. Vì Linh Giác của Trời chỗ nào cũng có; Cha Trời, Mẹ Trời chỗ nào cũng có, chỗ nào mình cũng ở trong Trời. Ở đời khó có người nào hiểu được. Giống như một người mù, khi mặt trời rọi trước đỉnh đầu họ, nếu có người hỏi: Có thấy mặt trời không? Họ trả lời: Không. Họ không thấy mặt trời đâu tại vì họ mù. Nhưng nếu hỏi một người sáng mắt: Có thấy mặt trời không? Thì họ nói: Thấy. Cho nên gặp Tổng Đà La Ni vô cùng khó nhưng cũng vô cùng dễ. Gặp Cha Trời, Mẹ Trời vô cùng khó nhưng cũng vô cùng dễ. Vậy các vị phải hiểu được nó thì mới có thể giác ngộ. Cho nên đa phần các vị ở trong vô minh nhiều.

Vô minh là gì? Vô minh là các vị vọng chấp, hễ các vị chấp chỗ nào thì sinh ra vọng tâm chỗ đó, mà vọng tâm này không làm chủ được sinh ra vô minh mà các vị chính là con của vô minh, các giác tánh con của vô minh, dẫn tới vô lượng trí tuệ vô minh ra đời. Còn khi các vị phân biệt thì sinh ra sở nghiệp, mà nếu như các vị phân biệt mà sinh ra thiện nghiệp thì chính các vị làm chủ của giác tánh Đà La Ni, chính các vị là Phật Tổ, Thánh Tổ, Tiên Tổ, Chúa Tổ các vị đứng vào con Trời. Còn hễ các vị phân biệt mà tạo ra thiện ác lẫn lộn, không phân biệt được thiện ác thì gọi các vị là chúng sanh, chứ không phải là Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa gì hết. Những người này dù có xưng mình là Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa thì cũng chỉ là giả Thần, giả Thánh, giả Tiên, giả Chúa mà thôi. Nghĩa là cho đến khi nào người này hết thiện rồi tới ác, hết ác rồi tới thiện thì gọi là chúng sanh phàm phu tục tử ra đời. Những người này chưa được gọi là con Trời. Cần phải hiểu kỹ chỗ này.

Nhớ lời Thầy hôm nay có hai chỗ mà sau này các vị tu định là tuyệt đối cấm hai chỗ này: Một là hễ các vị chấp chỗ nào thì sinh ra vọng tâm chỗ nấy, hai là hễ các vị phân biệt chỗ nào thì sinh ra sở nghiệp chỗ nấy. Chú ý hai chỗ này, khi các vị tu định thì tuyệt đối tâm không được vọng chấp. Có nghĩa là tất cả các chấp pháp của họ là để tiến lên, chấp pháp của họ không phải là chấp pháp của vọng tâm. Họ luôn luôn thấu triệt các pháp môn và đi tiến lên, thì gọi đó là thuận, không có sinh ra vô minh. Còn hễ các vị khi tu định mà phân biệt ra, không làm chủ các định luật của nó, thì các vị đi vào sở nghiệp thiện ác, dẫn tới loạn tâm, loạn trí, không phân định được đâu là thiện đâu là ác. Cho nên khi tu thiền các vị dẫn tới loạn tâm, loạn trí mà đi tới tẩu hỏa nhập ma, đi tới con đường bị ma vương kiểm soát, không thoát ra được. Khi tu định các vị buộc phải vượt qua hai chỗ này. Vì vậy, thầy phải giảng các vị hiểu rõ hết tất cả các định luật rồi mới tới thiền và định.

Khóa 4 này các vị hiểu được: Thế nào là Tổng Đà La Ni? Thế nào là một vị Phật Tổ Tổ Tổ? Các vị hiểu rõ ác nghiệp của linh giác thần thông, hiểu được môi trường ác nghiệp này. Thời mạt pháp, con người tàn phá môi trường, tàn phá rừng, tàn phá linh mộc, tàn phá linh thú… mà đặc biệt nhất là tàn phá con người, sát nghiệp khủng khiếp vô cùng. Các vị tu trong Phật giáo giảng là không sát sanh. Tuy các vị không sát sanh nhưng các vị lại sát người. Con người có thể lừa thiên hạ khắp cùng nhưng không lừa được các vị giác ngộ hạ phàm. Trong tôn giáo cũng vậy, cũng giết người hàng vạn, vì cái lợi mà giết anh em đồng loại. Thiên Chúa cũng vậy, Phật giáo cũng vậy, Hòa Hảo cũng vậy, Cao Đài cũng vậy, anh nào cũng vậy hết, vì cái lợi của mình mà giết hại anh em của mình, sát nghiệp lớn vô cùng. Trong tu pháp cũng vậy, vì cái lợi của chùa này chùa kia mà tạo nên sát nghiệp. Có nghĩa là vì lợi danh, vì 36 tánh ác này mà dẫn tới cái sát nghiệp là anh em tương tàn. Vậy nên, Thầy mới nói rằng, không anh nào giác ngộ hết, toàn là lừa thiên hạ, Thầy nghe qua là Thầy biết liền.

Các vị thấy rõ như ban ngày, là xã hội này đánh mất tánh công bằng, bình đẳng và tất cả: Hiến Tạng, Luật Tạng, Đạo Tạng (Pháp Tạng). Họ không hiểu rõ Hiến Tạng, Luật Tạng và Đạo Tạng này, ba nguồn ánh sáng này không có. Cho nên dẫn tới tàn sát anh em lẫn nhau, tôn giáo tàn sát tôn giáo, nhân loại tàn sát nhân loại, tạo ra sở nghiệp lớn vô cùng. Còn các vị thầy chùa giảng đừng sát sanh, hại mạng, nó chỉ mới là một phần nhỏ. Sát sanh nó nhỏ hơn sát người rất nhiều. Mắt thường của các vị không bao giờ thấy được, nhưng mà Thầy thiền định Thầy thấy rõ như ban ngày. Bên Thiên Chúa cũng vậy, họ giết nhau mà các vị không bao giờ biết được, vì đời nào họ công bố ra, có những sự việc thấu tận trời xanh. Phật giáo cũng vậy. Các vị đến một di tích, ở Tây Ban Nha có một ngôi làng Granada, Thầy đến đó Thầy xem thử, khi Thầy sử dụng mắt thiền định của Thầy, Thầy nhìn thấy rõ, là ngày xưa đức vua Tây Ban Nha đó, ổng làm vua, vì ổng theo đạo Thiên Chúa mà ổng giết những người theo đạo Hồi, ổng ném hết vào lửa; đàn bà, trẻ nhỏ cũng đều ném hết vô lửa. Những nhà thờ của Hồi giáo ở đó nó xây 4 vách tường, nó chặn tượng của Thánh Allah lại. Vì đánh mất tánh công bằng, bình đẳng; Đánh mất tánh chủ lực thiên tánh của Trời, mà tạo ra vô số sát nghiệp. Các vị giảng rằng: Đừng sát sanh hại mạng nhưng mà các vị lại sát người, vì cái lợi ích của mình mà sát con người, đó mới gọi là sát nghiệp. Mà sát nghiệp này nó lớn lắm, nó là thành phần đóng góp hơn 70% sát nghiệp của linh giác Vũ Trụ này, vì danh, vì lợi, vì đủ thứ trên đời. Ngay cả các vị đi làm ở công ty, vì danh, vì lợi mà sát hại lẫn nhau, mà làm oán thấu lên tận trời xanh. Vì đánh mất tánh thiên quyền dân chủ mà dẫn tới sát nghiệp trùng trùng.

Cho nên Quốc Tổ Hùng Vương không phải như người bình thường. Có tới 70% sát nghiệp trong Vũ Trụ này vì sát hại con người, cho nên sát nghiệp đó nó mới thông tới Trung Thiên giới. Còn sát sanh hại mạng nó chỉ tới Non Tiên cực lạc hoặc cao lắm là tới đỉnh núi Tu Di ngay chỗ Ngọc Hoàng Thượng Đế ngồi, mà sát hại con người nó bay tới tận Trung Thiên giới Vũ Trụ. Các vị tu đắc đạo chỗ nào đâu Thầy không thấy? Các vị không biết đâu là sát nghiệp, không biết tại sao các vị Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa ở Trung Thiên giới hạ phàm? Các vị ở Non Tiên Cực Lạc nó đông vô số vô biên, ở Non Tiên cực lạc và ở Dục giới nó đông hơn Trung Thiên Giới gấp mấy lần, họ đủ sức hạ phàm để cứu người mà tại sao Trung Thiên Giới phải hạ phàm? Là vì các vị đi vào sát nghiệp con người, sát nghiệp của tiểu thiên Vũ Trụ, là sát nghiệp ảnh hưởng tới tầng Trời của Trung Thiên Giới Vũ Trụ, nơi đức chí tôn Quốc Tổ ngồi. Cho nên giảng sát sanh hại mạng của các vị mới là 30%, còn 70% xông tới cõi Trung Thiên Giới Vũ Trụ đó là sát nghiệp hại con người, làm đánh mất đi cái thiên quyền dân chủ con người, là không còn tánh công bằng, bình đẳng; Là anh em tương tàn, giết hại lẫn nhau, nồi da nấu thịt với nhau. Nồi da nấu thịt không phải là chiến tranh Bắc Nam đâu, mà nồi da nấu thịt bây giờ cũng có khắp cùng, là con người với con người giết hại lẫn nhau vô cùng, vô tận, vô biên. Mà những ác nghiệp của các vị, những mưu mô, thủ đoạn của các vị nó đi đến khủng khiếp của ác tánh, đến cùng tận của 36 giác tánh chủ lực, không ai tưởng tượng được. Nếu kể ra thì các vị rùng hết cả người. Các vị thấy giết con gà, con heo các vị tưởng động lòng. Không phải. Mà các vị giết cả những giác tánh, những thiên tánh của Vũ Trụ. Khủng khiếp đến vậy, mà nếu kể ra các vị lạnh hết xương sống. Trong nghiên cứu khoa học cũng vậy, một số họ làm ác khủng khiếp, các vị chưa bao giờ thấy cảnh các thí nghiệm của nó ớn lạnh hết cả xương sống. Các vị thấy con gà, con cá nó bị giết, linh giác của nó còn nhẹ. Các vị còn biết rằng con người ở thời mạt pháp này đã trải qua hàng triệu triệu năm vậy, các oán hận đó nó xông tới cõi Trời Trung Thiên Giới, chứ không phải giỡn đâu. Chiến tranh loạn lạc, dịch bệnh, giết người túa bua xua đã kéo dài tới 2 ngàn năm như vậy, đã xông tới cõi Trời Trung Thiên giới, vì linh giác thần thông nó bao trùm Vũ Trụ. Tuy các vị Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa ở Non Tiên Cực Lạc và Dục Giới đông gấp mấy lần ở trên Trung Thiên giới, nhưng họ hạ phàm ở đâu là dính vào sở nghiệp của họ hết. Cho nên các vị đừng có tưởng, thời của Quốc Tổ Hùng Vương hạ phàm không phải một mình Quốc Tổ Hùng Vương hạ phàm không đâu, mà Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa ở Trung Thiên giới cũng hạ phàm, Thích Ca Mâu Ni cũng hạ phàm, Chúa cũng hạ phàm, Quán Thế Âm Bồ Tát cũng hạ phàm để mà 10 đại nguyện của Quốc Tổ cân bằng lại thiên quyền dân chủ Vũ Trụ. Cho nên nói cho các vị rõ, đó là thiên cơ, chứ không giống như thiên cơ bình thường mà các vị nghe cho vui đâu. Còn Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa ở Non Tiên Cực Lạc và Dục Giới xuống thì họ chỉ là hộ pháp. Đừng có tưởng rằng Thầy ngồi đây mà Thầy không biết, Thầy biết rõ như ban ngày, đến chỗ nào thì chỉ cần sử dụng phương pháp thiền định là Thầy thấy rõ sát nghiệp liền.

CÂU HỎI SỐ 6:

Hỏi: Thưa Thầy, việc mở kinh hằng đêm người âm cảnh họ vẫn nghe và nhận thức được phải không?

THẦY NHÂN THẬP TRẢ LỜI:

Có chứ, âm cảnh dương gian như nhau, cho nên khi các vị mở kinh tạng của Văn Hóa Cội Nguồn hoặc các kinh tạng thì họ vẫn nghe để hưởng phước, tích góp phước đức của họ, mà để giải thoát linh hồn của họ. Khi họ nghe như vậy thì họ sẽ thấu hiểu, họ sẽ hiểu cách để mà tích phước cho mình. Đây là họ chỉ mới có hiểu mà họ còn phải hành thì mới có phước. Vì vậy, người ở dương gian giúp người âm cảnh, người ở dương gian giúp người âm phủ trở về Trời. Nhiệm vụ của các vị khi ở dương gian, các vị mang thân xác con người thì các vị có thiên mệnh, đó là độ cả dương gian lẫn âm cảnh, độ cả thiện lẫn ác.

Ở âm cảnh họ nghe kinh vậy thì họ ngộ tánh, tánh dương lần lần nó tích góp, nhưng mà hễ có phước đức thì phải hành phước mới có. Cho nên họ phải chọn những phương pháp giống như là nhập đồng, nhập cốt, đủ thứ trên đời, và điển quang… Nhưng mà người ở dương gian, khi chúng ta sanh ở dương gian thì chúng ta phải có thiên mệnh của mình đó là giúp người ở âm cảnh, giúp người ở âm phủ siêu thoát về Trời hoặc là trở lại trần gian có thân xác tiểu thiên Vũ Trụ của Cha Trời, Mẹ Trời; nhờ có thân xác này mà tu hành mới chứng ngộ, đắc đạo. Chỉ có mang thân xác tiểu thiên Vũ Trụ này mới chứng ngộ được đạo màu của mình, mới làm chủ được giác tánh Đà La Ni của mình, mới làm chủ được chân tâm chân tánh của mình. Vì nơi đây chính là nơi để Cha Trời cho con người tập tành làm chủ các giác tánh đó. Cho nên người ở dương gian khi các vị hiểu thấu được, các vị sẽ làm các phương pháp tích góp thiện phước mà để hồi hướng cho họ đủ phước đức, đầu thai làm người hoặc là ít nhất để trở về Non Tiên Cực Lạc mà hưởng phước. Đó là phương pháp, đó là thiên mệnh của người ở dương gian. Khi các vị sanh xuống dương gian, các vị đều có thiên mệnh đó, cho họ nghe kinh hằng đêm để thấu hiểu trí thức, trí tuệ của họ; Thấu hiểu giác ngộ của họ, đó gọi là thiền định của họ. Nếu những người nghe kinh mà họ hiểu được pháp môn hết thì họ cũng tu luyện. Người ở âm cảnh họ vẫn tu thiền được, mà họ đủ sức để trở về Non Tiên Cực Lạc. Từ Non Tiên Cực Lạc họ vẫn có thể hạ phàm đầu thai thoải mái. Trong lúc Thầy giảng kinh pháp môn như vầy, thì xung quanh Thầy đây họ nghe vô tận, vô biên. Cho nên họ nghe được pháp môn như vầy, thì họ vẫn tu y như vầy mà có thể giải thoát cho họ.

CÂU HỎI SỐ 7:

Hỏi: Thưa Thầy, ngày giỗ Tổ của người đã khuất thì mình cúng mặn hay cúng chay có ảnh hưởng gì đến linh hồn người âm cảnh không?

THẦY NHÂN THẬP TRẢ LỜI:

Để hiểu thêm về thờ tự, các vị có thể đọc cuốn sách Nghi Lễ Thờ Cúng Tổ Tiên. Nếu các vị thờ Cha Mẹ riêng biệt với bàn thờ của Cha Trời, Mẹ Trời thì có nghĩa là dương gian sống sao, âm cảnh sống vậy, cho nên người ở dương gian họ thích ăn cái gì thì âm cảnh họ thích ăn cái nấy. Nhưng mà khi họ tới họ ăn không giống như mình, mà họ ăn cái hương của nó. Cho nên cúng chay hay cúng mặn là tùy các vị đã đạt tới cảnh nào của Cội Nguồn. Còn khi các vị thờ Cha Trời, Mẹ Trời; Có nghĩa là cha mẹ của mình đứng vào ngôi thứ tư; Ngôi của mình là ngôi con cháu, là ngôi thứ năm. Khi các vị thờ các ngôi theo Văn Hoá Cội Nguồn có nghĩa là phước báo của Cha Trời, Mẹ Trời độ hết phước báo của Cha Mẹ mình, hội tụ cái âm đức lần lần mà đưa hết gia tiên ở âm cảnh trở về Non Tiên Cực Lạc hoặc là chuyển kiếp đầu thai làm người ở thời thượng ngơn thánh đức mà tu hành đắc đạo.

Cho nên những con người trở về Non Tiên Cực Lạc thì họ ăn chay, các vị cúng cha mẹ mình cúng chay là tốt. Người chết gọi là hương linh, các hương linh chính là hương của linh giác thần thông của nó. Nếu là chay, thì nó tịnh nên nó hòa nhập dễ dàng. Do đó cúng chay là tốt nhất, mà thể hiện được cái tánh của thiên quyền, là quyền được sống của chúng sanh. Vì vậy, mời cha mẹ mình về Tiên giới hoặc chuyển kiếp đầu thai thì mình cúng chay là tốt nhất. Thầy khuyên các vị hãy giúp cha mẹ mình hưởng các khí chay, hưởng linh giác chay.

Hôm trước Thầy đã giảng, người leo núi đã leo không nổi rồi, mà mình còn đèo thêm cho họ 50 kg trên lưng nữa, cho nên giảm bớt kg xuống để cho họ nhẹ bước thênh thang đi trở về dương gian hoặc là trở về Non Tiên Cực Lạc, đó mới là pháp môn. Các vị không bao giờ thấy được nên cuối cùng không biết âm cảnh như thế nào? Vì không biết, nên thường đi vào loạn lạc pháp môn mà không biết độ họ như thế nào. Thầy thấy rõ như ban ngày cho nên độ họ vô cùng dễ. Mình ở dương gian mình là người thiết kế, có thiên mệnh. Trời cho mình thiên mệnh này để giúp cho con người ở âm cảnh và địa ngục, đó là một trong những thiên mệnh của mình. Hôm trước Thầy có giảng về thiên mệnh, nên các vị hiểu thiên mệnh là gì rồi. Trời cho mình sanh sống ở dương gian là để giúp người cảnh âm và người địa ngục (vì âm theo dương). Cho nên người ở dương gian chính là người kết nối, là người thiết kế con đường hành thiện cho họ. Nhưng mà các vị sinh ra ở dương gian, các vị làm ác quá; Hại người, giết hại đồng bào, giết hại tùm lum mà bao số nghiệp ác sinh ra thì lấy gì các vị cứu được thiên hạ, cứu được họ. Các vị tạo ra vô số nghiệp quả không ai tưởng tượng được, có nhiều người còn khinh sư diệt tổ nữa thì lấy phước báo ở đâu ra. Các vị sinh ở dương gian là thiên mệnh của mình đã có, chính là người điều khiển, là người kết nối. Dương gian chính là cầu nối từ âm phủ lên thiên đàng, từ âm phủ lên dương gian. Mà âm theo dương nên con người sống ở âm cảnh họ theo phúc đức của dương cảnh này, rồi địa ngục cũng là âm, mà âm theo dương có nghĩa là theo người ở dương gian này. Dương gian chính là trường thi làm chủ Vũ Trụ, làm chủ chân tâm chân tánh, tận độ phước đức vô cùng. Cho nên dương gian chính là nơi hành động, là trường thi làm chủ Vũ Trụ, là trường thi làm chủ tất cả, chứ không phải lên cõi trời, cõi Trời làm chủ gì trên đó? Cõi Trời chỉ hưởng phước, chứ không phải làm chủ trên đó. Muốn thành tài thì xuống dương gian này tu luyện mà thành, muốn làm chủ giác tánh nào thì xuống dương gian này mà làm chủ giác tánh đó. Chứ ở cõi Trời làm sao các vị làm chủ 36 giác tánh chủ lực được, vì cõi Trời có cái ác nào đâu mà để làm chủ giác tánh đó. Cõi Trời là để hưởng phước, chứ không phải để làm chủ giác tánh gì trên đó. Ở trên đó một đứa trẻ thì mãi mãi là một đứa trẻ. Cho nên các vị trở về cõi A Di Đà, các vị tu miết ở trên đó, không biết đến khi nào các vị làm chủ được giác tánh nào. Ở trên đó các vị làm chủ giác tánh nào? Không có cái gì để làm chủ giác tánh. Các vị hiểu giác tánh là các vị đang đứng ở thiền môn và định môn, chứ không có anh nào làm chủ giác tánh nào được. Có cái gì đâu để làm chủ giác tánh, mà không làm chủ giác tánh thì làm sao thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa được. Cho nên sinh ra một đứa trẻ thì là một đứa trẻ miết ở trên đó. Nhưng họ nghe kinh pháp của A Di Đà mà họ hiểu ở trong thiền và định, cho nên họ có thần thông mà họ biến thân tướng họ lớn lên, chứ đó không phải là tự nhiên, nó không phải là làm chủ giác tánh. Các vị tu mà mù mờ tùm lum, không hiểu gì. Cho nên trên đó không làm chủ giác tánh được, lấy gì các vị làm chủ giác tánh. Các vị sống ở cõi A Di Đà các vị làm gì làm chủ giác tánh. Mà giác tánh là theo môi trường, có nghĩa là trên thiên giới, giác tánh ác nó không hiện ra. Nhưng khi xuống trần gian là các vị trở thành ác quỉ liền. Vậy làm sao là đóa hoa sen thành Phật được? Cho nên các vị Phật Trung Thiên giới họ ngồi trong các đóa hoa sen của 8 muôn 4 ngàn cánh tượng trưng cho 8 muôn 4 ngàn Đà La Ni tạng tánh của họ, làm chủ 8 muôn 4 ngàn Đà La Ni tạng tánh, các vị đi đâu để làm chủ giác tánh đó? Dẫn tới tiêu tan sự nghiệp. Cho nên về cõi nước A Di Đà, nhờ thiền định đó các vị có thần thông phép thuật mà biến thân tướng thành to lớn, hoặc là theo các đại nguyện lực của A Di Đà, có nghĩa là người nào sanh về cõi nước của ổng thì thân tướng đẹp như ổng, nhưng mà không to lớn như đức Phật A Di Đà vì Phật A Di Đà làm chủ linh giác thần thông vũ trụ, các vị lấy gì mà làm chủ chân tâm chân tánh của mình, làm chủ giác tánh của mình mà thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Cho nên muốn thành đạo xuống trần gian này làm chủ giác tánh, chứ không phải ở trên cõi Trời, cõi Trời là chỗ để hưởng phước.

CÂU HỎI SỐ 8:

Hỏi: Thưa Thầy chấp sanh ra vọng tâm, vậy có những loại chấp gì?

THẦY NHÂN THẬP TRẢ LỜI:

Chấp chỗ nào sanh ra vọng tâm chỗ đó, có nghĩa là gì? Có nghĩa là con người mà ngộ đạo, con người đạt tới đại định là họ để các tánh đó nó theo tự nhiên, chứ họ không níu, còn hễ các vị níu nó là các vị chấp. Cho nên cái này là một đỉnh cao của tu định. Có nghĩa là gì? Khi các vị đi tu vào đại định, là để các giác tánh nó tự nhiên, không được níu rị nó. Khi cái giác tánh đó nó tự nhiên, các vị mới thấu suốt hết cái giác tánh đó. Cho nên các vị tu thiền mới có hiểu cái tánh thôi nhưng mà các vị muốn đạt đến an trụ cái tánh Không, như đức Tịnh Không đó ổng muốn an trụ hiểu hết tánh tự nhiên của tánh Không đó, ổng phải mất vô lượng ức kiếp. Có nghĩa là khi các vị đi tu định, là các vị đạt tới các cõi Trời của Vô Sắc Giới và Trung Thiên giới.

Có nghĩa là khi định đó là các vị phải để cho các sự thấu hiểu vật chất, thấu hiểu các định luật vũ trụ, thấu hiểu mọi thứ của Vũ Trụ đều đi vào cái tánh tự nhiên. Có nghĩa là không được níu rị nó, hễ níu rị nó sinh ra chấp. Cái chỗ này cao vô tận, khó có người giải thích được. Có nghĩa là khi các vị tu thiền là hiểu giác tánh, mà khi an trụ trong giác tánh gọi là định. Khi định trong giác tánh có nghĩa là giác tánh đó nó tự nhiên thấu hiểu và phát triển, phát triển đến tận cùng Mật Tạng của nó. Cũng giống như hòn đá nó rơi trong nước, nó rơi miết, rơi tự nhiên cho đến khi nào nó đụng đáy, nó hiểu hết các Mật Tạng của biển nước đó. Còn nếu như các vị cầm sợi dây các vị níu rị nó, là các vị chấp. Phải đạt tới chỗ đó mới gọi là tu của đại định. Tu đại định là tu chỗ đó. Hễ khi các vị thấu hiểu một định luật Vũ Trụ, để cho định luật đó nó tự nhiên, tự nhiên, tự nhiên,… Nó rơi đến tận cùng của Mật Tạng, không được níu rị nó, đó gọi là định, cứ để cho nó vắng lặng tự nhiên rồi ở vắng lặng tự nhiên miết.

Ví như Thầy định về Định Luật Nhân Duyên, Thầy để cho cái định của định luật nhân duyên nó cứ thế nó rơi, nó rơi đến tận cùng của Mật Tạng của nó, thì đó gọi là đạt tới đại định. Thấu hiểu hết các định luật nhân duyên đó đến tận cùng, trở thành vô lượng tâm pháp mà giảng về định luật nhân duyên, Thầy có thể giảng hàng triệu ngày không hết. Còn hễ các vị khởi tâm mà níu dựt nó là các vị đi vào vọng tâm ngay. Khi tu đại định tuyệt đối không được có sự vọng chấp, đó là tu của đại định, là tu của bậc tối thượng, của Như Lai Đại Định, là để cho các vị thấu hiểu tới tận cùng.

Ví dụ: các vị tu cái tánh Phổ Hiền, các vị an định trong tánh Phổ Hiền đó, để tánh Phổ Hiền này nó tự nhiên, tự nhiên, nó hiện ra hết tất cả các Mật Tạng của nó, không được níu nó, thì đến khi nào giác tánh Phổ Hiền này nó đạt tới đỉnh tự nhiên của nó nghĩa là các vị đạt đến đại định, hiểu hết Mật Tạng của cái tánh Phổ Hiền đó.

Ví dụ: như cái tánh Không, Thầy an định trong chữ Không, Thầy ngồi để vào chữ Không, đến khi nào chữ Không này nó phát triển hết cái tự nhiên của nó, và Thầy không bao giờ có một ý nghĩ nào để níu giữ. Nó mọc ra tất cả các mật tánh của chữ Không, các vị không được phân biệt nó, nó mọc kệ nó, nó cứ hiện miết hiện miết cho đến khi tận cùng vô biên không còn chỗ nào nữa, thì các vị thấu hiểu hết mật tánh của chữ Không. Còn hiện giờ các vị mới an trụ chữ Không chứ chưa thấu hiểu hết mật tánh của chữ Không đâu[A2] . Cho đến khi nào cái chữ Không này nó đạt tới đỉnh cao của Mật Tạng, không còn chỗ trụ nữa, thì gọi là Đại Định Như Lai mật tánh của chữ Không ra đời. Người nào đạt tới Đại Định Như Lai mật tánh của chữ Không thì người đó thuyết muôn vạn pháp môn chữ Không mà không bao giờ có giới hạn. Có nghĩa là người ta thuyết kinh Vô Lượng Không đó, mà đến khi trái đất này nổ đi nữa cũng không bao giờ hết.

Ví dụ: với một tánh Quán Âm thôi, là Thầy để vào cái tánh Quán Âm của Thầy, Qúan Âm chính là định lượng mà các vị không bao giờ biết được. Cho nên hôm trước Thầy giảng định luật nhân quả là các vị trả cái quả đúng vào định luật của Quan Âm, cái định lượng. Thầy nghĩ vào trong cái định lượng đó, Thầy để cái tâm tánh của định lượng đó nó đạt tới tự nhiên cuối cùng của nó, nó gọi là tới chỗ vô trụ, vô biên, nó phát triển cái định lượng đó tới vô biên.

Cuối cùng tất cả đều trở về những cái mật tánh của 100 vị ông bà Tổ Tổ Tổ khi trở về cõi Trời, có nghĩa là khi đó nó đạt tới Đại Đinh Như Lai về cái tánh đó. Còn hễ các vị chỉ cần khởi ra một tâm níu nó, một chữ không thôi, là các vị sinh ra vọng tâm, dẫn tới vô minh sinh ra liền. Nguy hiểm vô cùng. Chỗ này là đỉnh cao của tu định, nhưng mà vì câu hỏi của chị mà Thầy khai mở cái giác tánh Đại Định Như Lai này. Khi các vị tu định như vậy thì cuối cùng các vị sẽ hiểu được một giác tánh tối cao của bản thể Vũ Trụ, đó chính là Đại Định Như Lai ra đời trong giác tánh làm chủ, hiểu rõ cái giác tánh Đại Định Như Lai của Vũ Trụ. Khi đó các vị thuyết kinh về đại định pháp môn, thuyết giảng hàng vạn năm không bao giờ hết cái giác tánh của đại định.

Để nói được về trí huệ của Thầy, các vị nói muôn đời không bao giờ hết, tại vì nó tới chỗ vô trụ, không còn chỗ trụ nữa, nó tới chỗ vô biên không còn biên nào nữa và nó tới chỗ đại định không còn chỗ định nữa. Thầy chỉ cần nghe câu hỏi là Thầy thấu hiểu hết các pháp môn của Thầy, đó là pháp môn, đó là cái Mật Tạng tu đại định tối cao không còn chỗ nào cao hơn nữa. Nhưng mà ở đây nhờ câu hỏi của chị Mai Hằng mà các vị vô tình hiểu được Pháp Môn Đại Định Như Lai. Thầy nhấn mạnh lại lần nữa, trong tu định, tu tới Đại Định Như Lai tuyệt đối cấm vọng tâm sinh ra, cái chấp sinh ra vọng tâm và cũng không được phân biệt vì phân biệt sinh ra sở nghiệp.

Hôm nay các vị hiểu nhiều quá sợ các vị quên mất thì uổng, mà chỉ có câu hỏi như vầy thì Thầy mới giảng được pháp môn của Thầy cho các vị nghe, vì tâm của Thầy nó cũng bắt đầu an trụ chữ Không, cho nên khi các vị hỏi thì nó mới hiện cảnh ra, tâm kinh quán tự tại là vậy đó.

Trong pháp môn, pháp chú về Tâm Kinh Quán Tự Tại, người ta đọc hoài mà người ta không biết, đó là của Liên Hoa giáo chủ nói ra, Liên Hoa giáo chủ mật tạng chữ Không. Nhưng sau này các vị Bồ Tát họ vẫn sử dụng, đó là mật chú của giáo chủ Liên Hoa Hải Tạng ra đời.

“Tâm Kinh Quán Tự Tại Hành Thâm Bát Nhã Ba La Đa Mật Đa Thời Chiếu Kiến Ngũ Uẩn Giai Không Độ Nhất Thiết”

Chính là một trong các mật tánh pháp độ của Đức Liên Hoa Giáo Chủ. Các vị Phật họ vẫn sử dụng tâm kinh đó, tại vì họ thấu hiểu được, an trụ, an định đó, mà sinh ra mật tánh kinh luân đó. Mật tánh kinh luân này là xuất  phát từ mật tánh của Vũ Trụ. Cho nên tất cả các Chú Đại Bi, các chú lớn, đều là từ mật tánh của Vũ Trụ mà ra, chứ không phải của một vị Phật nào, mà các vị Phật đó họ thấu hiểu trong mật tánh của Vũ Trụ mà họ đọc ra. Cũng giống như con lấy của cha mà sài vậy, giống như chữ “tâm kinh quán tự tại hành thâm bát nhã ba la đa mật đa”, đó chính là do Đức Liên Hoa Giáo Chủ lấy từ mật tánh của Vũ Trụ và ổng đọc ra. Về sau các vị Bồ Tát họ cũng nghe, họ cũng lấy y như vậy, họ cũng đọc. Cho nên các kinh chú Lăng Nghiêm, Pháp Hoa, hay tất cả những mật chú của nó là đều từ trong tạng tánh của Như Lai ra đời, không phải của vị Phật nào, mà của cha rồi con lấy sài vậy. Hôm nay các vị thông hiểu nhiều quá.

CÂU HỎI SỐ 9:

Hỏi: Thưa Thầy, mình làm chủ một giác tánh rồi mình có 8 muôn 4 ngàn giác tánh đó nó tự huân tập mà trở thành tâm vương hay sao?

THẦY NHÂN THẬP TRẢ LỜI:

Có nghĩa là 8 muôn 4 ngàn giác tánh Đà La Ni này khi các vị làm chủ, rồi để giác tánh này nó an trụ về chữ Không. Cũng giống như khi các vị hội nhập bản thể linh giác Vũ Trụ vậy, có nghĩa là các vị giống như các Thiên Ấn Kim Cang Vũ Trụ, do các vị ở trong linh giác Vũ Trụ đến khi nào mà nó tan thành linh giác Vũ Trụ. Có nghĩa là, khi các vị làm chủ giác tánh Đà La Ni đó, các vị để nó an trụ vào chữ Không, nó trở về chữ Không, nhưng mà chữ Không của nó, nó có giác tánh. Giống như hình tròn, vẽ miết, vẽ miết nó ra 8 muôn 4 ngàn cái hình tròn nhưng mà cũng có một hình tròn đó, thì có nghĩa là để nó an trụ vào cái tánh không cuối cùng của nó. Tánh không cuối cùng của nó gọi là chân tâm, chân tánh của nó, để lâu xa. Giống như mình có 8 muôn 4 ngàn cái hình tròn mình để vô cái ly nó chứa hết 8 muôn 4 ngàn cái hình tròn, nhưng mà một hình tròn đó gọi là tánh Không, tâm Không. Các vị nghe nói tâm Không, tánh Không nhưng các vị không bao giờ hiểu tới tánh Không, tâm Không là gì đâu? Có nghĩa 8 muôn 4 ngàn cái giác tánh này, nó là 8 muôn 4 ngàn cái hình tròn, nhưng mà đồng tâm, đồng bán kính thì khi xếp 8 muôn 4 ngàn cái hình tròn đó thành một cái hình tròn thì một cái hình tròn đó gọi là tánh Không, tâm Không.

Các vị khắp các tôn giáo giảng tâm Không, nhưng không anh nào giảng được, không anh nào biết chỗ này. Ảnh nghe nói tâm Không, chứ không biết tâm Không là cái gì. 8 muôn 4 ngàn cái giác tánh Đà La Ni đó, khi làm chủ nó, có nghĩa mình có 8 muôn 4 ngàn cái hình tròn đồng tâm, đồng bán kính. 8 muôn 4 ngàn giác tánh đó, mình làm sao cho nó thành hình tròn đồng tâm, đồng bán kính; Rồi mình xếp các hình tròn đồng tâm, đồng bán kính đó thành một, thì nó gọi là tâm không. Giống như các vị có đủ các giác tánh nhưng hình tròn các vị không đồng tâm, 8 muôn 4 ngàn giác tánh tự nhiên đó lúc đầu nó không đồng tâm, nó không cùng bán kính, nhưng khi các vị đi vào giai đoạn chuyển nó về tâm không, là các vị làm cho nó cùng bán kính hết, rồi các hình tròn đó ghép thành một cái hình tròn cuối cùng. Có nghĩa là các vị vẽ một hình tròn trên bàn tay Thầy, rồi Thầy lại vẽ một hình tròn cũng y vậy trên tay Thầy, vẽ cho đến khi nào 8 muôn 4 ngàn lần, cuối cùng Thầy nhìn vô cũng có một hình tròn, thì hình tròn cuối cùng này gọi là Tâm Không. Tâm Không cũng chính là chánh đẳng chánh giác, mà tâm Không này cũng chính là tâm Không của Cha Trời. Giống như chủ giác tánh, nhưng mà hình tròn các vị nó không đồng tâm, đồng bán kính, cho đến giai đoạn khi nào các vị làm chủ hết các giác tánh đó thì các vị để các hình tròn này nó trở thành đồng tâm, đồng bán kính và nó hiệp thành một. Thành một giống như Tinh, Khí, Thần thành một, nó hiệp thành một cái tâm thì gọi là Tổng Đà La Ni. Cái tâm này gọi là tâm của Cha Trời. Chỗ đây mới gọi là tận cùng của chữ Không, nó gọi là chữ Không. Mà cái tâm này gọi là tâm vô trụ, tâm vô biên, tâm như lai chính là nó, vô trụ vô biên chính là nó, tâm không chánh đẳng chánh giác cũng chính là nó.

Nhưng mà các vị bây giờ mới có làm chủ các giác tánh. Ví dụ các vị làm chủ giác tánh Phổ Hiền, nhưng mà làm chủ giác tánh Phổ Hiền của anh Hoàng Siêng nó khác với làm chủ giác tánh Phổ Hiền của anh Công Chí kia. Có nghĩa là từ khi làm chủ nó rồi các vị để cái tâm đó nó trở về đồng tâm hết, đồng bán kính hết, thì nó hiện thành một hình tròn, thì đó gọi là tận cùng của chữ Không. Mà cái tâm này gọi là vô vi, vô trụ, không có chỗ trụ nữa, đó là chánh đẳng chánh giác.

Vậy thì kính chúc Quý anh chị cô chú bác có sức khỏe, ngày mai là ngày giỗ Quốc Tổ về Trời các vị dâng nén tâm hương mà tưởng nhớ về Quốc Tổ, vị Đấng Tối Linh của dân tộc Việt Nam, mà sau này là của cả thế giới luôn chứ không phải của riêng Việt Nam. Chúc các Quý anh chị cô chú bác sức khỏe dồi dào, hiểu rõ con đường tu hành của mình. Thầy xin phép nghỉ.

__________________HẾT__________________