PHÁP ĐỘ

NGHI LỄ THỜ CÚNG
TỔ TIÊN

 (Tái bản lần 2)

VĂN HÓA CỘI NGUỒN

 

Quyển 2

---------------­­­­­­­----------------------

Trọn Bộ 2 Quyển

 

 

Nhân Thập Đại Cư sĩ,

Giáo sư, Tiến sĩ Cao Đức Toàn

-------------O-------------


 

LỜI GIỚI THIỆU

C - MỘT SỐ ẢNH THỜ TỰ MẪU TRONG VĂN HÓA CỘI NGUỒN

D - CÂU ĐỐI THỜ TỰ TRONG VĂN HÓA CỘI NGUỒN

Đ - NGHI LỄ THỜ CÚNG

CHƯƠNG I - LẬP DỰNG BÀN THỜ

1 - NỘI DUNG KHAI MỞ THỜ TỰ TRONG GIA ĐÌNH DÒNG HỌ

a) SAU KHI DỰNG BÀN THỜ

b) CHỦ LỄ ĐỌC PHẦN VĂN KHẤN

2 - NỘI DUNG KHAI MỞ THỜ TỰ TRONG CÁC CƠ QUAN, DOANH NGHIỆP, TRƯỜNG HỌC, CƠ SỞ THỜ TỰ

a) SAU KHI DỰNG BÀN THỜ

b) CHỦ LỄ ĐỌC PHẦN VĂN KHẤN

3 - HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH NGHI LỄ

CHƯƠNG II - QUỐC BẢO KHAI KINH

1 - KHAI KINH SỐ 1 KHAI CƠ

a) KHAI CƠ THÁNH ĐỨC

b) KHAI KINH

2 - KHAI KINH SỐ 2 GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG

a) VĂN TẾ ĐẠI LỄ

b) PHẦN KHAI GIÁO

3 - KHAI KINH SỐ 3 CẦU AN

4 - KHAI KINH SỐ 4 CẦU SIÊU

5 - KHAI KINH SỐ 5 NGHI THỨC KHAI KINH NHẬP ĐẠO

6 - KHAI KINH SỐ 6 NGHI THỨC PHONG THÁNH THEO NGHI THỨC VẠN ĐẠI

LỄ PHONG ẤN DO HỘI ĐỒNG THÁNH ĐỨC TRUYỀN TRAO VÀ LỜI TUYÊN THỆ NHỮNG NGƯỜI ĐƯỢC PHONG ẤN

7 - KHAI KINH SỐ 7 ĐỌC TỤNG NHÂN LUÂN HIẾU NGHĨA

8 - KHAI KINH SỐ 8 NGHI THỨC KHAI KINH CẦU SIÊU CŨNG NHƯ NGHI THỨC CẦU SIÊU

9 - KHAI KINH SỐ 9 NGHI THỨC TANG LỄ CƯ GIA

LỄ KHAI KINH

BÀI SÁM TÁNG Đưa Tang Hay Tụng Kinh siêu độ hồn linh

10 - KHAI KINH SỐ 10 NGHI THỨC CẦU AN LỄ THÀNH HÔN

CHƯƠNG III - VĂN KHẤN Ở BÀN THỜ TẠI GIA

(A) VĂN KHẤN THEO MẪU

1 - BÀI VĂN KHẤN MẪU SỐ 1

2 - BÀI VĂN KHẤN MẪU SỐ 2

3 - BÀI VĂN KHẤN MẪU SỐ 3

(B) MỘT SỐ BÀI VĂN KHẤN VÀO CÁC NGÀY LỄ TẾT TRONG NĂM

1 - VĂN KHẤN MÙNG 1 TẾT NGUYÊN ĐÁN

2 - VĂN KHẤN MÙNG 2 TẾT NGUYÊN ĐÁN

3 - VĂN KHẤN MÙNG 3 TẾT NGUYÊN ĐÁN

4 - CÚNG DÂNG SAO NGÀY RẰM THÁNG GIÊNG

5 - VĂN KHẤN GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG (10/ 03 ÂM LỊCH). TẠI BÀN THỜ GIA TIÊN

6 - VĂN KHẤN 5 THÁNG 5 NGÀY 100 ÔNG BÀ TỔ TỔ TỔ RA ĐỜI

7 - VĂN KHẤN RẰM THÁNG 7 TRONG NHÀ

8 - VĂN KHẤN NGÀY RẰM THÁNG 7 CÚNG CÔ HỒN NGOÀI TRỜI

9 - VĂN KHẤN NGÀY 23 THÁNG CHẠP

10 - VĂN KHẤN ĐÊM GIAO THỪA TRONG NHÀ

11 - VĂN KHẤN ĐÊM GIAO THỪA NGOÀI TRỜI

CHƯƠNG IV - SỰ RA ĐỜI CỦA CON NGƯỜI

LỜI TRUYỀN DẠY CỦA ĐỨC CHA TRỜI

ĐỨC CHA TRỜI PHÁN TRUYỀN

CHƯƠNG V - THẦN CHÚ, ẤN CHÚ CỘI NGUỒN

1 - LONG HOA VÔ NGẠI ĐẠI BI THẦN CHÚ

2 - LONG HOA BÁT NHÃ TÂM KINH

LONG HOA BÁT NHÃ TÂM KINH 1

LONG HOA BÁT NHÃ TÂM KINH 2

LONG HOA BÁT NHÃ TÂM KINH 3

3 - LONG HOA THIÊN ẤN MẬT TẠNG KIM CANG CHÚ

ĐỆ NHẤT ẤN CHÚ

ĐỆ NHỊ ẤN CHÚ

ĐỆ TAM ẤN CHÚ

ĐỆ TỨ ẤN CHÚ

ĐỆ NGŨ ẤN CHÚ

SƠ LƯỢC VỀ TÁC GIẢ

 


 

LỜI GIỚI THIỆU

“Dù ai đi ngược về xuôi

 Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng 10 tháng 3.”

Câu nói ấy luôn nhắc nhở người con Việt Nam rằng: tất cả chúng ta cùng chung một Cội, một Nguồn, chung cùng một ông Tổ, nên phải biết tưởng nhớ, hiếu kính tới Người đã gây dựng nên non sông đất nước, đó chính là Quốc Tổ Hùng Vương. Vì chung Nguồn Cội, chung Quốc Tổ nên chúng ta cần yêu thương và đoàn kết với nhau, cùng nhau hướng về Ngày Lễ Lớn của Dân Tộc. Đất nước Việt Nam có hơn 5000 năm Văn Hiến và biết bao lịch sử hào hùng của dân tộc. Người Viêt Nam mang trong mình dòng máu Lạc Hồng, con Rồng cháu Tiên. Ông Tổ của dòng máu ấy không ai khác chính là Đức Quốc Tổ Vua Hùng, sinh ngày 20 tháng 02 năm Giáp Thìn, tức là năm 2989 trước Công Nguyên, theo niên lịch Kinh Nam (lịch dùng từ thời Viêm Đế Thần Nông, ngày nay chính là âm lịch). Quốc Tổ về trời vào ngày mùng 10 tháng 3 năm Ất Mùi, tức là vào năm 2877 trước Công Nguyên.

Quốc Tổ Anh Linh khó nghĩ bàn

Xuống trần khai Đạo cứu thế gian

Nay con thành kính xưng danh tụng

Phổ hóa lời kinh Quốc Đạo Tràng

Trước ảnh tượng Tiên Rồng soi sáng

Lạc Long Quân cùng với Âu Cơ

Cha Trời Địa Mẫu Tối Cao

Uy linh tột đỉnh trùm bao uy quyền

Với lòng dạ chí thành cung kính

Xin Trời Cha chứng giám công lao

Thành tâm lễ bái công ơn

Sanh thành dưỡng dục tạo lên muôn loài

Ngày đại lễ vang lừng Giỗ Tổ

Khắp cháu con hoa quả dâng lên

Một lòng nhớ đến công ơn

Khai cơ dựng nước dựng lên sơn hà

Ơn Quốc Tổ không gì sánh được

Truyền chân kinh tận độ chúng dân

Lập lên đất nước Văn Lang

Văn Minh hùng mạnh thế gian ai bì

Ơn Quốc Tổ thấm nhuần con cháu

Năm nghìn năm Văn Hiến vinh quang

Văn Lang Bách Việt chúng dân

Đời đời ghi nhớ công ơn của Người.

Tôi (Nhân Thập đại cư sĩ, Giáo sư, Tiến sĩ Cao Đức Toàn) là người Việt nên rất yêu mến Cội Nguồn của người Việt. Tôi thường nghe thầy tôi là Đức Hư Không Tạng Diệu Không kể lại rất nhiều lịch sử, nhưng đáng chú ý nhất đó là lịch sử Tiên Rồng.

Thầy tôi kể, lịch sử Tiên Rồng là một lịch sử có thật, lịch sử tốt đẹp nhất của dân tộc Việt Nam. Đã trải qua hàng nghàn năm Văn Hiến do các Vua Hùng tôn thờ truyền lại. Thầy tôi nói, Quốc Tổ Hùng Vương là Đấng Chí Tôn Thiên Đế lâm phàm, đã để lại cho con cháu Việt Nam hai di sản quí hiếm.

1 - Non Sông Đất Nước, Địa Long Vũ Trụ - chiếc nôi sanh ra nhân loại con người.

2 - Văn Hóa Cội Nguồn nền Văn Hiến Quốc Đạo Tiên Rồng hay chính là Đại Đạo tối cao vũ trụ.

Thầy tôi là một người làm nông sớm tối, tuy chưa đọc qua bất cứ quyển sách nào, nhưng lại nói rõ ràng cho tôi nghe suốt hơn 10 năm về mọi chuyện trong quá khứ của Dân Tộc và tương lai của tôi. Thầy tôi bảo sau này con lớn sẽ du học qua các nền văn minh của thế giới. Con sẽ trải nghiệm và kiểm chứng tất cả những gì Thầy nói.

Suốt gần 20 năm, tôi may mắn đã đạt được một số thành tựu ở nước ngoài như những gì ngày xưa Thầy tôi tiên đoán. Trên chặng đường du học, làm việc tại Châu Âu và Mỹ, tôi tận dụng thời gian rảnh rỗi để đi tìm hiểu về các nền Văn Hóa Phương Đông và Văn Hóa Phương Tây với mục đích là để kiểm nghiệm những lý tính trong Văn Hóa Cội Nguồn do Thầy tôi truyền lại và áp dụng những lý tính đó vào đời sống xã hội để giúp ích cho đời. Mục đích chính là để minh chứng cho nét đẹp văn hóa, tinh hoa trong Văn Hóa Cội Nguồn nói chung và trong Lễ Nghi Thờ Cúng Tổ Tiên của Bách Việt Văn Lang nói riêng.

Sách này không liên quan đến các tôn giáo như: Phật giáo, Lão giáo, Chúa giáo, v.v… Mà nó chính là lời của Thầy tôi kết hợp với sự trải nghiệm và nghiên cứu của chính tôi. Tôi cho ra đời quyển sách để giúp bạn đọc xa gần, trong nước cũng như ngoài nước Việt Nam, ở tất cả các tôn giáo khác nhau, hiểu đầy đủ và đúng đắn nhất về ý nghĩa, lợi ích và lịch sử của Nghi Lễ Thờ Cúng Tổ Tiên. Nhờ đó mà có phương tiện để tích thêm phúc đức cho bản thân, gia đình, dòng họ và phân biệt được đâu là những hiện tượng “tâm linh mê tín” thậm chí đã tồn tại trong dân gian hàng trăm năm nay cần phải loại bỏ. Mặt khác, nội dung cuốn sách nói lên Hiếu Đạo làm người của người Việt như:

“Uống nước nhớ Nguồn”

“Ăn quả nhớ kẻ trông cây”

Hay: “Con chim có Tổ con người có Tông”

Tôi hi vọng, sau khi đọc xong quyển sách này, Quý độc giả sẽ thêm yêu Nguồn Cội và hiểu thêm về những nét đẹp, truyền thống văn hóa anh linh của Dân Tộc.

 

Kính mến!

NHÂN THẬP ĐẠI CƯ SĨ,

GIÁO SƯ, TIẾN SĨ CAO ĐỨC TOÀN

--------------------------------------------------

 

C - MỘT SỐ ẢNH THỜ TỰ MẪU TRONG VĂN HÓA CỘI NGUỒN

C:\Users\HP\Downloads\Hình Thờ Tự Trong Văn Hóa Cội Nguồn (1).png

Ảnh thờ tự 4

Ảnh thờ tự 5

z4196377915568_94c39e75317c1b5f6deb3fc2d1b2e22e

 

D - CÂU ĐỐI THỜ TỰ TRONG VĂN HÓA CỘI NGUỒN

 

GỐC

ĐẠO

ĐỨC

NGÀN

NĂM

TIÊN

TỔ

LẬP

 

ĐẠO

NGHĨA

NHÂN

VẠN

THUỞ

TỬ

TÔN

GÌN

Đ - NGHI LỄ THỜ CÚNG

CHƯƠNG I
LẬP DỰNG BÀN THỜ

Với ý nghĩa: ĐỒNG QUY NHẤT BỔN - tất cả đều chung một Nguồn Cội, nên trong việc thờ cúng Tổ Tiên, Gia Tiên, Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa theo Văn Hóa Cội Nguồn, chúng ta chỉ cần lập dựng MỘT bàn thờ, trên bàn thờ đó chỉ có MỘT lư hương. Lư hương (bát hương) là để thị hiện cho tâm hương của người thờ tự. Lâu nay, nhiều người không hiểu về cái gốc, ý nghĩa sâu xa của lư hương nên thường nhờ thầy/ bà hoặc người tu hành trong tôn giáo bốc lư hương rồi trì chú cho. Lại có một số người lầm tưởng rằng cứ bưng bát hương về để lên bàn thờ là nó linh ứng. Nhưng không phải vậy, nó sẽ không bao giờ có linh. Quý vị cần hiểu muốn lư hương này trở thành vật tương thông với thế giới tâm linh, thì nó phải thị hiện được tâm hương của người thờ cúng. Do đó, gia chủ nên thành kính, thành tâm tự mình bốc bát hương, dù cho chủ nhà là nam hay nữ.

Thờ Tự trong Văn Hóa Cội Nguồn cần theo đúng kinh dịch, thuận theo Đạo Trời, do đó khi sắp xếp ảnh thờ tự cần theo đúng thứ tự của nó: Ảnh Thiên Ấn (Khai Hóa Tổ Tiên) cao nhất -> ảnh Cha Trời Lạc Long Quân, Mẹ Trời Âu Cơ -> Ảnh Quốc Tổ Hùng Vương (100 người con Trời) -> di ảnh người trong gia đình (nếu muốn).

Tuy nhiên, việc lập dựng bàn thờ nên thuận duyên mà áp dụng. Nếu chưa có đủ điều kiện lập ảnh thờ theo Văn Hóa Cội Nguồn, thì quý vị nên khấn lạy Tổ Tiên, Cha Trời, Mẹ Trời, Quốc Tổ trong tất cả khóa lễ. Đây đều là những việc nên làm để tăng thêm phước báu cho bản thân và gia đình.   

Lễ vật thờ cúng nên là: nhang, đèn/ nến, hương, hoa, nước, trà, quả, vật thực thanh tịnh...

* Lưu ý:

+ Một số đồ: thất bảo, tờ hiệu... không nên để trong lư hương.

+ Điều quan trọng là bàn thờ luôn trang nghiêm, sạch sẽ, thanh tịnh.

*     *     *

1 - NỘI DUNG KHAI MỞ THỜ TỰ TRONG GIA ĐÌNH/ DÒNG HỌ

 a) SAU KHI DỰNG BÀN THỜ

ĐỐT 3 CÂY NHANG LÊN BÀN THỜ, RỒI ĐỨNG TRƯỚC BÀN THỜ NIỆM CHÚ NHƯ SAU:

  1. NAM MÔ KHAI HÓA TỐI THƯỢNG TỔ TIÊN VÔ BIÊN NHƯ LAI (lạy).
  2. NAM MÔ LONG HOA CỬU HUYỀN THIÊN PHỤ ẤN QUANG TỐI THẮNG NHƯ LAI (lạy).
  3. NAM MÔ TIÊN CƠ ĐỨC MẸ ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH NHƯ LAI (lạy).
  4. NAM MÔ A MEN
  5. NAM MÔ ĐỨC HƯ KHÔNG TẠNG DIỆU KHÔNG VÔ BIÊN NHƯ LAI (lạy).

(Nếu chúng ta thờ thêm Ông Bà Tiên Tổ - những vị con Trời nào thì khấn thêm vào đây, rồi đọc tiếp).

  1. Nam Mô Khai Hóa Tổ Tiên

Hiện Thân Hai Đấng Cửu Huyền Tối Cao

Sanh Ra Nhân Loại Con Người

Ông Bà, Cha Mẹ, Đến Thời Chúng Con

A Men

NAM MÔ A MEN

b) TIẾP ĐẾN, CHỦ LỄ ĐỌC PHẦN VĂN KHẤN SAU:

CON THÀNH TÂM KÍNH LẠY 100 ÔNG BÀ TIÊN TỔ, CHƯ HƯƠNG LINH GIA TIÊN TIỀN TỔ NỘI NGOẠI/ DÒNG HỌ… (lạy)

CON THÀNH TÂM KÍNH BÁI PHẬT THÁNH TIÊN THẦN CHÚA KHẮP PHÁP GIỚI MƯỜI PHƯƠNG (bái).

Hôm nay, nhằm ngày..... tháng..... năm.....

Gia đình chúng con nay biết quy hướng về Nguồn Cội, Tổ Tiên, Cha Trời, Mẹ Trời, Quốc Tổ,… và hiểu rằng thờ tự trong Văn Hóa Cội Nguồn là tối đại linh thiêng, phước đức vô tận không thể nghĩ bàn, nên đã dựng lập bàn thờ theo Văn Hóa Cội Nguồn.

Chúng con gồm có các thành viên:.....

Ở tại địa chỉ:

Xóm/ Đường:..... Thôn/ Tổ dân phố:..... Xã/ Phường:..... Quận/ Huyện:..... Tỉnh/ Thành phố:..... Nước Việt Nam.

Chúng con đem lòng thành khẩn, thành kính, thành tâm dâng lên: nhang, đèn, hương, hoa, nước, trà, quả, vật thực thanh tịnh cúng dường.

Ngưỡng mong ơn trên.

+ Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu.

+ Long Hoa Giáo Chủ, Di Lặc, Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương, 100 Ông Bà Tiên Tổ.

+ Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới mười phương. Ba thời, quá khứ, hiện tại, vị lai. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ.

Chứng tri công đức ban xuống ân sâu, phù trì, hộ độ chúng con: mạnh khỏe bình an, khai tâm sáng trí, cháu con thuận hiếu, vinh hiển phát quang. Tất cả cùng giác thành Đại Đạo (quý vị khấn/ cầu tùy tâm).

Chúng con nguyện đời đời, kiếp kiếp, tột cùng vị lai, tôn thờ Tổ Tiên, Cha Trời, Mẹ Trời, ba ngôi Tối Cao Vũ Trụ (quý vị phát nguyện tùy ý).

*     *     *

NAM MÔ A MEN (lạy 4 lạy, bái 4 bái)

*     *     *

KHAI KINH KỆ

Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu

Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu

Nay con gặp đặng chuyên trì tụng

Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu.

*     *     *

TỤNG ĐỌC LONG HOA VÔ NGẠI ĐẠI BI THẦN CHÚ

(trang số: 254 - 273)

TỤNG ĐỌC LONG HOA BÁT NHÃ TÂM KINH.

(trang số: 274 - 281)

 

(Bái xá 4 bái)

KẾT THÚC NGHI LỄ

*     *     *

2 - NỘI DUNG KHAI MỞ THỜ TỰ TRONG CÁC CƠ QUAN, DOANH NGHIỆP, TRƯỜNG HỌC, CƠ SỞ THỜ TỰ

 a) SAU KHI DỰNG BÀN THỜ

ĐỐT 3 CÂY NHANG LÊN BÀN THỜ, RỒI ĐỨNG TRƯỚC BÀN THỜ NIỆM CHÚ NHƯ SAU:

  1. NAM MÔ KHAI HÓA TỐI THƯỢNG TỔ TIÊN VÔ BIÊN NHƯ LAI (lạy).
  2. NAM MÔ LONG HOA CỬU HUYỀN THIÊN PHỤ ẤN QUANG TỐI THẮNG NHƯ LAI (lạy).
  3. NAM MÔ TIÊN CƠ ĐỨC MẸ ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH NHƯ LAI (lạy).
  4. NAM MÔ A MEN
  5. NAM MÔ ĐỨC HƯ KHÔNG TẠNG DIỆU KHÔNG VÔ BIÊN NHƯ LAI (lạy).
  6. Nam Mô Khai Hóa Tổ Tiên

Hiện Thân Hai Đấng Cửu Huyền Tối Cao

Sanh Ra Nhân Loại Con Người

Ông Bà, Cha Mẹ, Đến Thời Chúng Con

A Men

NAM MÔ A MEN

b) TIẾP ĐẾN, CHỦ LỄ ĐỌC PHẦN VĂN KHẤN SAU:

CON THÀNH TÂM KÍNH LẠY 100 ÔNG BÀ TIÊN TỔ. (lạy)

CON THÀNH TÂM KÍNH BÁI PHẬT THÁNH TIÊN THẦN CHÚA KHẮP PHÁP GIỚI MƯỜI PHƯƠNG (bái).

Hôm nay, nhằm ngày..... tháng..... năm.....

Họ tên con là:..... sinh năm:.....

Chức vụ:.....

Tên cơ quan/ doanh nghiệp/ trường học/ cơ sở thờ tự:.....

Địa chỉ:.....

Chúng con là những con cháu Tiên Rồng, nay biết quy hướng về Nguồn Cội, Tổ Tiên, Cha Trời, Mẹ Trời, Quốc Tổ và hiểu rằng thờ tự trong Văn Hóa Cội Nguồn là tối đại linh thiêng, phước đức vô tận không thể nghĩ bàn, nên đã dựng lập bàn thờ để phụng báo ơn trên, Tổ Tiên, Cha Trời, Mẹ Trời, Quốc Tổ…

Chúng con đem lòng thành khẩn, thành kính, thành tâm dâng lên: nhang, đèn, hương, hoa, nước, trà, quả, vật thực thanh tịnh cúng dường.

Ngưỡng mong ơn trên.

+ Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu.

+ Long Hoa Giáo Chủ, Di Lặc, Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương, 100 Ông Bà Tiên Tổ.

+ Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới mười phương. Ba thời, quá khứ, hiện tại, vị lai. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ.

Chứng tri công đức ban xuống ân sâu, phù trì, hộ độ hết thảy cơ quan/ doanh nghiệp/ trường học/ cơ sở thờ tự/ đất nước Việt Nam:....., đạt được..... (quý vị khấn/ cầu tùy tâm).

Chúng con nguyện đời đời, kiếp kiếp, tột cùng vị lai, tôn thờ Tổ Tiên, Cha Trời, Mẹ Trời, ba ngôi Tối Cao Vũ Trụ. (quý vị phát nguyện tùy ý).

NAM MÔ A MEN (lạy 3 lạy, bái 4 bái)

*     *     *

KHAI KINH KỆ

Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu

Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu

Nay con gặp đặng chuyên trì tụng

Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu.

*     *     *

TỤNG ĐỌC LONG HOA VÔ NGẠI ĐẠI BI THẦN CHÚ

(trang số: 254 - 273)

TỤNG ĐỌC LONG HOA BÁT NHÃ TÂM KINH.

(trang số: 274 - 281)

 

(Bái xá 4 bái)

KẾT THÚC NGHI LỄ

*     *     *

3 - HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH NGHI LỄ

Khi đọc Thánh Chú Cội Nguồn để khai mở thờ tự, quý vị nhìn vào hình Thiên Ấn và thể hiện tấm lòng biết ơn các ngôi.

Đối với các danh hiệu có số 1, 2, 3, 5, quý vị đứng và đọc niệm danh hiệu, sau đó quý vị quỳ và lạy xuống. Rồi đứng lên, đọc danh hiệu tiếp theo. Sau khi đọc xong danh hiệu tiếp theo thì lại quỳ và lạy. Cứ thế theo đúng pháp chú mà hành.

Khi quỳ lạy, các vị gập lưng, cúi đầu của mình đặt vào 2 lòng bàn tay. Lúc này 2 lòng bàn tay đặt sát nhau, ngửa lòng bàn tay lên để nhận ân điển của Trời (như hình). Đây chính là một ấn pháp (ni pháp) thường được sử dụng trong khi cầu nguyện để nhận lại, nhận về thứ gì đó mà người khác hoặc các bậc bề trên cho mình. Khi quỳ, lạy trong lúc làm lễ, quý vị để tay sát mặt đất rồi đưa trán úp vào.

Thiên hạ, một số người không hiểu nên họ úp lòng bàn tay xuống đất. Có nghĩa họ sử dụng ấn pháp của âm cảnh. Còn hễ lòng bàn tay ngửa lên là sử dụng ấn pháp của dương khí. Các vị giác ngộ họ đều hiểu được ý nghĩa này nên họ cũng để ngửa 2 lòng bàn tay. Thầy thấy, trong những khóa lễ lớn hiện nay, nhiều người không hiểu nên thường đặt 2 tay cách xa nhau, người úp, người ngửa lòng bàn tay, rất lộn xộn.

Nếu quý vị có sử dụng chuông, thì gõ một tiếng chuông báo trước khi đi vào khóa lễ. Rồi sau đó đọc niệm danh hiệu. Đọc xong mỗi danh hiệu Tổ Tiên, Cha Trời, Mẹ Trời, Quốc Tổ, lại gõ một tiếng chuông rồi tất cả gia chủ cùng những người tham dự đồng lễ lạy.

--------------------------------------------------

CHƯƠNG II
QUỐC BẢO KHAI KINH

ĐẠI THỪA QUỐC BẢO KHAI KINH

Sử dụng ở những địa điểm thờ tự lớn, như trong Cơ quan, Doanh nghiệp, Công ty, Trường học, Am, Thất, Đền, Chùa… hoặc tại gia (khi có Chủ Lễ).

--------------------------------------------------

1 - KHAI KINH SỐ 1
KHAI CƠ

Chuông đánh ba hồi ba tiếng.

Trống đánh ba hồi ba tiếng.

Tiếp theo sau là đánh tiếng chuông, tiếng trống, 3 tiếng chuông 3 tiếng trống.

Sau cùng nhập chuông trống đánh cùng một lúc (thứ 4)

a) KHAI CƠ THÁNH ĐỨC

CHỦ LỄ

Đứng ngay ngắn xướng niệm

Hai bên chủ lễ Tả Hữu phía sau lắng nghe.

a1) TỊNH PHÁP GIỚI CHƠN NGÔN

Thế giới tịnh yên nhờ có Đạo

Non sông có Đạo mới bình yên

Gia đình xã hội chúng dân

Nếu không có Đạo rối ben khốn cùng

Án lam xóa ha (3 lần)

a2) TỊNH TAM NGHIỆP CHƠN NGÔN

Thân lành thường giúp thế nhân

Khẩu lành không nói hiểm sâu hại đời

Ý lành cứu giúp con người

Làm cho cuộc sống yên bình, bình yên

Án ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ

Đạt mạ ta phạ, bà phạ truật độ hám (3 lần).

Quỳ ngay thẳng: Chủ Lễ cầm 3 cây hương dâng ngang trán xướng niệm. Hai bên Tả - Hữu đứng phía sau chấp tay yên lặng chú ý lắng nghe.

Nguyện đem lòng thành kính

Gởi theo đám mây hương

Phảng phất khắp mười phương

Cúng dường ngôi Tiên Tổ

Cha Trời cùng Địa Mẫu

Long Hoa Giáo Chủ

Di Lặc. Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương

Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới mười phương. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ.

(gõ tiếng chuông đồng bái lạy)

a3) KỲ NGUYỆN:

Hôm nay nhằm Ngày..... Tháng..... Năm..... Thôn/ Tổ dân phố:..... Xã/ Phường:..... Quận/ Huyện:..... Tỉnh/ Thành phố:..... Nước Việt Nam.

Tại nơi: Am, Thất, Đền, Chùa.....

Nhớ đến ngày Tổ Tiên. Hiện Thân Cha Trời. Địa Mẫu. Ngày vía Long Hoa Giáo Chủ, Di Lặc, Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương.

Chủ Lễ tánh danh:..... pháp danh.....

Cùng tất cả chúng dân, đệ tử. Đem lòng thành khẩn, thành tâm dâng lên, nhang, đèn, hương hoa, trà, quả... Lập thành nghi thức, cúng dường đảnh lễ. Trì chú, tụng niệm kinh luân. Cầu cho Quốc thới dân an, tai họa tiêu tan dân giàu nước mạnh, hạnh phúc an vui.

Ngưỡng mong ơn trên. Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Long Hoa Giáo Chủ. Di Lặc, Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới mười phương. Ba thời, quá khứ, hiện tại, vị lai. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ. Chứng tri công đức ban xuống ân sâu. Hộ độ chúng con, vạn sự bình an. Khai tâm mở trí, sáng láng thông minh. Giác thành Đại Đạo.

(đánh một tiếng chuông đồng bái lạy).

a4) KHAI ẤN

CHỦ LỄ cùng hai bên chủ lễ TẢ, HỮU cùng xướng đọc

Thiên Ấn tối cao, Ấn tối linh

Chuyển vận huyền cơ cứu nhân sanh

Nhất tâm lễ bái lòng cung kính

Họa tai tan biến, thoát siêu sinh

Ấn Linh Tối Thắng khắp hư không

Chuyển hóa Linh Căn pháp đại đồng

Vi Diệu Thậm Thâm cơ ứng hóa

Cội Nguồn Đại Đạo Cội Cha Ông

(đánh tiếng chuông đồng bái lạy)

*     *     *

Thấy Ấn như thấy Cha Trời

Thành tâm lễ bái vãn hồi chân như

Thấy Ấn như thấy Âu Cơ

Mẹ Trời che chở bến bờ bình yên

Ấn Linh ứng hóa vô biên

Chuyển xoay tất cả cứu nguy linh hồn

Hào quang Thiên Ấn bao trùm

Anh Linh tột thế khắp cùng chuyển xoay

Thiên Ấn Tối Thắng Như Lai

Nhất tâm cung kính tội tiêu ức ngàn

Thấy Ấn như thấy Cha Trời

Cầu chi đặng nấy linh thời ứng linh

Nam Mô vô tận hư không

A Men như ý quyền năng tột cùng

(đánh tiếng chuông đồng bái lạy).

*     *     *

a5) KHAI BÚT

CHỦ LỄ cùng hai bên chủ lễ TẢ, HỮU đồng xướng đọc

Thiên Bút cao sâu khó nghĩ bàn

Ứng Linh xuất hiện chốn nhân gian

Cứu khổ ban vui cùng nhân loại

Vi diệu thậm thâm ức vạn ngàn.

Nam Mô Thiên Bút Đạo Tràng.

Linh Linh ứng hóa khắp cùng A Men.

(đánh tiếng chuông đồng bái lạy).

*     *     *

a6) CHÚ NGUYỆN

Nguyện cầu pháp giới sanh linh

Tịnh yên vô nhiễm sạch không bụi trần

Hương giới hương huệ thơm lừng

Hương nhân hương nghĩa tột cùng sáng soi

Khẩu lành tụng niệm kinh luân

Gieo mầm công đức, gieo nhân quả lành

Tịnh khẩu ác nghiệp không còn

Hương thơm lan tỏa Đạo tràn cao bay

Tam nghiệp thanh tịnh an vui

Thân cùng Khẩu, Ý đắp xây quả lành

Trì kinh tụng đọc cúng dường

Dâng lên Tiên Tổ, Cha Trời chứng tri

Nguyện cho kinh pháp chuyển luân

Khắp cùng pháp giới mười phương gieo mầm

Lời kinh tận độ khắp cùng

Làm cho tất cả không còn khổ đau

Làm cho tất cả siêu sanh

Trở về Thiên Giới an lành yên vui.

Nam Mô - A Men. Tổ Tiên, Cha Trời, Địa mẫu. Long Hoa Giáo Chủ. Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới mười phương. Quá khứ, hiện tại, vị lai. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ. Cứu khổ hộ độ chúng con. Nam Mô - A Men.

(đánh tiếng chuông)

(Lạy 3 lạy bái 4 bái)

*     *     *

PHẦN KHAI CƠ THÁNH ĐỨC ĐẾN ĐÂY LÀ HẾT.

TIẾP THEO SAU LÀ PHẦN KHAI KINH

 

b) KHAI KINH

Đánh tiếng chuông, tiếng mõ

Tiếng chuông tiếng mõ

Tiếng chuông tiếng mõ (3 lần).

b1) Chủ Lễ Khai Kinh Xướng Đọc

Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu

Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu

Nay con gặp đặng chuyên trì tụng

Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu.

Nhất tâm cung kính: Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu Tối Cao Tam Bảo. Khắp hư không, pháp giới mười phương. Bao trùm quá khứ, hiện tại, vị lai, Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ.

(gõ chuông, đồng lạy)

Nhất tâm cung kính: Chí Tôn Thiên Đế. Long Hoa Giáo Chủ, Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới hư không quá khứ, hiện tại, vị lai. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ.

(gõ chuông, đồng lạy)

Nhất tâm cung kính: Long Hoa Giáo Chủ. Quốc Vương Thủy Tổ phân hóa mười phương. Chuyển đại pháp luân. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ, phương tiện vô biên diệu khởi cứu khổ sanh linh khắp Ta Bà thế giới.

(gõ chuông, đồng lạy)

b2) <TIẾP THEO> TỤNG CHÚ ĐẠI BI

(trang số: 254 - 273)

b3) <TIẾP THEO> TỤNG KINH LONG HOA

(trang số: 243 - 253)

(nói về Cha Trời Mẹ Trời sanh ra nhân loại con người, xem Long Hoa Mật Tạng Kinh, Long Hoa Thiên Tạng Kinh sẽ nói rõ hơn).

b4) <TIẾP THEO> TỤNG CHÚ LONG HOA BÁT NHÃ TÂM KINH 1, 2, 3

(trang số: 274 - 281)

b5) <TIẾP THEO> TAM NGUYỆN

Chủ Lễ xướng đọc

Cả ba Chủ Lễ, hai bên Tả Hữu đồng đọc

NAM MÔ A MEN

Đương Nguyện Thế Nhân. Quy Kính Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Thuận Theo Kinh Bảo. Thiên Ý Cha Trời. Thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.

(đánh tiếng chuông đồng bái lạy)

NAM MÔ A MEN

Đương Nguyện Thế Nhân. Phát Vô Thượng Tâm. Thấu Suốt Kinh Tạng Trí Huệ Như Hải.

(đánh tiếng chuông đồng bái lạy)

NAM MÔ A MEN

Đương Nguyện Thế Nhân. Phát Vô Thượng Tâm. Thống Lý Đại Chúng Không Gì Ngăn Ngại.

(đánh tiếng chuông đồng bái lạy)

Nguyện đem công đức nầy

Hồi hướng khắp tất cả

Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ

Hết khổ tự tại, an vui hạnh phúc

*     *     *

(Bái xá 4 bái)

Phần khai kinh cũng như phần tụng kinh cơ bản đến đây là hết. Nếu muốn trì tụng kinh rộng lớn hơn. Tiếp theo sau Chú Đại Bi, thời chọn những phần kinh, trong Nhơn Luân Hiếu Nghĩa, Long Hoa Thi Tập, Long Hoa Thiên Tạng, Long Hoa Pháp Tạng, Long Hoa Mật Tạng, Sau Thời Hậu Đế, Quốc Hồn Long Hoa Đại Cương. Và còn những Văn Kinh trong Văn Sử khác nữa, v.v...

--------------------------------------------------

NHỮNG ĐIỀU CẦN CHÚ Ý:

Quốc Bảo Khai Kinh là những phần văn kinh cơ bản. Còn muốn thêm hay bớt cho phù hợp hành lễ. NGỘ BIẾN, TÙNG QUYỀN do người khai kinh. Không cần phải rập khuôn theo Khai Kinh. Tuỳ nghi thêm hay bớt văn kinh cho phù hợp nơi hành lễ. Không làm trở ngại cho việc hành lễ.

--------------------------------------------------

2 - KHAI KINH SỐ 2
GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG

Ba hồi chiêng - trống khai văn tế

VĂN TẾ DÂNG HOA

Chủ Tế bước tới trước một bước quỳ xuống xuống đọc Văn Tế. Hai bên Tả Hữu chủ lễ phía sau chấp tay chú ý lắng nghe.

Tinh Hoa: rực thắm sắc hương hoa

Thành tâm dâng cúng đức Ông Cha

Việt Nam con cháu lòng đóa tưởng

Công đức Vua Hùng mãi ngợi ca

(đánh tiếng chiêng tiếng trống)

(Hai bên Tả Hữu chủ lễ đồng bái lạy).

VĂN TẾ DÂNG TỬU

Tửu Vị: ấm nồng, tửu vị hương

Thành tâm dâng cúng Tổ Hùng Vương

Việt Nam con cháu lòng thành kính

Ân Đức Vua Hùng sáng hơn gương

(đánh tiếng chiêng tiếng trống)

(Hai bên Tả Hữu chủ lễ đồng bái lạy).

VĂN TẾ DÂNG TRÀ

Thảo mộc: tinh hoa mỹ vị trà

Thành tâm dâng cúng cội Ông Cha

Vua Hùng Quốc Tổ niềm chứng giám

Con cháu Tiên Rồng những thiết tha

(đánh tiếng chiêng tiếng trống)

(Hai bên Tả Hữu chủ lễ đồng bái lạy).

VĂN TẾ KHAI TRỐNG KHAI CHIÊNG

Hồi chuông: trỗi dậy chuyển âm vang

Truyền tấu càn khôn khắp thế gian

Phổ hóa Cha Ông đà ngự giá

Anh Linh truyền thống tỏa hào quang

(đánh tiếng chiêng tiếng trống)

(Hai bên Tả Hữu chủ lễ đồng bái lạy).

VĂN TẾ KHAI TRỐNG

Phúc Âm: sấm dậy chuyển âm vang

Ấn chỉ ban ra khắp thế gian

Tiếng trống phổ truyền chung thinh cáo

Giỗ Tổ Vua Hùng đại vinh quang

(đánh tiếng chiêng tiếng trống)

(Hai bên Tả Hữu chủ lễ đồng bái lạy).

VĂN TẾ TRỐNG CHIÊNG HỢP NHẤT

Âm - Dương Chiêng - Trống hiệp ban ra

Phổ hóa anh linh khắp nước nhà

Truyền tấu càn khôn thông pháp giới

Đương kim Quốc Giáo Đạo Ông Cha

(đánh chiêng trống chiêng trống 3 lần)

(đồng bái lạy)

Đi vào Văn Tế đại lễ

*     *     *

a) VĂN TẾ ĐẠI LỄ

Chủ Lễ đọc giọng trầm hùng

MỪNG NGÀY HÔM NAY

Trống đồng chuyển thế

Non sông dậy sấm anh hùng

Trống đồng ngân lên!

Việt Nam ngút ngàn linh khí

Rồng Tiên phấp phới!

Dậy sóng đất trời chuyển rung

Toàn dân giỗ Tổ!

Nhớ đến công ơn!

Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương

Cả nước mừng vui Quốc Lễ

Trên non dưới biển

Rợp bóng người đi

Cờ xí uy nghi!

Trống Chiêng thi nhau dục dã

Trăm họ, gái, trai, già trẻ!

Hân hoan muôn dặm trùng phùng

Bừng lên Nhật Nguyệt lẫy lừng

Việt Nam con cháu Tiên Rồng uy linh

Sơn hà trỗi dậy hương thơm

Trên Trời hạt trắng, mây xanh cát tường

Địa Linh non nước diệu kỳ

Núi non trùng điệp, điệp trùng uy nghi

Biển bọc bao la!

Ruộng đồng mênh mông

Thuyền xuôi sóng vỗ!

Núi mây sừng sững công Cha

Hổ Lượn Rồng Bay!

Sông nước tràn đầy nghĩa Mẹ

CÙNG NHÌN LẠI!

41 đời Hùng Vương

Bách Việt Văn Lang

Trăm bộ tộc!

Chầu về một hướng

Đạo Ông Cha muôn trượng cơ đồ

Lòng chuyên nhất triệu người như một

Cuộc mưu sinh khổ cực có nhau

Thế hệ trước tiếp nối thế hệ sau

Dù ngoại xâm!

Hay là Yêu Tinh Ma Quỷ

Tinh thần yêu nước

Vùng lên quật khởi

Dũng cảm mưu trí quật cường

Hiên ngang thay!

Bao phen từng đánh tan quân xâm lược

Thời Tiên Lang!

Khiến quân Ân khiếp nhược!

Anh Linh thay!

Phù Đổng Thiên Vương!

Một trận đánh hậu Ân tan xác

Nước Văn Lang oai hùng có khác

Vẻ vang thay 41 đời

Triều Vương Thế giới!

Nào có ai hơn!

Rực rỡ mấy nghìn năm thịnh trị

Với công lao!

Khai phá dựng nước một thời

Mà uy lực trải dài trăm thế hệ

Lòng yêu nước!

Ngút cao trên chín bệ

Đạo Hiếu Trung!

Nào phân biệt Gái, Trai

Triệu Nữ, Trưng Vương! Anh hùng cái thế

Trai dũng lược Đinh Tiên, Lý Đế

Sông Bạch Đằng!

Ngô Quyền:

Đánh tan quân Nam Hán

Gió Nam Việt rền vang Truyền Thống

Lý Thường Kiệt!

Khiếp hồn quân Tống

Hội Diên Hồng!

Rung chuyển cả trăng sao

Hưng Đạo Vương!

Trung, Hiếu, Chí, Đức cao

Ba lần đánh Nguyên Mông khiếp vía

Lở đất long trời!

Quang Trung đại phá!

Một trận đánh vùi chôn quân Sĩ Nghị

Tiên Rồng hừng hực!

Năm nghìn năm, Đại Việt Uy Linh

CHÚNG CON NAY

Khắp ba miền Trung - Nam - Bắc

Bốn phương rộng khắp!

Nam - Bắc - Đông - Tây

Trăm họ, già, trẻ, gái, trai

Kính cẩn nghiêng mình Đại Lễ

Trên Quốc Tổ linh thiêng chỉ vẽ

Dưới Hồn Thiêng cao cả phù trì

XIN CÚI NGUYỆN

Trăm con một bọc!

Đồng Bào ruột thịt!

Yêu thương nhau đùm bọc chan hòa

Một gốc trăm cành!

Gắn bó mãi như keo sơn chặt chẽ

Dựng cơ đồ Chị ngã Em nâng

Cơn hoạn nạn Bầu thương lấy Bí

Chung sức cùng gian khó xẻ chia

Vì thế hệ tương lai!

Nào kể gì sống chết

Mãi hết lòng vì Dân! Vì Nước

Noi gương Cha Ông luôn gắng sức

Tinh thần cao ngút!

Khí thế con cháu Tiên Rồng

Nhớ ơn đời đời Hùng Vương Vạn Tuế

Nhớ ơn đời đời Hùng Vương Cái Thế

Nhớ ơn đời đời trời bể Hùng Vương

*     *     *

Chiêng trống nổi lên rền vang đại lễ

Chiêng - Trống

Chiêng - Trống

Chiêng - Trống

Hồng Lạc Tinh Hoa năm châu bốn biển ngoại xâm khiếp vía kinh hoàng.

Chủ văn tế Lạy 9 lạy 9 bái

*      *     *

Phần văn tế đến đây là hết, tiếp đến phần khai Giáo.

Quốc Đạo Nền Văn Hiến Văn Lang Thời khai cơ dựng nước. Nay là Nền Văn Hiến Quốc Giáo Truyền Thống Anh Linh Việt Nam.

b) PHẦN KHAI GIÁO

HỒI CHIÊNG - HỒI TRỐNG

CHIÊNG - TRỐNG

CHIÊNG - TRỐNG

CHIÊNG - TRỐNG

Chủ Lễ xướng đọc Văn Giáo.

Phụng Nguyện Thượng Sớ

Hôm nay ngày Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương.

Nhằm Ngày..... Tháng..... Năm.....

Thôn/ Tổ dân phố:..... Xã/ Phường:..... Quận/ Huyện:..... Tỉnh/ Thành phố:..... Nước Việt Nam.

Tại nơi: Am, Thất, Đình, Đền, Chùa.....

 Trì tụng kinh giáo. Dâng lên Khai Hóa Tổ Tiên. Cha Trời Lạc Long Quân, Địa Mẫu Âu Cơ. Long Hoa Giáo Tổ, Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương. Hết thảy Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới hư không. Quá khứ, Hiện tại, vị lai. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ. Năm châu bốn biển. Hồn Thiêng Sông Núi. Hội tụ Linh Thiêng về đây. Chứng tri công đức trì tụng Văn Giáo Kinh Luân.

Nguyện ơn trên hộ độ chúng con.

(gõ chuông đồng bái lạy).

KHAI GIÁO

ĐỌC TỤNG TẬP THỂ

Việt Nam Quốc Giáo lẫy lừng

Uy Linh vạn cõi sáng bừng thập phương

Truyền Thống Cha Ông vẻ vang

Năm nghìn năm Văn Hiến vinh quang tột cùng

(gõ tiếng chuông - đồng bái lạy).

KHAI ẤN

Ấn Linh xuất hiện chuyển an bang

Vận chuyển càn khôn chuyển thế gian

Thiên Ý Cha Trời nền Thiên Luật

Duy trì Công Đạo Chiếu Linh Quang

(gõ chuông đồng bái lạy).

KHAI BÚT

Bút Linh xuất hiện chốn nhân gian

Chuyển nguy hóa giải đến bình an

Việt Nam tỏa sáng nền Quốc Giáo

Rực rỡ Sơn Hà dậy vinh quang.

Nam Mô - A Men. Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Long Hoa Giáo Chủ, Chí Tôn Thiên Đế Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới hư không. Quá khứ, hiện tại, vị lại. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ.

(gõ chuông đồng bái lạy)

*     *     *

Đọc tụng tập thể.

SÁM KINH

Quốc Tổ Anh Linh khó nghĩ bàn

Xuống trần khai Đạo cứu thế gian

Nay con thành kính xưng danh tụng

Phổ hóa lời kinh Quốc Đạo Tràng

Trước ảnh tượng Tiên Rồng chóa sáng

Lạc Long Quân cùng với Âu Cơ

Cha Trời Địa Mẫu Tối Cao

Uy Linh tột đỉnh trùm bao uy quyền

Với lòng dạ chí thành cung kính

Xin Trời Cha chứng giám công lao

Thành tâm lễ bái công ơn

Sanh thành dưỡng dục tạo lên muôn loài

Ngày Đại Lễ vang lừng Giỗ Tổ

Khắp cháu con hoa quả dâng lên

Một lòng nhớ đến công ơn

Khai cơ dựng nước dựng lên sơn hà

Ơn Quốc Tổ không gì sánh được

Truyền chân kinh tận độ chúng dân

Lập lên đất nước Văn Lang

Văn Minh hùng mạnh thế gian ai bì

Ơn Quốc Tổ thấm nhuần con cháu

Năm nghìn năm Văn Hiến vinh quang

Văn Lang Bách Việt chúng dân

Đời đời ghi nhớ công ơn của Người

Ngày giỗ Tổ tựu tề đông đủ

Đèn, hương, hoa, trà, quả kính dâng

Tỏ lòng thành kính tri ân

Công lao Quốc Tổ không ai hơn Người

Nền Quốc Đạo sáng ngời chân lý

Ơn Vua Hùng truyền giáo khai kinh

Công ơn trời biển công ơn

Nói sao cho tận kể sao cho cùng

Ngày Giỗ Tổ chí thành lễ bái

Xin bề trên chứng giám công lao

Khí Thiêng sông núi khắp nơi

Hồn Thiêng dân tộc vạn đời chở che

Là dân tộc Rồng Tiên Hồng Lạc

Vốn giống dân Hồng Ngọc uy linh

Giống dân Trung Hiếu Nghĩa Nhân

Không quên Nguồn Cội không quên giống nòi

Chúng con ý thức được rằng

Như cây có Cội nở nhành nở hoa

Nước kia không cạn vì sao

Còn Nguồn còn Cội đầy sông đầy hồ

Loài Chim có Tổ trường tồn

Loài người có Cội Tiên Rồng uy linh

Dân Tộc Việt năm nghìn năm truyền thống

Trải bao đời tiếp nối đến hôm nay

Giữ gìn bồi đắp dựng xây

Cho non cho nước nở đầy nhành xuân

Nền Văn Hiến lẫy lừng con cháu

Rạng hùng anh tỏa sáng Cha Ông

Rồng Tiên phấp phới cao bay

Năm châu bốn bể đấp xây hòa bình

Nước Việt nam đại gia đình dân tộc

Thể Đồng Bào luôn đùm bọc lẫn nhau

Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Người trong một nước phải thương nhau cùng

Lá rách nương nhờ lá lành

Tinh thần đoàn kết bao đời khó phai

Anh Em như thể chân tay

Như chim liền cánh như cây liền cành

Ngày Giỗ Tổ hương trầm thơm ngát

Lời kệ kinh thấu suốt Tam Thiên

Kết thành cam lộ vô biên

Thấm nhuần hết thảy ức muôn vạn loài

Xin Tổ Tiên, Cha Trời, Địa mẫu

Cùng Vua Hùng Quốc Tổ anh linh

Hồn Thiêng sông núi chứng minh

Chứng tri công đức chúng con thọ trì

Nguyện cho đất nước an lành

Thái bình độc lập nở nhành giàu xuân.

Nam Mô - A Men. Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Long Hoa Giáo Chủ, Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương. Phật Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới hư không. Quá khứ, hiện tại, vị lai. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ. Chứng minh công đức ban xuống ân sâu. Hộ độ chúng con, vạn sự bình an. Tai qua nạn khỏi, căn lành tăng trưởng. Tinh thần minh mẫn, sáng láng thông minh, hành trì chánh giáo, thuận theo Thiên Ý, hóa độ sanh linh. Nhân loại anh em khắp cùng thế giới đem lại cuộc sống ấm no hạnh phúc an vui. Nam Mô - A Men.   

  (đánh hồi chiêng hồi trống kết thúc Khai Giáo)

(Lạy 3 lạy bái 4 bái)

*     *     *

Lễ khai Văn Tế, khai Kinh, khai Giáo, Giỗ Tổ đến đây là hết.       

 

--------------------------------------------------

3 - KHAI KINH SỐ 3
CẦU AN

Chuông đánh 3 hồi 3 tiếng

Kế đến

Tiếng chuông tiếng mõ

Tiếng chuông tiếng mõ

Tiếng chuông tiếng mõ

Thắp đèn đốt hương, ban chủ lễ đứng ngay ngắn, chấp tay ngang ngực Chủ Lễ xướng tụng.

Chuông Mõ truyền đi thấu cõi Trời

Truyền rằng Trần Thế tại chúng nơi

Việt Nam tỏ rạng lời Trời dạy

Thiên Ý cam lồ thiện sinh sôi

(gõ chuông đồng bái lạy).

TỊNH PHÁP GIỚI CHƠN NGÔN

Thế giới: tịnh yên nhờ có Đạo

Non sông: có Đạo mới bình yên

Gia đình xã hội chúng dân

Nếu không có Đạo rối ben khốn cùng

Án lam xóa ha (3 lần)

(gõ chuông đồng bái lạy).

TỊNH TAM NGHIỆP CHƠN NGÔN

Thân lành thường giúp thế nhân

Khẩu lành không nói hiểm sâu hại người

Ý lành tận độ muôn loài

Làm cho hết thảy không còn khổ đau

Án ta phạ bà phạ, Truật đà ta phạ

Đạt mạ ta phạ, bà phạ truật độ hám (3 lần)

(gõ chuông đồng bái lạy).

Chủ Lễ bước tới trước một bước. Quỳ ngay thẳng.

Tả Hữu hai bên chấp tay lắng nghe.

Chủ Lễ cầm 3 cây hương dâng ngang trán xướng đọc.

CẦU NGUYỆN:

Nay có Thánh Đức tên là:..... Pháp Danh..... cùng cộng sự đồng Đạo.

Tên Là:.....

Hôm nay nhằm Ngày..... Tháng..... Năm..... Tổ dân phố/ Thôn:..... Xã/ Phường:..... Quận/ Huyện:..... Tỉnh/ Thành phố:..... Nước Việt Nam.

Tại nơi Cư Gia, Đền thờ, Chùa chuyền Am Cốc, Miếu, Thất.

Giờ Tốt: Khai Kinh: Chư Chức Sắc. Đức Thầy. Chư Tăng. Đại Đức. Cùng toàn thể, thiện nam, tín nữ, cũng như con cháu, gái trai, già trẻ. Thành tâm cung kính lễ lạy cúng dường. Nhang, đèn, hương, hoa, trà, quả, rượu, nước, tinh khiết lập thành nghi thức dâng lên Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Ngưỡng mong ba ngôi tối cao. Ban xuống ân sâu. Khai tâm mở trí. Sáng láng thông minh. Thừa hành di chí ơn trên. Hành trì chánh giáo. Thuận theo Thiên Ý. Người sống thời được bình an. Người mất siêu sanh. Tất cả chứng thành quả Đạo. An vui tự tại dứt hết não sầu. Lời kinh vang vọng xin cầu.

Tổ Tiên, Địa Mẫu, Cha Trời chứng tri.

Nam Mô - A Men.

(gõ chuông đồng lễ lạy)

Chủ Lễ cùng Tả Hữu hai bên đồng xướng đọc:

KỆ CÚNG HƯƠNG

Đốt nén tâm hương đến Cha Trời

Linh Căn dâng trọn dưới chân Người

Cầu xin bảo bọc cùng che chở

Họa kiếp tai ương dứt tiêu trừ

Đốt nén tâm hương đến Mẹ Trời

Cầu cho nhân thế sống trên đời

Họa tai tan biến tâm an lạc

Gia Đình Xã Hội sống thảnh thơi

Đốt nén tâm hương dứt lòng tà

Nhớ lời truyền dạy Đức Trời Cha

Sống theo Thiên Ý thông đạt giáo

Trở về Thiên Giới sống âu ca

(gõ chuông đồng bái lạy).

*     *     *

TÁN DƯƠNG

Cha Trời pháp thuật vô biên

Thần thông quảng đại Tam Thiên cúi chầu

Mẹ Trời pháp thuật cao sâu

Tam Thiên cuộc sống Mẹ hầu chở che

Chúng con thành kính lắng nghe

Cúi xin Cha Mẹ chuyển xoay yên bình

Nam Mô cuộc sống an lành

A Men như ý không còn khổ đau

Chú pháp Cha Mẹ ban cho

Linh thiêng mầu nhiệm họa tai chẳng còn

Chú pháp đem lại cát tường

Thiên La, Địa Pháp hiệp cùng ứng linh

Thiên La Thần, Địa La Thần

Thân ly nạn, Nạn ly thân

Nhất thiết tai ương hóa vi trần

Nam Mô cung thỉnh nguyện cầu

A Men linh ứng nhiệm mầu ứng linh

(gõ chuông đồng bái lạy).

*     *     *

TÁN DƯƠNG

Lời kinh thấu đến Cha Trời

Đức lành ngào ngạt khắp thời Tam Thiên

Cầu cho nhân loại bình yên

Não phiền dứt sạch keo sơn hiệp hòa

Cội Nguồn truyền thống Ông Cha

Sáng soi nhân đức trổ hoa thái bình

Hiển linh, ứng ứng hiển linh

Lời kinh chuyển hóa muôn nghìn vận may

Nam Mô vô tận hư không

A Men như ý ước mong đạt thành

(gõ chuông đồng bái lạy).

*     *     *

SÁM GIÁC CA

Một lòng quy kính Tổ Tiên

Cha Trời, Địa Mẫu, Cửu Huyền Long Hoa

Hành thiện điều ác tránh xa

Trăm lành vạn phúc cái vui nào bằng

Hành thiện siêu sanh Thiên Đàng

Cung Trời sống mãi hết còn khổ đau

Cội Nguồn Văn Hóa cao sâu

Thậm thâm vi diệu biết bao cơ mầu

Thiên Luật, Thiên Ý Cha Trời

Chỉ cần làm được một lời cũng linh

Cha Trời hộ độ khai tâm

Phật, Tiên, Thánh, Chúa chẳng tầm đâu xa

Ngộ rồi trí huệ sáng soi

Tử sanh, sanh tử rõ thông an nhàn

Cội Nguồn kinh giáo Đạo Tràng

Như liều Thánh Dược cứu đời khốn nguy

Nghịch Thiên thời được cái chi

Muôn điều tai họa hết mong yên bình

Tai ương khắp chốn khắp cùng

Chỉ vì nghịch lại Ý Trời mà ra

Cầu lên ba đấng Ông Cha

Tối cao vũ trụ khai sinh Đất Trời

Quyền năng vô hạn tột cùng

Khai sinh tất cả vạn loài Tam Thiên

Thuận Trời muôn sự bình yên

Vạn lành muôn phúc việc chi cũng thành

Thuận Thiên tai họa tiêu trừ

Gia đình họ tộc rạng ngời danh thơm

Ông Bà Cha Mẹ siêu thăng

Cũng nhờ công đức Thuận Thiên Cha Trời

Cầu lên ba đấng cao vời

Quyền năng tột đỉnh giúp thời chúng con

Sống thời thường được bình an

Mọi điều suôn sẻ khó khăn cũng lành

Cầu xin Quốc Tổ Vua Hùng

Hiển Linh gia hộ khắp cùng chúng dân

Non sông Tổ Quốc giang sơn

Sanh sôi cuộc sống thênh thang cơ đồ

Khắp nơi phồn thịnh sang giàu

Nơi nào cũng được ngập tràn ấm no

Cầu cho Quốc Thới dân an

Nhà nhà hạnh phúc cháu con thuận hòa

Cầu cho Nam Việt nước nhà

Văn minh cuộc sống rạng ngời anh linh

Theo chân Quốc Tổ Hùng Vương

Nhân quyền dân chủ văn minh tột cùng

Dân giàu nước mạnh anh hùng

Việt Nam con cháu Tiên Rồng muôn năm

Nam Mô vạn sự bình yên

A Men như ý sám nguyền ứng linh

Nam Mô vạn sự đều nên

A Men như ý, ứng linh nhiệm mầu

Nam Mô vạn sự thỉnh cầu

A Men như ý, nguyện cầu ứng linh

Ta bà ha,

Án,

Tất điện đô mạn đà ra.

Bạt đà gia, ta bà ha.

Yết đế yết đế

Ba la tăng yết đế

Ba la tăng yết đế

Bồ đề tát bà ha

(gõ chuông tất cả đồng lễ lạy)

*     *     *

Chủ lễ xướng đọc

Cội nguồn Đại Đạo rất cao sâu

Tả lễ xướng đọc

Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu

Hữu lễ xướng đọc

Nay con gặp đặng chuyên trì tụng

Cả 3 hợp nhất cùng xướng đọc

Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu.

*     *     *

Chủ lễ xướng nguyện

Nam Mô A Men

Đương nguyện thế nhân, quy kính Tổ Tiên. Cha Trời Địa Mẫu. thuận theo kinh bảo, Thiên Ý Cha Trời. Thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.

Tả lễ xướng nguyện

Nam Mô A Men

Đương nguyện thế nhân, phát vô thượng tâm, thấu suốt kinh tạng trí huệ như hải.

Hữu lễ xướng nguyện

Nam Mô A Men

Đương nguyện thế nhân, phát vô thượng tâm, thống lý đại chúng không gì chướng ngại.

Cả 3 cùng nguyện

Nguyện cho cuộc sống bình yên

Nguyện cho nhân loại não phiền sạch không

Nguyện cho khắp cả thế nhân

Sớm mau giải thoát siêu sanh Thiên Đàng

Nguyện đem công đức tụng trì

Hướng hồi khắp cả loài người, chúng sanh

Mau thành trí huệ thậm thâm

Chân như Đại Đạo trường sanh an nhàn.

--------------------------------------------------

Bái 4 bái.

Phần khai kinh Cầu An số 3 đến đây là hết. Còn cầu an lớn đại sự. Thời phải tụng Đại Bi cùng Bát Nhã. Cũng như Chọn những phần kinh thích hợp trong Quốc Bảo Khai Kinh cho việc trì tụng tiếp theo. Hoặc chọn phần kinh trong những bộ kinh như sau: Kinh Nhân Luân. Kinh Long Hoa. Kinh Thiên Tạng. Kinh Pháp Tạng. Kinh Mật Tạng. Long Hoa Đại Cương. Long Hoa Thi Tập. Sau thời Hậu Đế, v.v...

--------------------------------------------------

4 - KHAI KINH SỐ 4
CẦU SIÊU

Thắp đèn đốt hương xong.

Khai ba hồi chuông ba tiếng, ba hồi mõ ba tiếng.

Rồi nhập chuông mõ đánh cùng một lúc.

Chủ lễ cũng như Tả Hữu hai bên chủ lễ, đứng ngay ngắn, chấp tay trước ngực.

Chủ lễ bước lên trên một bước, xướng niệm đọc.

TỊNH PHÁP GIỚI CHƠN NGÔN

Thế giới tịnh yên nhờ có Đạo

Non sông có Đạo mới bình yên

Gia đình, xã hội, chúng dân

Nếu không có Đạo rối ben khốn cùng

Án lam xóa ha (3 lần)

(gõ chuông đồng bái lạy).

*     *     *

TỊNH TAM NGHIỆP CHƠN NGÔN

Thân lành thường giúp thế nhân

Khẩu lành không nói hiểm sâu hại người

Ý lành truyền dạy Đạo Trời

Làm cho cuộc sống không còn khổ đau

Án ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ.

Đạt mạ ta phạ, bà phạ, truật độ hám (3 lần)

(gõ chuông đồng bái lạy).

*     *     *

Cả ba đồng xướng

Nguyện thắp nén hương lòng

Bay lên khắp tầng Trời

Cúng dường ngôi Tiên Tổ

Cha Trời cùng Địa Mẫu

Quốc Vương Thủy Tổ

Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa

Khắp pháp giới mười phương

Quá khứ hiện tại vị lai

Thiên Đàng Trần Gian Địa Phủ

Ban xuống ân sâu

Cứu khổ hồn linh

Siêu sanh thiên giới

Nam Mô A Men

(gõ chuông đồng bái lạy).

*     *     *

Chủ lễ quỳ xuống, xướng đọc.

KỲ NGUYỆN:

Hôm nay Thánh Tử tên là:..... Pháp danh..... kỳ nguyện khai kinh Cầu Siêu

Nhằm Năm..... Tháng..... Ngày..... Giờ.....

Hiện tại Nước..... Tỉnh/ Thành phố:..... Quận/ Huyện:..... Xã/ phường:..... Thôn/ tổ dân phố:..... Xóm/ Đường:.....

Tại nơi Cư Gia, Am, Thất, Chùa, Đền, Đình, Miếu.

Gia Chủ, Thí Chủ, Tín Chủ tên là:..... Phẩm vật dâng lên: nhang đèn, hương hoa, trà, quả, đồ ăn thức uống, tinh khiết. Lập thành nghi thức.

Chư Thầy Đại Đức, cùng Thiện Nam Tín Nữ quỳ trước anh linh Tối Cao Vũ Trụ. Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Tụng kinh trì chú, xưng tán hồng danh. Một dạ chí thành.

Nguyện cầu ân trên, phóng quang cứu khổ Hương Linh.

Tên là..... Pháp Danh:..... tiêu trừ khổ ách, thường hoạch kiết tường, tai nạn không còn. Âm Siêu Dương Thới, người sống kẻ mất, mê lầm tan biến, đều được lợi ích an vui.

(gõ chuông đồng bái lạy).

*     *     *

Cả ba chủ lễ

XƯỚNG KỆ TRIỆU HỒN

Thiên Cơ chuyển đến thời đến lúc

Hồn mau mau về đến nghe kinh

Trần Gian bể khổ mông mênh

Mau mau hướng thiện siêu lên cõi Trời

Thiện - Ác đáo đầu chung hữu báo

Nhân nào quả nấy có sai chi

Theo Trời, Trời chuyển, Trời xoay

Tiêu tan tai họa, siêu sanh Thiên Đàng

Phật với Ma, tự mình khai tạo

Nào khó chi, Ác - Thiện rõ thông

Rõ rồi thời phải gieo nhân

Hương Linh thành kính quy y Cội Nguồn

Bể trần khổ khốn, cùng sanh tử

Nào tai ương họa dữ chiến chinh

Mau theo Nguồn Cội Tổ Tiên

Cha Trời, Địa Mẫu anh linh tột cùng

Về Thiên Giới an nhàn vui thú

Cõi Thiên Tiên châu báu giàu sang

Đâu như cõi tạm trần gian

Sanh già bệnh tử, biết bao khốn cùng

Lời Trời dạy phước phần cam lộ

Khi uống vào dứt sạch khổ đau

Mau mau hồn hãy mau mau

Thành tâm lễ lạy quy y Cội Nguồn

Thất Phật diệt tội xong rồi

Hồn Linh siêu thoát về Trời an vui

Ly bà ly bà đế, cầu ha cầu ha đế

Đa ra ni đế, ni ha ra đế, tỳ lê nể đế

Ma ha già đế, chơn lăng càng đế

Ta Bà Ha.

Gõ một tiếng chuông.

*     *     *

TUYÊN SỚ:

Cúi đầu đảnh lễ đấng Cha Ông

Cầu mong giải thoát cứu Hương Linh

Vô Biên khổ ải không còn nữa

Thiên Đàng sống mãi dứt tử sinh.

Hôm nay Thánh Tử: Phụng sự cầu siêu, cúng kinh trai tuần, húy kị, kỳ siêu độ sự.

Kim tắc: Thượng khởi sớ chương. Phụng báo Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu, duy nguyện hào tướng quang trung phủ thùy minh chứng.

ĐỌC SỚ:

PHỤC DĨ:

Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu phóng quang cứu khổ tiếp dẫn Hương Linh siêu sanh thiên giới.

BÀI SỚ VỊ:

Việt Nam Quốc..... Tỉnh/ Thành phố..... Quận/ Huyện:..... Xã/ Phường, hiện cư ngụ tại.....

Phụng sự trì chú tụng kinh (thiên cửu...... (tên người mất), húy kỵ) khai kinh chi lễ, báo đáp thù ân kỳ siêu độ sự.

Kim cư gia: Tang Chủ.

Đồng gia môn hiếu quyến. Nam Nữ. Nội, Ngoại. Đại tiểu đẳng. Duy nhật bái can. Mong ơn trên Tổ Tiên, Cha Trời, Địa mẫu tiếp độ.

THỐNG NIỆM:

Phụng vị..... Hương Linh: (Phủ quân, nhụ nhơn, chi linh cửu) chi linh.

(Dịch nghĩa: Phụng vị/ báo..... (tên)..... Hương Linh, tuổi, quê quán, chức vụ lúc còn sống)

TRƯỢNG THỪA:

Cội Nguồn Đại Đạo dĩ siêu thăng. Toàn lại kinh văn nhi giải thoát tư lâm.

Khai Kinh chủ lễ, kiền trượng thiền hòa (Đạo Tràng) chi niệm phúng tụng. Đại Thừa Thiên Ý Văn Kinh.

Tôn kính gia trì: Vãng Sanh Tịnh Độ Thần Chú:

Nam mô a di đa bà dạ. Đá tha già đa dạ. Đá địa dạ tha. A di rị đô bà tỳ. A di rị đá. Tất đam bà tỳ. A đi rị Đá, tỳ ca lan đế. A di rị đá. Tỳ ca lan đa. Già di nị. Già già na. Chỉ đa ca lệ. Ta bà ha.

Nguyện Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu, chứng minh công đức cầu siêu tận độ. Ứng linh tiếp dẫn Hương Linh siêu sanh Thiên Giới.

•    Nếu không sớ thì đọc:

•    Kim tắc (1) cung bạch Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Dung nguyện từ bi phủ thì tiếp độ.

•    Phụng vị tên..... Hương Linh. Chi Hương nương theo hào quang Thiên Ý dĩ siêu thăng. Toàn kinh văn nhi giải thoát. Khuông phò tín chủ dĩ bình an. Tỷ hộ toàn gia nhi khương thái. Thiệt lại Tổ Tiên Cha Trời Địa Mẫu ấn chứng minh. Cẩn bạch.

(gõ chuông đồng bái lạy)

*     *     *

Tam chủ lễ

Đồng xướng kệ

Hương Linh vốn khốn khổ

Do lạc Cội mà ra

Hương linh mãi đọa sa

Là do:

Thân khẩu ý gieo nghiệp dữ

Hương Linh nay lìa bỏ

Hướng thiện mãi làm lành

Hương Linh quy Cội Nguồn

Hương Linh:

Thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa

Nam Mô - A Men.

(gõ chuông đồng bái xá).

Phần khai kinh cầu siêu Thánh Tử đến đây là hết.

Tiếp theo là phần khai kinh tụng kinh trì chú Đức Thầy, Thiện Nam Tín Nữ.

KHAI KINH KỆ

Đức Thầy Xướng đọc

Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu

Trăm nghìn ức kiếp khó tìm cầu

Nay con gặp đặng chuyên trì tụng

Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu

(gõ chuông đồng bái lạy).

*     *     *

•   Tiếp Tiếp: Trì tụng Long Hoa Đại Bi Thần Chú.

(trang số: 254 - 273)

•   Tiếp theo: Trì Tụng Kinh Long Hoa.

(trang số: 243 - 253)

(Phần kinh nói về Cha Trời Mẹ Trời sanh ra nhân loại con người. Nằm trong các bộ kinh. Như kinh Long Hoa Thiên Tạng. Kinh Long Hoa Mật Tạng.)

•   Tiếp theo: Trì Tụng Long Hoa Bát Nhã.

(trang số: 274 - 281)

•   Cuối cùng là tụng: Sám Từ Vân.

SÁM TỪ VÂN

Một lòng khổ nhọc không nài

Cầu về Thiên Giới thoát vòng trầm luân

Cha Trời, Địa Mẫu, Tổ Tiên

Cội Nguồn hết thảy ức muôn vạn loài

Lòng con quy kính Cội Nguồn

Nguyện làm Hiếu Đạo tôn thờ Mẹ Cha

Cầu mong quả Đạo thậm thâm

Cầu mong trí huệ vô biên tận cùng

Con nay chí nguyện lòng thành

Cầu mong Cha Mẹ chứng lòng độ cho

Trở về Thiên Giới an vui

Không còn khổ sở bơ vơ luân hồi

Cha Trời cùng với Mẹ Trời

Thương con thời hãy cứu thời chúng con

Trần gian khổ lắm Mẹ ơi

Biển trần lặng hụp biết bao khổ sầu

Chúng con cầu được về Trời

Thuận theo kinh giáo không còn lầm mê

Thiên Đàng đất báu hào quang

Lầu đài cung điện vàng son ngọc ngà

Sống đời trẻ mãi không già

Không đau không bệnh, không là tử sanh

Nguyện rằng con nguyện theo chân

Cha Trời, Địa Mẫu, Tổ Tiên, Cội Nguồn

Phát tâm thương hết muôn loài

Cầu cho nhân loại đồng là siêu sanh

Trở về Cực Lạc quê Tiên

Xa lìa mộng tưởng đảo điên luân hồi

Nam Mô cứu khổ Cha Trời

A Men Đức Mẹ độ thời chúng con

(gõ chuông đồng bái lạy).

*     *     *

TAM NGUYỆN:

Nam Mô A Men:

Đương nguyện thế nhân, quy kính Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Thuận theo Kinh Bảo Thiên Ý Cha Trời. Thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.

(gõ chuông bái lạy)

Nam Mô A Men:

Đương nguyện thế nhân, phát vô thượng tâm. Thấu suốt kinh tạng trí huệ như hải.

(gõ chuông bái lạy)

Nam Mô A Men:

Đương nguyện thế nhân, phát vô thượng tâm, thống lý đại chúng không gì chướng ngại.

(gõ chuông bái lạy)

*     *     *

Chú Nguyện:

Nguyện đem công đức nầy

Hướng về khắp tất cả

Giải thoát muôn sự khổ

Siêu sanh và an vui

Nam Mô A Men

(bái xá)

--------------------------------------------------

Lễ khai kinh số 4 cũng như phần tụng kinh trì chú đến đây là hết.

Nếu muốn tụng thêm thời chọn những phần kinh thích hợp trong Quốc Bảo khai kinh, cho việc trì tụng tiếp theo. Cũng như chọn những phần kinh trong những bộ kinh sau đây cho việc trì tụng tiếp theo: Kinh Nhân Luân. Kinh Long Hoa. Kinh Long Hoa Thiên Tạng. Long Hoa Pháp Tạng. Long Hoa Mật Tạng. Long Hoa Đại Cương. Long Hoa Thi Tập. Sau Thời Hậu Đế, v.v…

--------------------------------------------------

5 - KHAI KINH SỐ 5
NGHI THỨC KHAI KINH NHẬP ĐẠO

Con Cháu, Đệ Tử Thiện Nam Tín Nữ. Khi nghe hồi chuông. Tập trung vào chánh điện.

Hội Đồng Thánh Đức Áo Tràng nghiêm chỉnh. Tất cả chấp tay hướng về Thiên Ấn. Tổ Tiên. Cha Trời, Địa Mẫu.

Lắng tâm nghe một hồi Chiêng Trống. Chuông Kim Cang. Trống Bát Nhã. Chuông Mõ khai lễ.

Rồi tất cả điều quỳ xuống nghe Hội Đồng Thánh Đức dâng lên lời phụng báo lên ba đấng tối cao. Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Đại diện cho Hội Đồng Thánh Đức. Ban Chủ Lễ gồm 3 vị bước lên trên đại chúng, tới trước anh linh Thiên Ấn, anh linh Cha Trời Địa mẫu đọc văn bút phụng báo như sau.

Ban Chủ Lễ 3 vị

Quỳ ngay thẳng

Chánh Chủ Lễ Đọc Văn Sớ

Còn hai bên Tả, Hữu chủ lễ

Tịnh tâm lắng nghe

Chủ Lễ Xướng kệ sớ như sau

Thành tâm cung kính lạy

Dâng lên lời phụng sự

Kính báo Đấng Cha Ông

Nay dân sứ tâu lên

Tổ Tiên, Cha Trời Địa Mẫu

Long Hoa Giáo Chủ

Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương

Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa

Khắp pháp giới hư không

Quá khứ, hiện tại, vị lai

Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ

Chứng tri lễ nhập đạo sanh khai

(đánh tiếng Chiêng, tiếng trống)

Chủ Lễ vẫn quỳ ngay ngắn

Hai bên Tả Hữu chủ lễ Lạy 1 lạy

Chủ Lễ Xướng đọc tiếp

Kỳ Nguyện:

Hôm nay nhằm ngày..... tháng..... năm.....

Tổ dân phố/ Thôn:..... Xã/ phường:..... Quận/ Huyện:..... Tỉnh/ Thành phố:..... Nước Việt Nam.

Tại nơi: Am, Thất, Đình, Đền, Chùa. Cầu thỉnh Hội Đồng Thánh Đức, Tác lễ chứng nhận hội nhập thành viên vào Thiên Ý Đại Đạo.

(đánh tiếng Chiêng, tiếng Trống)

Ba Vị Chủ Lễ phụng báo đứng dậy lui qua một bên

Vị Chủ Lễ khai nhập Đạo

Bước ra trước tượng Cha Mẹ Trời lễ lạy

Tuyên đọc uy danh những vị hội nhập Đại Đạo

Đọc xong

(đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)

Vị Chủ Lễ khai nhập Đạo lui về một bên

Tiếp đến ba vị chủ lễ phụng báo.

Bước ra trước tượng Cha Mẹ Trời. Quỳ xuống.

Chủ Lễ Xướng đọc tiếp

Thành tâm cung kính. Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Long Hoa Giáo Chủ, Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Lai lâm chứng giám. Phù trì, hộ độ cho ngày hội nhập Thiên Ý Đại Đạo. Tiếp nhận con cháu vào Thiên Luật. Dự phần vào ngôi Thánh Đức. Thừa hành di chí Ông Cha.

Kính mời đại diện tối cao Hội Đồng Thánh Đức Truyền Thánh Chỉ Hội nhập THIÊN Ý ĐẠI ĐẠO, do Hội Đồng Thánh Đức chủ trì ban ra.  

(đánh tiếng Chiêng, tiếng Trống)

ban chủ lễ lui qua một bên.

Tiếp đến là lễ hội nhập Thiên Ý Đại Đạo Hết sức trang nghiêm

Xong đâu vào đấy Tam Chủ Lễ Đồng Xướng đọc kệ rằng:

(Kèm theo nhạc cụ: Kèn, đàn, sáo đệm theo)

Đức Tổ Tiên bao trùm rỗng lặng

Mẹ, Cha Trời vô tận hư không

Quyền năng vô hạn vô biên

Chuyển xoay vũ trụ, ức muôn vạn loài

Trước Cha Trời tâm con chí nguyện

Cúi đầu xin thệ nguyện quy y

Từ đây giới luật tinh nghiêm

Thừa hành di chí Tổ Tiên, Cha Trời

Lòng Trung Hiếu sáng ngời muôn thuở

Luôn hành theo dạy bảo Trời Cha

Làm cho nhân loại âu ca

Chung hòa hạnh phúc siêu lên cõi Trời

Nam Mô Đại Đạo cao vời

A Men như ý đạt thành ước mong

(đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)

Cả ba Chủ Lễ đồng bái lạy

Sau đây là: Hội Viên. Đạo Viên đồng xướng kệ rằng:

Hôm nay ngày nhập Đạo

Ngày trở về Nguồn Cội

Khôi phục lại linh căn

Vào ngôi!

Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa

Bao lầm mê tội lỗi

Gieo ra từ vô thỉ

Lạc loài trong ác đạo

Xoay vần trong ác nghiệp

Ngược lại ý Trời Cha

Mãi luân hồi đọa sa

Tai ương không kể xiết

Trải qua vô số kiếp

Khốn khổ mãi khôn cùng

Trăm ức muôn vạn nghìn

Đọa lạc thảm thảm thê

Nay dứt sạch lầm mê

Trở về nơi bờ giác

Một lòng thành kính quy y

Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu

Long Hoa Giáo Chủ

Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương

Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa

Khắp pháp giới mười phương

Chứng tri tấm lòng biết ơn

Hết lòng ra công dạy bảo

Xót thương phù trì che chở

Khai tâm mở trí

Tuệ quang sáng láng

Trí huệ như hải

Chúng con mãi mãi

Nỗ lực làm lành

Nguyện tận độ linh hồn

Chuyển hóa những khổ đau

Chuyển hóa những họa tai

Tiêu tan không còn nữa

Theo di chí!

Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu

Sống cuộc sống bình đẳng

Lòng đại nghĩa từ bi

Vì nhân loại anh em

Vì giải thoát khổ đau

Luôn hết lòng tận tuỵ

Nam Mô vô tận Cha Ông

A Men cứu khổ dứt đi đọa đày

(Gõ tiếng chuông tiếng mõ)

Nhạc cụ nổi lên hòa theo Lời xướng tụng sau đây:

Trước Ấn linh, Cha Trời Địa Mẫu

Cúi đầu xin tội lỗi tiêu tan

Linh linh ứng hóa vô biên

Chuyển xoay vận mệnh thoát siêu an nhàn

Nay con đã bước vào Đại Đạo

Thời tâm con thành nguyện nghe theo

Cầu cho ác nghiệp tan tiêu

Mau thành chánh quả vào ngôi Thánh Hiền

Lời Trời dạy không gì hơn được

Cao ngút ngàn vi diệu thậm thâm

Nay con nghe thấy nguyền tu học

Nguyện rõ lời Cha lý đạt thông

Lời trì tụng ứng linh cùng khắp

Thân khiêm cung nguyện thoát tai ương

Ý thuần phục nguyện lòng tỏa sáng

Dẫu cho tạo tội to hơn núi

Cũng nguyện tiêu tan, sạch chẳng còn

Nam Mô quy kính Cội Nguồn

A Men Đại Đạo nguyện thành A Men

(đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)

(đồng bái lạy)

Tiếp theo: Hội Đồng Thánh Đức:

Thuyết giảng về ý nghĩa quy y nhập đạo

Thưa Đạo Hội:

Quy Y nhập Đạo là gì?

Quy: Có nghĩa là trở về nương tựa vào ba ngôi Tối Cao Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu.

Y: Có nghĩa là không thay đổi, trước sao sau vậy. Trọn lòng tôn thờ hiếu kính đối với Tổ Tiên, Cha Trời, Mẹ Trời.

Khi chúng ta đã quy y trở về với Nguồn với Cội. Là chúng ta tuyệt đối trọn lòng tôn kính hiếu Đạo đối với Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu Mẹ Trời.

Tổ Tiên là gì? Mà chúng ta thành tâm quy y.

Như chúng ta đã biết, và cũng thường nghe Ông Bà chúng ta dạy. Tổ Tiên là trên hết. Sao gọi là trên hết?

Vì Tổ Tiên là Đấng Tối Cao khai sanh ra tất cả. Khai sanh ra vũ trụ Tam Thiên, Đại Thiên thế giới. Khai sanh ra Thiên Đàng, Trần Gian, Địa phủ. Khai sanh ra Càn Khôn Thiên Địa. Nhật, Nguyệt, Tinh Tú, Thiên Hà, Ngân Hà. Thậm chí khai sanh ra không khí cho chúng ta hít thở. Khai sanh ra Cây Cỏ, Ngũ Cốc, muôn loài vạn vật để nuôi dưỡng sanh mạng chúng ta. Thậm chí Linh Hồn chúng ta cũng từ Đại Linh Hồn Tổ Tiên phân hóa sanh ra tiểu Linh Hồn chúng ta. Như thế Tổ Tiên là Cội Nguồn sanh ra muôn sanh linh cùng vạn vật trong đó có chúng ta. Vì thế chúng ta quy y trở về với Cội với Nguồn, của chúng ta. Là chúng ta vô cùng khôn ngoan, vì chúng ta không còn lạc lõng bơ vơ trong vũ trụ. Lạc loài trong Trời Đất. Luân hồi sanh tử khốn khổ vô cùng. Chúng ta đã trở về với Cội với Nguồn của chúng ta. Là chúng ta như nước có Nguồn, như cây có Cội. Nhất định nở cành xanh ngọn. Muôn phúc vạn lành sẽ đến với chúng ta.

Tóm lại: Tổ Tiên là Cội Nguồn của chúng ta, chúng ta phải quy y trở về Nguồn Cội của chính mình. Đó là sự quy y chân chính nhất, không có sự quy y nào cao hơn nữa. Chúng ta trở về với Cội với Nguồn, là chúng ta không bao giờ sa đọa xuống các tầng Địa Phủ nữa. Mà trở về quê hương Thiên Đàng cực lạc. Tổ Tiên chúng ta đã khai tạo ra các Thiên Giới vô số vô biên cõi nước Trời là để cho chúng ta những người con cháu trở về Nguồn Cội hưởng phước sanh sống an vui tự tại. Không còn khốn khổ luân hồi sa đọa nữa.

Cha Trời, Địa Mẫu là ai? Mà chúng ta thành kính quy y.

Cha Trời, Địa Mẫu là Hiện Thân của Khai Hóa Tổ Tiên.

Hai đấng tối cao vũ trụ. Cha Rồng, Mẹ Tiên. Nhân loại con người có ra, là do Cha Trời Mẹ Trời sanh ra. Lưu truyền nòi giống con người cho đến tận bây giờ. Chúng ta đang mang dòng máu trong người, chính là dòng máu của Cha Trời Mẹ Trời.

Nhưng chúng ta đã quên Nguồn quên Cội lạc loài bơ vơ mãi trong chốn bụi trần, lặng hụp mãi trong bể khổ trầm luân. Cũng tại vì chúng ta không biết mình từ đâu sanh ra. Như cây mất gốc nên mãi héo cành rũ ngọn. Như nước không nguồn cạn phước cạn đức khốn khổ triền miên, hết khổ nầy đến khổ khác. Trải qua không biết bao nhiêu số kiếp đọa đày. Nay chúng ta trở về với Nguồn với Cội là chúng ta đại giác ngộ nhận thức được rằng. Cha Trời Mẹ Trời không những là hai Đấng Cội Nguồn của chúng ta. Mà còn là Hai đấng quyền năng vô hạn. Thần thông pháp thuật vô biên chuyện gì làm cũng được. Lại là hai Đấng giàu có nhất vũ trụ. Chủ nhân của tất cả nhất là sự giàu có về ngọc ngà châu báu. Khắp toàn tam thiên đại thiên thế giới. Cũng như thất sơn châu báu hạ thiên vũ trụ.

Tóm lại:

Chúng ta trở về với Cội Nguồn là chúng ta muốn gì được nấy, muốn được giàu có như ý, quyền năng như ý, hạnh phúc như ý thời chúng ta phải biết nghe lời Cha Trời dạy bảo, tùy làm theo lời dạy bảo Cha Trời nhiều hay ít mà hưởng phước Trời lớn hay nhỏ. Công lớn thời làm vua Trời. Công nhỏ thời làm dân Trời. Nói chung làm theo lời Trời dạy đều được lợi ích. Nhất là lợi ích siêu sanh về Thiên Giới sanh sống, không còn sa đọa khốn khổ nữa. Tổ Tiên, Cha Trời Địa mẫu là ba ngôi Tối Cao vũ trụ, không ai cao hơn Tổ Tiên, Cha Trời, Mẹ Trời. Ba ngôi vô thượng Tối Cao nầy. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, cũng chỉ là con cái, con cháu của Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu mà thôi. Ba ngôi Tối Cao nầy quyền năng vô hạn quyền phép vô biên. Sanh vũ trụ, tận diệt vũ trụ theo ý muốn của mình. Ba ngôi hóa công của Tạo Hóa. Có đủ quyền năng ban phước cho những ai làm lành hướng thiện không nghịch lại Thiên Ý Cha Trời. Giáng họa cho những ai hành ác đi ngược lại Thiên Ý Cha Trời.

Chúng ta đã quy y trở về Cội Nguồn là chúng ta từ đây đi vào con đường hết khổ. Chúng ta tuyệt đối tin vào lòng thương yêu của Cha Trời Mẹ Trời đối với chúng ta. Chúng ta càng thành tâm tỏ lòng hiếu kính quỳ dưới chân Cha Mẹ. Cầu mong Cha Mẹ che chở. Và ban ân đức cho chúng ta. Thời chúng ta sẽ được như ý. Nhất là siêu sanh về các cõi Trời sống trên châu báu Thiên Đàng Cực Lạc.

Chúng ta đã quy y Nguồn Cội. Là chúng ta đi vào ngôi vị thừa kế những gì Tổ Tiên, Cha Trời Địa Mẫu đã tạo ra, và tiến đến làm chủ tất cả. Làm chủ vũ trụ. Làm chủ tam thiên, đại thiên thế giới. Làm chủ Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ. Làm chủ Nhật, Nguyệt, Tinh Tú, Thiên Hà Ngân Hà. Cho đến làm chủ muôn loài vạn vật.

Trong sự làm chủ nhất là làm chủ Thiên Bút Văn Kinh của Trời. Truyền bá lại cho các thế hệ sau. Thời phải nói sự làm chủ nầy không thể nghĩ bàn. Dù cho trăm nghìn ức kiếp cũng không thể nào kể hết những lợi ích của sự truyền bá Thiên Bút cho đời. Có thể nói sự thành đạt như ý.

Chúng ta đã quy y trở về với Cội với Nguồn là sự quy y cao nhất không còn sự quy y nào cao hơn nữa. Lấy Thiên Ý làm kim chỉ nam. Lấy Thiên Luật làm sự sống nhất là Thiên Luật Nhân Quả, gieo giống gì thời trổ ra giống nấy. Vì thế chúng ta phải tuyệt đối gieo ra giống lành những hạt giống Văn Hóa Cội Nguồn mà Cha Trời đã trao cho chúng ta.

Đã nhập Đạo. Thời từ đây luôn yêu thương đồng loại Đồng Bào Anh Em. Làm cho nhân loại anh em hạnh phúc nhất là làm cho Thân - Khẩu - Ý thường trong sạch. Hội tụ đủ Nhân Hạnh, Đức Độ, Tài Năng. Thừa hành di chí Ông Cha. Tận độ nhân loại Anh Em. Siêu sanh về các cõi Trời Đạo Quả Viên Mãn.

Hội Đồng Thánh Đức thuyết giáo xong, đồng phất nước trong cam lộ về phía đại chúng bắt ấn Tí, bắt ấn Ngọ làm phép.

Nguyện rằng:

Cơ Trời ứng hóa

Thuận theo Thiên Ý

Đương nguyện nhơn sanh trở về Nguồn Cội, thấu suốt Đại Đạo. Phát vô thượng tâm.

Cơ Trời ứng hóa

Thuận theo Thiên Ý

Đương nguyện nhơn sanh, thâm nhập chánh kinh, thấu suốt Thiên Ý cha Trời, hành trì Thiên Luật, trí huệ như hải.

Cơ Trời ứng hóa

Thuận theo Thiên Ý

Đương nguyện nhơn sanh, theo bước Cha ông. Thừa hành di chí, thống lý đại chúng nhất thiết vô ngại.

*     *     *

Lễ khai kinh nhập Hội, nhập Đạo đến đây là hết. Đại chúng bái lạy ấn xá rồi lui ra. Nếu lễ lớn thời Chiêng, Trống, Nhạc. Khai lễ cũng như Bế Mạc long trọng hơn nữa.

--------------------------------------------------

 

Những điều cần chú ý:

Quốc Bảo khai kinh là những Văn Kinh cơ bản. Còn muốn thêm hay bớt Văn Kinh. Cho phù hợp hành lễ. NGỘ BIẾN, TÙNG QUYỀN. Thời ban tổ chức khai kinh. Hay người khai kinh, không cần phải khuôn rập theo Văn Kinh. Tuỳ Nghi thêm hoặc bớt Văn Kinh, cho phù hợp nơi hành lễ.

--------------------------------------------------

6 - KHAI KINH SỐ 6
NGHI THỨC PHONG THÁNH
THEO NGHI THỨC VẠN ĐẠI

Nghi Thức: giới thiệu thành phần tham dự

Thành phần cao cấp, cũng như chức sắc cao cấp

Nghi Thức: giới thiệu thành phần tài trợ

Nghi thức đi vào đại lễ:

Chuông kim cang. Trống bát nhã hiệp nhau đánh 3 hồi 3 tiếng.

Chủ lễ văn tế 3 vị, tới trước bàn thờ tam cấp. Tổ Tiên Thiên Ấn. Cha Trời, Mẹ Trời. Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương Uy Nghi Trang Nghiêm. Thắp đèn, đốt hương, đứng ngay ngắn trước bàn thờ.

Chủ lễ bước tới một bước, quỳ xuống xướng đọc văn tế.

Hai bên Tả Hữu chủ lễ phía sau lắng nghe.

VĂN TẾ DÂNG HOA

Chủ lễ xướng đọc

Hai bên Tả Hữu chủ lễ lắng nghe

Tinh Hoa rực thắm sắc hương hoa

Thành tâm dâng hiến Cội! Ông Cha

Thuận Hiếu! Chúng con lòng đóa tưởng

Cha Trời, Địa Mẫu mãi ngợi ca

Khấu bái

(đánh tiếng Chiêng, tiếng Trống)

Hai bên Tả Hữu chủ lễ lạy xuống

*     *     *

VĂN TẾ TỬU

Chủ lễ xướng đọc

Hai bên Tả Hữu chủ lễ lắng nghe

Tửu Vị ấm nồng tửu vị hương

Thành tâm dâng hiến Đức Tổ Tiên

Cha Trời, Địa Mẫu lòng thương tưởng

Chúng con thành kính nguyện náo nương

Khấu bái

(đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)

Hai bên Tả Hữu chủ lễ lạy xuống

*     *     *

VĂN TẾ DÂNG TRÀ

Chủ lễ xướng đọc

Hai bên Tả Hữu chủ lễ lắng nghe

Thảo Mộc tinh hoa mỹ vị trà

Thành tâm dâng hiến Cội! Ông Cha

Cầu mong Đại Đạo nguồn Thiên Ý

Thiên Luật bao trùm Đạo Tinh Hoa

Khấu bái

(đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)

Hai bên Tả Hữu chủ lễ lạy xuống

*     *     *

VĂN TẾ KHAI

CHIÊNG - CHUÔNG

Chủ lễ xướng đọc

Hai bên Tả Hữu chủ lễ lắng nghe

Kim Cang Chuông kệ chuyển âm vang

Truyền tấu càn khôn khắp hư không

Nay ngày Phong Thánh Ngôi Thiên Ý

Thừa hành di chí Đạo khai thông

Khấu bái

(đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)

Hai bên Tả Hữu chủ lễ lạy xuống

*     *     *

VĂN TẾ KHAI TRỐNG

Chủ lễ xướng đọc

Hai bên Tả Hữu chủ lễ lắng nghe

Phúc Thiên Âm Pháp Trống dậy vang

Ấn truyền Đại Đạo khắp thế gian

Phong Thánh, Thiên Quyền ngôi Thiên Ý

Uy linh tột thế, đại vinh quang

Khấu bái

(đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)

Hai bên Tả Hữu chủ lễ lạy xuống

*     *     *

VĂN TẾ CHIÊNG - TRỐNG

HỢP NHẤT

Chủ lễ xướng đọc

Hai bên Tả Hữu chủ lễ lắng nghe

Âm Dương Chiêng Trống hiệp ban ra

Truyền tấu Ý Trời, khắp bao la

Vinh quang truyền Ấn ngày phong Thánh

Linh quang chiếu diệu khắp hà sa

Khấu bái

(đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)

Hai bên Tả Hữu chủ lễ lạy xuống

*     *     *

VĂN TẾ KHAI NHẠC

Chủ lễ xướng đọc

Ngày phong Thánh. Sáo, Kèn, Chiêng, Trống

Đờn hòa theo Truyền Thống Thánh Ca

Chung nhau hiệp lực ban ra

Truyền đi Thánh Lễ đăng quang lẫy lừng

(đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)

Cả 3 chủ lễ đồng lạy xuống

Tất cả lắng nghe: Đàn, kèn, sáo chiêng, trống tấu bài Thánh Lễ. Xong đâu vào đấy, ban Chủ Lễ tiếp tục xướng đọc Văn Tế, Diễn Văn với giọng trầm hùng:

*     *     *

VĂN TẾ

ĐỌC DIỄN VĂN

Ban chủ lễ quỳ ngay thẳng

Hai bên Tả Hữu chủ lễ chấp tay trước ngực lắng nghe

Chủ lễ xướng đọc văn tế với giọng buồn bi ai

Có đờn bầu cùng các nhạc cụ khác hòa theo

Khổ thay:

Sống ở đời mấy ai là yên ổn

Trần Gian bể khổ!

Chỉ là nơi cõi tạm!

Thế mà hoạn nạn, tai ương, bệnh tật, tử sanh

Một cuộc sống bể dâu!

Lênh đênh ba chìm bảy nổi

Họa vô đơn chí lòng lo mãi

Kiếp con người trần tục

Mấy ai không khổ ải

Nhọc nhằn bươn chải

Nhưng kết quả ra đi, cũng trắng tay

Khéo thương thay

Cuộc sống trần gian

Mãi bám lấy tai ương quanh quẩn

Khổ ơi là khổ

Biết bao thảm cảnh trên đời

Ngậm ngùi rơi lệ kiếp người Trần Gian

(đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)

Chủ lễ xướng đọc tiếp với giọng kể lể

Đờn tranh sáo trúc hòa theo

Một tấm lòng thương

Một cuộc hi sinh

Xả thân vì đời, vì nhân loại anh em

Nào đợi tập rèn, tài trí siêu nhân

Nào đợi giàu sang, tài ba xuất chúng

Chỉ vì người

Một manh áo vải

Lao vào bể khổ cứu vớt nhân loại anh em

Chỉ một nắm rau ranh

Cũng thấy đà ngon miệng

Màng chi cao lương mỹ vị

Khắp Đông - Tây vạn dặm cứu người

Thời vận may

Gặp Cội gặp Nguồn

Rèn chí lớn trong ngôi nhà Đạo Đức

Gươm nghĩa nhân đầy dũng khí tự tin

Kể chi hiểm nguy

Kể chi bản thân

Kể chi nhọc nhằn gian khổ

Kể chi ngăn cản yêu ma

Chí đại hùng thúc dục

Lòng đại bi nhẫn nhục vượt qua

(đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)

Với giọng hào khí cao ngút chủ lễ xướng đọc

Nào sợ chi

Tù ngục đao to búa lớn

Liều mình như chẳng có

Làm cho

Yêu Tinh, Quỷ Dữ kinh hồn bạc vía

Gươm trí huệ

Tuy chưa mài

Nhưng vô cùng sắc bén

Bước dọc ngang theo khí thế Ông Cha

Chữ Đức chuyển xoay

Chữ Tài ẩn nhẫn

Trước mắt là biển khổ

Sau lưng là phiền não, nghiệp dữ hoành hành

Nhưng luôn vững chí

Tận độ dân tình

Chốn trần đời

Bao trùm u minh Địa Ngục

Khắp nhân sanh tuôn lệ vạn nghìn sầu

Nhìn thế sự lạc vào vinh nhục

Mà quên đi Nguồn Cội Ông Cha

Hỡi mấy ai

Ngược dòng trần thế

Nằm sương gối tuyết

Tắm mưa gội gió

Kể gì thân xác

Vì đại nghĩa

Vượt qua nguy khốn cứu dân

Thà thác mà linh hồn hiển Thánh

Còn hơn sống mà chỉ biết cái ta

Chết đi thành Quỷ thành Ma

Luân hồi sanh tử còn chi Linh Hồn

Phải ra sức!

Ngăn đường Địa Phủ

Thiên Đàng mở cửa khai ra

Chí cứu dân, lòng người Trời tỏ

Trên Ân Thiên nâng đỡ hiển vinh

(đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)

Chủ lễ xướng đọc giọng trầm hùng cao vút

Nhạc lễ Kèn, trống, chiêng, đàn, sáo hòa theo

Mừng ngày hôm nay!

Ngày anh linh Phong Thánh

Đại lễ bừng lên

Vũ trụ ngút ngàn tỏa sáng

Nổi lên chiêng trống

Đất Trời dậy sóng chuyển rung

Nhạc lễ hòa theo

Đất Trời anh linh tỏa sáng

Tiếp nối di chí.

Cha Ông năm nghìn năm Văn Hiến

Truyền trao Ấn Bút

Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa đồng vui

Tột thế uy linh.

Nhang đèn khói hương cờ xí

Lời ca tiếng hát, cao ngút trời xanh

Khí thế bừng lên

Truyền thống Cha Ông vang lừng vạn cõi

Anh Linh Quốc Tổ

Sơn hà rực rỡ trổi xuân

Đất Trời chuyển giao

Non sông Rồng Tiên phấp phới

Bừng lên Quốc Giáo

Trổi dậy Hồn Thiêng sông núi

Khí thế oai linh

Hổ dậy, Rồng bay Phụng múa

Nhân loại hướng về một mối

Đạo cao tột thế

Cơ đồ Thánh Đức Ông Cha

Nối chí Hùng Vương

Sừng sững công ơn Quốc Tổ

Nhớ thuở xưa!

Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu

Khai sanh tất cả!

Vũ trụ, tam thiên, ba cõi

Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ

Nhật, Nguyệt, Tinh Tú

Thiên Địa Càn Khôn

Muôn loài vạn vật sanh linh

Công lao gian nan vất vả

Để lại cháu con thừa hưởng

(đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)

Chủ lễ xướng đọc với giọng khoan thai, ngân nga.

Đẹp thay!

Những ai có tấm lòng nhớ tưởng

Vẻ vang thay! Rực rỡ thay!

Những ai bước vào ngôi Thánh Đức

Tiếp nối mặt trời Thiên Ấn

Mãi sáng bừng 84 triệu năm

Chí công lao một thời khó khăn

Mà trải dài muôn ức vạn nghìn thế hệ

Cội Tiên Rồng trên ngôi cao chín bệ

Năm màu da đồng loại anh em

Xin cúi nguyện!

Tình đồng loại, nghĩa Đồng Bào

Mãi thương yêu đùm bọc chan hòa

Một Cội năm nhành!

Năm màu da luôn đoàn kết keo sơn

Nền Thiên Luật Cha Ông, luôn rộng mở

Dựng cơ đồ theo di chí Quốc Tổ Hùng Vương

Hết dạ vì dân

Tiếp Ấn Trời Cha không gì lay chuyển

Hùng khí Cha Ông vạn tuế muôn năm

Sơn Hà trỗi dậy ứng linh

Non Sông Tổ Quốc chuyển mình cao bay

*     *     *

TIẾP THEO:

LỄ PHONG ẤN
DO HỘI ĐỒNG THÁNH ĐỨC TRUYỀN TRAO
VÀ LỜI TUYÊN THỆ NHỮNG NGƯỜI ĐƯỢC PHONG ẤN

1 - Là nguyện hết lòng Phụng sự: Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Đời đời kiếp kiếp. Sống theo Thiên Ý hành theo Thiên Luật.

2 - Là nguyện hết lòng Phụng sự: nhân loại anh em. Làm cho nhân loại anh em hội nhập Cội Nguồn trở thành chánh đẳng chánh giác, trí huệ như hải.

3 -  Là nguyện hòa đồng cùng Hội Thánh coi nhau như anh em ruột thịt chan hòa. Keo sơn chặt chẽ. Đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công đại thành công.

LỜI THỀ QUYẾT ĐỊNH

Đã trở thành Đạo Viên. Thiên Đạo Cội Nguồn Tối Cao Vũ Trụ mà phản lại lời Nguyện Thệ của chính mình. Thời căn thân linh hồn sẽ bị hủy diệt. Không mong gì trở lại kiếp con người. Đời đời khốn khổ sa đọa nơi u tối. XIN THỀ, XIN THỀ, XIN THỀ.

NHỮNG VỊ ĐƯỢC PHONG THÁNH

ĐỒNG TỤNG BÀI KỆ TÁN THÁN UY LINH TỔ TIÊN CHA TRỜI MẸ TRỜI

(có nhạc kèm theo)

Đấng Cha Ông Vô Thượng

Ba cõi chẳng ai bằng

Tổ Tiên khắp Trời Người

Nay con nguyện nương về

Dâng lên lời ca ngợi

Ức kiếp không cùng tận

Cội Cha Ông như như rỗng lặng

Cảm ứng linh chẳng thể nghĩ bàn

Pháp Thân vi diệu đạo tràng

Ứng linh, linh ứng khắp cùng ứng linh

Chúng con thệ nguyện quy y

Hành trì Thiên Ý rộng gieo đức lành

Nam Mô vô tận Cội Nguồn

A Men như ý nguyện thành A Men

(đánh hồi Chiêng hồi Trống bế mạc kết thúc)

Các vị Thánh lễ bái rồi lui ra

Lễ phong Ấn, phong Thánh đến đây là hết.

--------------------------------------------------

Những điều cần chú ý:

Quốc Bảo khai kinh là những phần Văn Kinh cơ bản. Còn muốn thêm hay bớt. Cho phù hợp tình thế, NGỘ BIẾN, TÙNG QUYỀN. Thời ban tổ chức khai kinh. Cũng như cá nhân có trách nhiệm đứng ra tổ chức khai kinh. Không cần phải khuôn rập theo Văn Kinh. Mà tùy nghi thêm, hoặc bớt Văn Kinh. Cho phù hợp nơi tổ chức hành lễ. Không làm trở ngại cho việc hành lễ.

--------------------------------------------------

7 - KHAI KINH SỐ 7
ĐỌC TỤNG NHÂN LUÂN
HIẾU NGHĨA

Chuông đánh ba hồi 3 tiếng, thắp đèn đốt hương

Chấp tay ngang ngực niệm

Án Lam xóa ha (3 lần)

Đánh tiếng chuông niệm tiếp

Án Ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ.

Đạt mạ ta phạ, bà phạ truật độ hám (3 lần)

Tiếp theo: Lạy 3 lạy quỳ ngay thẳng cầm ba cây hương ngang trán niệm.

Nguyện đem lòng thành kính

Cầu lên Đức Tổ Tiên

Cha Trời cùng Địa Mẫu

Cứu khổ chúng chúng con

Tai họa biến tiêu tan

Sống bình yên an lạc

CẦU NGUYỆN:

Nay có Con, Cháu, Đệ Tử tên là:..... ở tại Thôn/ Tổ dân phố:..... Xã/ phường:..... Quận/ Huyện:..... Tỉnh/ Thành phố:..... Nước Việt Nam

Tại nơi Cư Gia, Am, Thất, Miếu, Đình, Đền, Chùa. Tụng kinh trì chú. Nhơn Luân Hiếu Nghĩa. Xả bỏ mê đồ. Siêu sanh thiên giới. Gia đình hạnh phúc, gia đạo yên vui. Nguyện Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu ứng linh chứng giám.

Nam Mô - A Men.

Nhất tâm cung kính: Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Tối cao Tam Bảo. Pháp Thân vô cùng vô tận khắp pháp giới hư không. Bao trùm quá khứ, hiện tại, vị lai. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ.

(gõ tiếng chuông đồng bái lạy)

Nhất tâm cung kính: Chí Tôn Thiên Đế, Long Hoa Giáo Chủ, Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới hư không. Quá khứ, hiện tại, vị lai. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ.

(gõ tiếng chuông đồng bái lạy)

Nhất tâm cung kính: Long Hoa Giáo Chủ, Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương. Pháp Thân phân hóa mười phương. Chuyển đại pháp luân. Khắp cả Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ. Cứu khổ sanh linh khắp Ta Bà thế giới.

(gõ tiếng chuông đồng bái lạy)

*     *     *

KHAI KINH

Gõ 5 tiếng Chuông xong.

Gõ 4 tiếng Mõ rời từng tiếng một, nghỉ hai nhịp.

Tiếp theo gõ hai tiếng Mõ liền nhau, rồi nghỉ một nhịp gõ tiếng Mõ cuối cùng, tổng cộng là 7 tiếng Mõ.

Sau đó Chuông - Mõ hòa nhau như sau.

Chuông một tiếng, Mõ một tiếng.

Chuông đủ 3 tiếng, thời ngưng chờ Mõ đánh thêm một tiếng nữa, tiếng thứ 4, thứ 5, thứ 6 liền nhau rồi Chuông gõ cùng lúc với tiếng Mõ thứ 7.

Tiếp theo là xướng kệ, tụng kinh.

Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu

Trăm nghìn ức kiếp khó tìm cầu

Nay con gặp đặng chuyên trì tụng

Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu

(gõ tiếng chuông đồng bái lạy)

Tụng kinh công đức thù thắng hạnh

Tiêu tan tai họa chuyển siêu sanh

Phổ nguyện Cha Trời Thiên Ý Luật

Về Trời hưởng phước rạng uy danh

(gõ chuông đồng bái lạy)

Nguyện theo Truyền Thống chí Cha Ông

Phổ hóa Chân Như Cội đại đồng

Tiêu tan nghiệp chướng vô ức kiếp

Diệt trừ phiền não huệ linh thông

(gõ tiếng chuông đồng bái lạy)

Nguyện theo Nguồn Cội Đức Trời Cha

Thành Phật, Thánh, Tiên khắp hà sa

Cứu khổ ban vui cùng nhân loại

Từ Bi mở rộng huệ nở hoa

Cha Trời, Địa Mẫu sáng soi

Chứng tri công đức chúng con hành trì

Lời kinh chuyển khắp, Hữu, Vô vi

Gieo nền Chánh Giáo sanh sôi nẩy mầm

Lời kinh tận độ khắp cùng

Xóa tan khốn khổ trở về Thiên Ban

Nam Mô vô tận hư không

A Men như ý ước mong đạt thành

(gõ tiếng chuông đồng bái lạy)

Phần khai kinh đến đây là hết

Tiếp theo là phần tụng kinh. Chọn lấy những phần kinh trong Kinh Nhân Luân, Hiếu Nghĩa. Trì Tụng.

*    *     *

Tụng kinh Nhân Luân Hiếu Nghĩa xong

Thời xướng tụng đọc tam nguyện.

Nam Mô A Men:

Đương nguyện Thế Nhân, quy kính Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Thuận Theo Kinh Bảo Thiên Ý Cha Trời. Thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.

(gõ tiếng chuông đồng bái lạy)

Nam Mô A Men:

Đương nguyện Thế Nhân, phát vô thượng tâm thấu suốt kinh tạng trí huệ như hải.

(gõ tiếng chuông đồng bái lạy)

Nam Mô A Men:

Đương nguyện Thế Nhân, phát vô thượng tâm, thống lý đại chúng không gì chướng ngại.

(gõ tiếng chuông đồng bái lạy)

Ban hộ niệm cũng như ban trì tụng đồng xướng kệ tụng đọc rằng.

Nguyện đem công đức nầy

Hồi hướng đến khắp cùng

Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ

Hết khổ sống hạnh phúc an vui

*     *      *

Phần khai kinh, cũng như tụng kinh Nhân Luân Hiếu Nghĩa đến đây là hết.

--------------------------------------------------

8 - KHAI KINH SỐ 8
NGHI THỨC KHAI KINH CẦU SIÊU
CŨNG NHƯ NGHI THỨC CẦU SIÊU

NGHI THỨC:

Đại chúng tề tựu, ban chủ lễ thắp đèn, đốt hương. Một bên Duyệt chúng (Mõ) một bên duy ma (chuông) ban chủ lễ đứng ngay ngắn chấp tay trước ngực. Nghe chuông đánh ba hồi 3 tiếng.

Chủ Lễ bước tới trước một bước mật niệm.

TỊNH PHÁP GIỚI CHƠN NGÔN

Án lam xóa ha (đọc 3 lần)

Gõ tiếng chuông niệm tiếp

*     *     *

TỊNH TAM NGHIỆP CHƠN NGÔN

Án ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ

Đạt mạ ta phạ, bà phạ, truật độ hám (3 lần)

Chủ Lễ lạy quỳ ngay thẳng. Cầm 3 cây hương dâng lên ngang trán xướng niệm.

Nguyện đem lòng thành kính

Dâng lên Đấng Tổ Tiên

Đấng Tối Cao thiêng liêng

Cùng Cha Trời, Địa Mẫu

Phật, Thánh, Tiên, cao cả

Khắp pháp giới mười phương

Nguyện Tối Cao ân trên

Cảm ứng linh gia hộ

Cảm ứng linh tận độ

Xa biển khổ nguồn mê

Chóng quay về bờ giác

KỲ NGUYỆN:

Kim (Nay) có đệ tử chúng con tên là:.....

Niên..... nguyệt..... nhật.....

Kim cứ (Tại) Cư Gia, Chùa, Đình, Đền, Thất,

Thôn/ tổ dân phố:..... Phường/ Xã:..... Quận/ Huyện:..... Tỉnh/ Thành phố:..... Nước Việt Nam.

Gia Đường: Kiến đàn cung phụng Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Tu hương phúng kinh..... (phục hồn) Tiên Linh húy kỵ..... cầu siêu độ sự.

Kim (nay) tên gia chủ..... phụng vị.....

Tên hương linh. Dứt sạch nghiệp chướng, tốc xả mê đồ siêu sanh Thiên Giới. Cung kính Cha Trời Mẹ Trời. Duy nguyện phù thùy chứng giám.

TÁN DƯƠNG

Đấng Cha Ông Tối Thượng

Vũ Trụ chẳng ai bằng

Cội Nguồn của muôn loài

Cha Trời luôn truyền dạy

Quy Y về Nguồn Cội

Dứt sạch nghiệp ba kỳ

Siêu sanh trở về Trời

Hưởng phước vô cùng tận.

QUÁN TƯỞNG

Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu

Cảm ứng linh không thể nghĩ bàn

Pháp thân vi diệu Đạo Tràng

Linh linh ứng ứng khắp cùng ứng linh

Cội Nguồn cung kính quy y

Về Trời sống mãi không gì vui hơn.

KÍNH LỄ:

Nhất tâm cung kính:

Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Tối Cao Tam Bảo. Cội Nguồn tất cả. Khắp pháp giới hư không. Bao trùm Trần Gian, Thiên Đàng Địa Phủ. Quá khứ, hiện tại, vị lai.

(gõ tiếng chuông đồng bái lạy)

Nhất tâm cung kính:

Chí Tôn Thiên Đế. Long Hoa Giáo Chủ. Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới hư không. Quá khứ, hiện tại, vị lai. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ.

(gõ tiếng chuông đồng bái lạy)

Nhất tâm cung kính:

Long Hoa Giáo Chủ, Quốc Vương Thủy Tổ. Pháp thân phân hóa mười phương. Chuyển đại pháp luân. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ. Cứu khổ khắp Ta Bà thế giới sanh linh.

(gõ tiếng chuông đồng bái lạy)

Ban Chủ Lễ cũng như ban hộ niệm đồng tụng:

LONG HOA ĐẠI BI ở trang số: 254 - 273

TÁC BẠCH TIÊN SỚ:

Kế thủ ứng linh Đấng Cha Ông

Cảm tương phước đức khấc từ ân

Vô biên khổ ải, vô biên dứt

Ngũ thể đầu thành tịnh lục căn.

Kim hữu đệ tử chúng con..... phụng sự tu hương phúng kinh..... (“tịch điện” trai tuần, húy kỵ)..... kỳ siêu độ sự.

Kim tắc: Thượng khởi sớ chương. Cung bạch Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Duy hào tướng quang trung, phủ thùy minh chứng. (đọc sớ)

PHỤC DĨ:

Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Ban xuống ân sâu. Ứng linh giải thoát chi môn. Siêu sanh Thiên Đàng Cực Lạc.

BÀI VỊ SỚ:

Việt Nam Quốc..... Tỉnh..... Quận/ huyện. Hiện trú ngụ tại Thôn/ Tổ dân phố..... Xã/ Phường..... Phụng sự tu hương phúng kinh (thiên cửu..... (tên người mất), húy kỵ) Khai kinh chi lễ, báo đáp thù ân kỳ siêu độ sự.

Kim đệ tử (tang chủ) Đồng gia môn hiếu quyến. Nội, Ngoại đại tiểu đẳng.

DUY NHẬT BÁI CAN:

Cội Nguồn Cha Ông phủ thùy tiếp độ

THỐNG NIỆM:

Phụng vị..... (phủ quân, nhụ nhơn, chi linh cửu) chi linh.

(Dịch nghĩa: Phụng vị/ báo..... (tên)..... Hương Linh, tuổi, quê quán, chức vụ lúc còn sống)

TRƯỢNG THỪA:

Cội Nguồn: Dĩ siêu thăng. Toàn lại Thiên Bút Kinh Văn nhi giải thoát tư lâm .....(*)..... khai kinh chi lễ, kiền trượng thiền hòa (Đạo Tràng) chi niệm phúng tụng Đại Thừa. Đại Đạo Thiên Ý Trời Cha. Gia trì siêu sanh Thiên Giới.

ĐẢNH LỄ:

Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Tập thử hương nhơn cầu siêu độ sự. Kim tắc cẩn cụ sớ văn hòa nam bái bạch. Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Tác đại chứng minh.

Nam Mô A Men

Chí Tôn Thiên Đế, Long Hoa Giáo Chủ, Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương. Phật, Thánh, Tiên, Thần Chúa. Tác đại chứng minh.

Nam Mô A Men

CUNG PHỤNG:

Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Tiếp dẫn. Địa Tạng Từ Tôn, tiếp xuất u đồ chi khổ. Minh Dương Liệt Thánh đồng thùy mẫn niệm chi tâm.

PHỤC NGUYỆN:

Từ bi vô lượng lân mẫn hữu tình. Tiếp hương linh Thiên Đàng Cực Lạc tiêu diêu. Phò dương quyến Nam Sơn thọ khảo.

NGƯỠNG LẠI:

Tổ Tiên, Cha Trời Địa Mẫu chứng minh cẩn sớ.

Tuế thứ..... niên..... nguyệt..... nhật.

Con Cháu đệ tử chúng đẳng:

Hòa Nam Thượng Sớ.

Nếu không sớ thì:

Kim tắc (1) Cung Bạch Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu, duy nguyện từ bi phủ thùy tiếp độ:

Phụng vị..... tên hương linh..... chi hương linh. Nguyên thừa ơn trên dĩ siêu thăng, toàn lại kinh văn nhi giải thoát.

Khuông phò Tín Chủ dĩ bình an. Tỷ hộ toàn gia nhi khương thái. Thiệt Lại hồng ân Cha Trời Địa Mẫu chứng minh cẩn bạch.

LINH CHÚ DIỆT TỘI CHƠN NGÔN

Ly bà ly bà đế, cầu ha cầu ha đế

Đa ra ni đế, ni ha ra đế, tỳ lê nể đế

Ma ha già đế, chơn lăng càng đế

Ta Bà Ha.

 (3 lần)

CHỦ LỄ XƯỚNG:

Thỉnh linh quy y Cội Nguồn

Thỉnh linh quy y Cội Nguồn

Thỉnh linh quy y Cội Nguồn

Đồng niệm: cho đến khi rước linh ảnh, hoặc bài vị đến trước bàn thờ Cha Trời Mẹ Trời.

Nam Mô A Men. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa linh ứng, ứng linh.

CHỦ LỄ XƯỚNG:

Trở về Cội Nguồn. Thành Tâm kính lễ

Đồng Hòa.

Tam Bái

Hữu chức xướng:

Hồ quỳ:

Hương Linh quy y Cội Nguồn

Hương Linh quy y Cha Trời

Hương Linh quy y Địa Mẫu

Hương Linh quy y Cội Nguồn. Hương Linh không còn sanh tử

Hương Linh quy y Cha Trời. Hương Linh không còn khổ não

Hương Linh quy y Mẹ trời. Hương Linh không còn sa vào ác đạo

Hương Linh trở về Cội Nguồn. Hương Linh thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.

NGUYỆN:

Tổ Tiên Cha Trời, Địa Mẫu phóng quang tiếp độ..... Phục vị..... chi Hương Linh

ĐỒNG HÒA:

Siêu sanh Thiên Giới

CHỦ LỄ SÁM THÁN:

Tội từ tâm khởi, đem tâm sám

Tâm giác ngộ rồi, tội liền tiêu

Tội tiêu tâm tịnh, thảy đều không

Thế mới thật là chơn sám hối

Nguyện Hương Linh.

ĐỒNG HÒA

Tội ức kiếp biến tan

ĐỒNG TÁN:

Thiện Tài đồng tử

Ngũ phận tam tham

Siêu sanh tử độ hương hồn

Tảo vãng về trời

Nhược nhơn, nhược nhơn quy y Nguồn Cội

Bất đọa tam đồ:

Nam Mô - A Men: Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa chứng minh (3 lần)

CHỦ LỄ XƯỚNG:

Linh tại Cửu Huyền, đảnh lễ tạ

ĐỒNG HÒA:

Tam Bái

TẢ CHỨC XƯỚNG:

Thỉnh Linh hoàn cựu sở.

KHAI KINH KỆ

Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu

Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu

Nay con gặp đặng chuyên trì tụng

Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu.

ĐỒNG TỤNG:

Long Hoa Bát Nhã Mật Đa Tâm Kinh ở trang số: 274 - 281

VÃNG SANH QUYẾT ĐỊNH CHƠN NGÔN

Nam mô a di đa bà dạ. Đá tha già đa dạ. Đá địa dạ tha. A di rị đô bà tỳ. A di rị đá. Tất đam bà tỳ. A đi rị Đá, tỳ ca lan đế. A di rị đá. Tỳ ca lan đa. Già di nị. Già già na. Chỉ đa ca lệ. Ta bà ha.

HỒI HƯỚNG:

Cầu siêu công đức thù thắng hạnh

Vô biên thắng phước giai hồi hướng

Phổ nguyện pháp giới chư chúng sanh

Tốc vãng vô lượng quang siêu độ

Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não

Nguyện đắc trí huệ chơn minh liễu

Nguyện theo Thiên Ý hành Đại Đạo

Nguyện an trụ chân như Nguồn Cội

Nguyện dĩ thử công đức

Phổ cập ư nhất thiết

Ngã đẳng dữ chúng sanh

Giai cộng thành Đại Đạo.

PHỤC NGUYỆN:

Đệ Tử Chúng Đẳng: Cập Tín Chủ cung tựu Cha Trời Địa Mẫu, phúng tụng đại thừa kinh chú, xưng tán hồng danh Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Công đức chuyên vì kỳ siêu Hương Linh..... pháp danh..... tốc xả mê đồ, siêu sanh Thiên Giới. Nhất thành thượng đạt, vạn tội băng tiêu.

Nguyện Hương Linh đắc Đạo cao siêu, kỳ gia quyến hàm triêm lợi lạc. Âm siêu Dương thái, pháp giới chúng sanh, tình dữ vô tình. Nhân Loại anh em khắp cùng, tề thành Đại Đạo.

Nam Mô A Men:

Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu cứu khổ ban xuống ân sâu

TAM TỰ QUY Y:

Tự Quy Y Nguồn Cội: Tổ Tiên, tối cao vô thượng.

Đương nguyện, chúng sanh. Nhân loại anh em thế giải Đại Đạo phát vô Thượng Tâm.

(gõ tiếng chuông đồng lạy 1 lạy)

Tự Quy Y Thiên Ấn, Thiên Bút:

Đương nguyện, chúng sanh. Nhân Loại anh em, thâm nhập kinh tạng trí huệ như hải.

(gõ tiếng chuông đồng lạy 1 lạy)

Tự Quy Y Cha Trời, Địa Mẫu:

Đương nguyện, chúng sanh. Nhân loại anh em thống lý đại chúng, nhất thiết vô ngại.

(gõ tiếng chuông đồng lạy 3 lạy bái 4 bái)

*     *      *

SỚ LÀM TUẦN

Vạn Đức Từ Tôn. Chững tế u minh chi lộ..... tuần phủ chi kiền, kỳ tiến bạt chi chương. Nhứt niệm chí thành, thập phương cảm cách.

BÀI SỚ VỊ:

Việt Nam Quốc..... Tỉnh/ Thành phố..... Quận/ Huyện..... Xã/ Phường..... Thôn/ tổ dân phố. Cung tự vu..... Tự Phụng Sự tu hương phúng kinh..... chi trai tuần báo đức thù ân kỳ siêu độ sự.

Kim đệ tử chúng con.....

Duy Nhật Bái Can:

Cội Nguồn Tối Cao: Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu phủ thùy tiếp độ.

THỐNG NIỆM:

Phụng vị.....

Trượng Thừa:

Hồng Ân Cha Trời, Địa Mẫu, ban cho các cõi nước Trời. Y diệu pháp cao đăng Thiên Đàng Cực Lạc.

Tư Lâm..... Chi trai tuần. Chánh tri khôn phủ đệ..... Điện..... Minh Vương án tiền trình quá. Do thị túc thanh phạm vũ. Tổ Triễn trai nghi, kiền trượng thiền hòa tuyên dương pháp sự. Phúng tụng Đại Thừa. Pháp bảo tôn kinh. Gia thì vãng sanh tịnh độ thần chú.

ĐẢNH LỄ:

Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Tam Thân Bửu Tướng. Vạn Đức Kim Dung, tập thử Thiện Nhơn. Kỳ cầu siêu độ. Kim tắc cẩn cụ, sớ văn hòa nam bái bạch.

Nam Mô A Men:

Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu hóa độ Linh Căn cảm ứng chứng minh.

Nam Mô A Men:

Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Cảm ứng chứng minh

DIÊM PHỤNG:

Tam thừa Thượng Thánh. Tứ Phủ Vương Quan. Thập Điện Tử Vương. Minh Vương Liệt Thánh đồng thùy tiếp độ, cọng chứng vãng sanh.

PHỤC NGUYỆN:

Từ Bi bất xả. Tế độ vô biên. Quá giả xá. Tội giả trừ. Tiếp Hương Linh, suyền đăng siêu sanh Thiên Đàng Cực Lạc. Phước tự tăng, lộc tự chí.

Bảo nhi tôn thọ hưởng Nam Sơn.

NGƯỠNG LẠI:

Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Chứng minh cẩn sớ

Tuế thứ..... niên..... nguyệt.....

Đệ Tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.

--------------------------------------------------

Những điều cần chú ý:

Quốc Bảo khai kinh, là những phần Văn Kinh cơ bản. Còn muốn thêm hay bớt kinh văn. Cho phù hợp khuôn khổ hành lễ. NGỘ BIẾN, TÙNG QUYỀN. Thời ban tổ chức khai kinh. Cũng như người tổ chức khai kinh, không cần phải khuôn rập theo Văn Kinh. Mà tùy nghi thêm hoặc bớt Văn Kinh. Cho phù hợp nơi hành lễ. Không làm trở ngại cho việc hành lễ.

--------------------------------------------------

9 - KHAI KINH SỐ 9
NGHI THỨC TANG LỄ CƯ GIA

LỄ KHAI KINH

CỬ TÁN:

Tâm nhiên ngũ phận

Phổ biến thập phương

Hương yên đồng tử ngộ chơn thường

Tỷ quán thiệt nan lường

Thoại ái trường quang

Kham hiến pháp trung ương.

Nam Mô A Men: Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa (3 lần)

CỬ TÁN TIẾP:

Hải chấn triều Âm thuyết phổ môn

Cửu liên hoa lý hiện đồng chơn

Dương chi nhất đích chơn cam lộ

Tán tác sơn hà địa địa xuân.

Nam Mô A Men: Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát (3 lần)

CHỦ LỄ NÓI PHÁP NGỮ:

Phù thử thủy giả

Bát công đức thủy tự thiên chơn

Tiên tẩy chúng sanh nghiệp cấu trần

Biến nhập tỳ lô hoa tạng giới

Cá trung vô xứ bất siêu luân

Thủy bất tẩy thủy

Diệu cực pháp thân

Trần bất nhiễn trần

Phản tác tự kỷ

Quyên trừ Nội Ngoại

Đản địch đàn tràng

Sái khô mộ chi, tác dương xuân (hay phùng xuân)

Kiết uế ban nhi thành tịnh độ

Sở vị Đạo Nội Ngoại

Trung Gian vô trược uế

Thánh, Phàm, u hiển

Tổng thanh lương

CỬ TÁN:

Bồ Tát liễu đầu cam lộ thủy

Năng linh nhất đích biến thập phương

Tinh chuyên cấu uế tận tiêu trừ

Phổ sái pháp diên (đàn tràng) tất tịnh thanh.

Nam Mô A Men Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu (3 lần)

CHỦ LỄ CỬ:

Giáo hữu Đại Bi Chơn Ngôn cẩn trì y tụng.

ĐỒNG TỤNG LONG HOA ĐẠI BI

Ở phần trang số: 254 - 273

Tụng xong Chủ Lễ

CỬU TÁN:

Cha Trời Địa Mẫu: Như tịnh mãn nguyện. Diệt như thiên nhật phóng quang minh.

Viên quang phổ chiếu ư thập phương

Hỷ xả từ bi giai cụ túc

Nam Mô A Men:

Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Vô tận hư không cảm ứng linh thiêng khắp cùng vũ trụ.

CHỦ LỄ XƯỚNG:

Kê thủ từ bi đấng Giác Tôn

Cảm đương phước đức khất từ ân

Vô biên khổ ải vô biên chứng

Ngũ thể đầu thành sạch nhục căn

Chí Tôn: Đức tướng nan tận tán dương

Kim hữu đệ tử..... chúng đẳng tu hương hiến cúng phúng kinh..... (khai kinh.....)

Kỳ siêu độ sự.

Kim tắc cần cụ khai khởi sớ chương: Cung bạch Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Duy nguyện từ bi phủ thùy chứng giám.

(đến đây công văn đọc sớ)

CỬ TÁN:

Cha Trời, Địa Mẫu ứng linh thiêng

Cứu độ Hồn Linh khắp mọi miền

Thành tâm cung kính dù một niệm

Siêu sanh thiên giới sống bình yên

Nam Mô A Men:

Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. (3 lần).

ĐỒNG TỤNG:

Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu

Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu

Nay con gặp đặng chuyên trì tụng

Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu.

ĐỒNG TỤNG

LONG HOA BÁT NHÃ MẬT ĐA TÂM KINH

Ở phần trang số: 274 - 281

Xong rồi tiếp đến tụng vãng sanh quyết định chơn ngôn

Nam mô a di đa bà dạ. Đá tha dà đa dạ. Đá địa dạ tha. A di lị đô bà tỳ. A di li đá, tất đam bà tỳ. A di li đá, tỳ ca lan đế. A di li đá, tỳ ca lan đa. Dà di nị dà dà na, chỉ đa ca lệ. Ta bà ha (3 lần)

ĐỒNG TỤNG:

Nguyện sanh Thiên Giới sống an vui

Cực Lạc trường sanh không già chết

Trở về Nguồn Cội ngộ tâm giải thoát

Hết khổ hết sầu dứt đọa sa.

ĐỒNG HÒA

Nam Mô A Men:

Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu, ứng linh khắp cả pháp giới hư không cứu khổ Hương Linh siêu sanh Thiên Giới.

ĐỒNG XƯỚNG TỤNG:

Cội Cha Ông hư không rỗng lặng

Cảm ứng linh khó đặng nghĩ bàn

Pháp Thân vi diệu Đạo Tràng

Linh linh ứng ứng khắp cùng ứng linh

Chúng con thệ nguyện quy y

Hành trì Thiên Ý rộng gieo đức lành

Nam Mô vô tận Cội Nguồn

A Men như ý nguyện thành A Men

*     *      *

GHI CHÚ:

Trước khi làm lễ khai kinh. Trên bàn phải có quyển kinh để sẵn. Trong lúc đại chúng tụng tám câu kinh kệ nầy. Vị Chủ Lễ đưa tay trái mở quyển kinh ra thời mới đúng pháp khai kinh.

--------------------------------------------------

BÀI SÁM TÁNG
Đưa Tang. Hay Tụng Kinh siêu độ hồn linh

Cõi hồng trần gởi thân trăm tuổi

Kiếp phù sanh thay đổi vô thường

Có thân nên khổ không ngừng

Sanh già bệnh tử có chừa ai đâu

Bởi phàm thân khó mong tránh khổ

Thân mất rồi chôn bỏ nghĩa trang

Hay là tống táng đồng hoang

Hay là chôn cất xóm làng cách xa

Mau giác ngộ thiện tâm giải thoát

Nương Cội Nguồn chuyển kiếp siêu sanh

Cha Trời, Địa Mẫu anh linh

Thần thông vô hạn vô biên tận cùng

Hồn Linh nhớ niệm Cha Trời

Siêu thăng cực lạc phản hồi Thiên Quê

Xa Cội Nguồn lạc lối lầm mê

Vô Minh xoay chuyển ê hề họa tai

Trần gian cõi tạm xưa nay

Sống thời còn đó trắng tay lìa trần

Khi chết đi sang giàu cũng bỏ

Hồn ra đi muôn thuở trở về

Dù cho giàu đến cỡ nào

Cũng đành bỏ lại rốt cùng như không

Còn thân còn cả giang sang

Mất thân đến cả cháu con cũng lìa

Hồn thức tỉnh mau về Nguồn Cội

Niệm Trời Cha hết tội siêu thăng

Không còn sa đọa chuyển luân

Ra vào ba cõi xuống lên sáu đường

Đời dĩ vãng gương người còn đó

Tranh giành nhau nào có được chi

Làm vua đến lúc ra đi

Cung vàng điện ngọc đem theo được nào

Gieo nghiệp ác Âm Tào tới trước

Cõi Âm Ti muôn kiếp khốn nguy

Hồn linh khốn khổ biết bao

Hành hình đủ thứ đớn đau nghìn trùng

Khi còn sống không tìm về Cội

Thân mất rồi Hồn lạc sông mê

Ác nghiệp xoay chuyển thảm thê

Luân hồi báo quả biết bao thảm sầu

Hồn mau tỉnh quay đầu bờ giác

Nghe kệ kinh giải thoát họa tai

Mau mau tỉnh giấc u mê

Tìm về Nguồn Cội theo chân Cha Trời

Quyền lực mấy kiếp người giả tạm

Sang đến đâu khó trọn mang theo

Rốt rồi tất cả đều không

Chỉ còn nghiệp ác mang theo đọa đày

Trường danh lợi mưu nầy kế nọ

Án công hầu thủ đoạn đua chen

Sang, giàu, nghèo, khổ tài năng

Chung quy rồi cũng một phen tan tành

Kiếp bụi trần trả lại bụi trần

Hồn lìa khỏi xác thảy đều trắng tay

Bao những kẻ lầm mê tàn bạo

Tưởng đâu rằng sự nghiệp muôn năm

Thủy Hoàng thời được cái chi

HítLe đổ nát biết bao nhọc nhằn

Vậy mới biết sang hèn quyền thế

Dại với khôn giàu có vua quan

Cuối cùng một nấm mồ hoang

Cái thân thối rữa đất ăn còn gì

Ôi sách sử còn ghi phản tỉnh

Họ Thạch giàu hơn cả ông vua

Cuối cùng cũng lại trắng tay

Chết đi hóa kiếp sanh ra thằn lằn

Hồn ơi hỡi phản hồi thức tỉnh

Tám trăm năm Bành Tổ sống lâu

Cuối cùng xác cũng già nua

Xác trần bỏ lại ở nơi cõi trần

Biết bao kẻ xanh mày mặt ngọc

Biết bao người vàng bạc ức muôn

Xem đi xét lại chung quy

Cuối cùng rốt lại còn chi sạch sành

Hãy tỉnh giấc quy về Nguồn Cội

Niệm Trời Cha vạn hội siêu thăng

Thiên Đàng cực lạc an ban

Đất đai châu báu hào quang sáng ngời

Mùi tục lỵ vướng vào là khổ

Bả lợi danh cám dỗ khốn nguy

Sống thời thấy chết còn chi

Mấy ai sống mãi uổng công tranh giành

Còn chút trí xét đời nghĩ lại

Chốn trần gian cõi tạm vô thường

Vắng đi hơi thở còn gì

Xác thân bỏ lại Linh Hồn bơ vơ

Hãy thức tỉnh nương nhờ Nguồn Cội

Niệm Cha Trời hồn đặng siêu thăng

Về Trời sống mãi vô biên

Thiên Đàng Cực Lạc bình yên sang giàu

Lời kệ kinh nghe rồi tỉnh giấc

Muôn việc đời rốt hết là không

Chỉ còn tánh đức thiện căn

Mới là đáng quý linh thiêng tột cùng

Xét thân nầy đến hồi tan rã

Thời hết mong khó nổi tu nhơn

Nghiệp trần xoay chuyển hồn linh

Tam đồ sa đọa biết bao khốn cùng

Chờ đến lúc không còn hơi thở

Thời ôi thôi khó thể lo toan

Hồn linh vào cảnh tối tăm

Khó mong thoát khỏi Âm Ti đọa đày

Sống cứ mãi mê lầm trần thế

Mà quên đi cái chết không xa

Trăm năm cũng chẳng đâu là

Cuối cùng nhận lấy nấm mồ nghìn thu

Bóng trăng lu buồn ru ác xế

Tháng ngày qua thăm ghé mộ phần

Cỏ xanh quạnh quẽ vô cùng

Gió, Mưa, Nắng, Tuyết, bão bùng cô đơn

Hồn tỉnh giấc nghe kinh nhẹ gót

Vượt sông mê bờ giác không xa

Kìa là Đức Mẹ Trời Cha

Nương nhờ thần lực vượt qua mê lầm

Nguyện siêu sanh về miền cực lạc

Nguyện xa lìa ác nghiệp trần lao

Thiên Đàng tiên cảnh an vui

Trường xuân tự tại, tiêu dao hưởng nhàn

Nam Mô vô tận Đạo Tràng

A Men giải khổ linh hồn, A Men

--------------------------------------------------

10 - KHAI KINH SỐ 10
NGHI THỨC CẦU AN
LỄ THÀNH HÔN

Những điều cần biết trước:

Trước khi cử hành nghi thức. Cầu an, lễ thành hôn:

Hai Họ. Phải có mặt tại Cư Gia, hay Đền Thờ, Chùa, Thất.

Từ nơi Bệ Thờ Chánh Điện Đại Đạo nhìn ra.

Hai Họ sắp hai hàng:

Nam Giới đứng bên trái.

Nữ giới đứng bên phải.

Cô Dâu, Chú Rể: đứng ở giữa hai họ phía sau ban chủ lễ. Dâu bên phía Nữ. Rể bên phía Nam.

Ban Chủ Lễ: đốt nhang, đèn, xông trầm. Rồi mới thỉnh Đức Thầy. Hay Tôn Sư, ra làm Chủ Lễ Khai Kinh.

Chuông đánh 3 hồi trước. Trống đánh 3 hồi sau.

ĐI VÀO NGHI THỨC HÀNH LỄ

Chuông nhỏ đánh 3 tiếng

Chủ Lễ xướng tụng. Cô Dâu, Chú Rể quỳ xuống lắng nghe lời kinh.

Nhất tâm cung kính:

Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Pháp Thân Linh Giác Tối Cao Tam Bảo. Khắp pháp giới mười phương. Bao trùm, Trần Gian, Thiên Đàng, Địa Phủ. Quá khứ, hiện tại, vị lai.

(gõ tiếng chuông cô dâu chú rể lạy xuống)

Nhất tâm cung kính:

Chí Tôn Thiên Đế, Long Hoa Giáo Chủ, Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới hư không, quá khứ, hiện tại, vị lai. Thiên Đàng, Trần Gia, Địa Phủ.

(gõ tiếng chuông cô dâu chú rể lạy xuống)

Nhất tâm cung kính:

Long Hoa Giáo Chủ, Quốc Vương Thủy Tổ. Phân Hóa Mười phương. Chuyển đại pháp luân. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ. Cứu khổ sanh linh khắp Ta Bà thế giới.

(gõ tiếng chuông cô dâu chú rể lạy xuống)

Chủ Lễ xướng tụng: cùng ban chủ lễ xướng tụng theo

Nguyện cho đôi phu thê

Luôn bình an vạn sự

Chung một lòng thệ nguyện

Tỏa ngát hương thủy chung

Sống an vui trăm tuổi

Gắn bó mãi yêu thương

Sống hòa thuận yên vui

Nhọc nhằn luôn có nhau

Như dạ xốn lòng đau

Như cờ bay trong gió

Mãi như chim liền cánh

Mãi như cây liền cành

Dù cho biển cạn

Dù cho non mòn

Lòng vẫn ngập tràn

Chung thủy cùng nhau

Dù cho nhan sắc tàn phai

Cũng không thay đổi tình yêu vợ chồng

Nam Mô Tiên Tổ, Cha Trời.

A Men Địa Mẫu chứng thời chứng tri

(gõ tiếng chuông cô dâu chú rể đồng bái lạy)

PHỤNG BẠCH:

Hôm nay Ngày..... Tháng..... Năm.....

Nước Việt Nam.

Tại nơi: Cư Gia. Đền Thờ. Có cô Dâu, chú Rể.

Thiện Nam Chú Rể tên là..... pháp danh nếu có.....

Tín Nữ Cô Dâu tên là..... pháp danh nếu có.....

Được sự đồng ý hai bên Cha Mẹ. Long trọng tổ chức thành hôn vu quy cho hai con

Nguyện Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Long Hoa Giáo Chủ, Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.

Ban xuống ân sâu, hạnh phúc lứa đôi vạn sự bình yên, trăm năm hảo hợp. Vạn hạnh keo sơn. Sanh con đẻ cái hiếu báo ơn trên Ông Bà Cha Mẹ lưu truyền nòi giống.

(gõ tiếng chuông cô dâu chú rể đồng bái lạy)

Cô dâu chú rể

Hướng về bệ thờ Cha Mẹ Trời

Đồng xướng nguyện rằng:

Đã yêu, yêu đến bạc đầu

Không vì hờn giận chia lìa lẫn nhau

Hiếu nghĩa đối với hai bên

Cũng đều cho trọn mười phân vẹn mười

Tơ duyên là Đạo của Trời

Thương yêu là Đạo của người mình yêu

Chúng con thề nguyện thỉ chung

Trăm năm tơ tóc keo sơn một lòng

Nam Mô vô tận Cội Nguồn

A Men như ý nguyện thành A Men

Cô Dâu, Chú Rể ngâm kệ thệ nguyện xong

Đức Thầy, hay Tôn Sư: bưng chén nước trên bệ thờ xuống.

Dùng một bông hoa. Nhúng vào chén nước Thánh Thủy rồi điểm nhẹ lên trên đỉnh đầu của hai người.

Niệm Chú:

Đát chỉ đá. Ám dà la phạ đá, dà la phạ đá, la dà phạ đá, la dà phạ đá sa ha. Thiên La Thần, Địa La Thần. Nhân ly nạn, nạn ly thân. Nhất thiết tai ương hóa vi trần.

Hạnh phúc đâm chồi tai họa tiêu tan.

Tiếp theo là phần hai bên trao nhẫn cho con.

Chủ Lễ: xướng đọc kệ rằng

Gói gắm trao con chiếc nhẫn nhà

Rằng đây quà tặng của Mẹ Cha

Báu vật nói lên trong dụng ý

Thương nhau nhường nhịn phước nở hoa

Đạo Nhẫn nhu hòa vật điểm trang

Với ba chữ nhẫn quý hơn vàng

Hạnh phúc bình yên nhờ đức nhẫn

Nhẫn là nhường nhịn nghĩa tào khang

Nhẫn nhịn vì nhau chẳng phải hèn

Gặp phải sự đời lúc khó khăn

Nhớ lấy công phu thường nhịn nhẫn

Vượt qua dông bão đến đất bằng

Tam nhẫn hành trang nhớ công phu

Vợ Chồng nhẫn nhịn rạng đường tu

Thuận hòa hạnh phúc nhờ nhịn nhẫn

Nhẫn nhịn tai qua, võng lọng dù.

Chủ Lễ tuyên bố. Lễ cầu an thành hôn đến đây là kết thúc. Chúc hai Họ vạn sự như ý.

(đánh hồi chuông, hồi trống kết thúc)

*     *     *

Quốc Bảo khai kinh đến đây là hết. Những gì lợi ích trong Quốc Bảo khai kinh là không thể nghĩ bàn. Nơi nào có Quốc Bảo khai kinh. Thời nơi đó có Cha Trời, Địa Mẫu. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Giáng ngự. Hồn Thiêng Dân Tộc phò trì. Khí Thiêng Sông Núi bảo bọc che chở. Quốc Bảo Khai Kinh là báu vật đất trời tối đại linh thiêng chỉ cần thành tâm ca ngợi cũng đặng siêu thoát vô lượng tội ác. Tai họa lớn biến thành tai họa nhỏ. Tai họa nhỏ biến thành tiêu tan. Huống chi là đọc tụng. Dù chỉ là một câu cũng linh ứng vô cùng. Nếu nhớ được một câu, hay một bài khai kinh thời coi như chuyển họa thành phúc. Vì Quốc Bảo Khai Kinh chính là Thiên Ý, Thiên Bút của Trời.

--------------------------------------------------

CHƯƠNG III
VĂN KHẤN Ở BÀN THỜ TẠI GIA

(A) VĂN KHẤN THEO MẪU

Sau đây là 3 bài văn khấn mẫu, theo Văn Hóa Cội Nguồn, tùy vào căn duyên, mục đích và sự mong cầu của mình mà quý vị sử dụng một trong ba bài.

Cũng tùy vào dịp Lễ, Tết mà quý vị tụng, đọc, niệm thêm Kinh, Thơ, Chú cho phù hợp với ý nghĩa của ngày Lễ đó.

1 - BÀI VĂN KHẤN MẪU, SỐ 1

NAM MÔ KHAI HÓA TỐI THƯỢNG TỔ TIÊN VÔ BIÊN NHƯ LAI (lạy).

NAM MÔ LONG HOA CỬU HUYỀN THIÊN PHỤ ẤN QUANG TỐI THẮNG NHƯ LAI (lạy).

NAM MÔ TIÊN CƠ ĐỨC MẸ ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH NHƯ LAI (lạy).

NAM MÔ A MEN

NAM MÔ ĐỨC HƯ KHÔNG TẠNG DIỆU KHÔNG VÔ BIÊN NHƯ LAI (lạy).

CON THÀNH TÂM KÍNH LẠY 100 ÔNG BÀ TIÊN TỔ, CHƯ HƯƠNG LINH GIA TIÊN TIỀN TỔ NỘI NGOẠI. (lạy)

CON THÀNH TÂM KÍNH BÁI PHẬT THÁNH TIÊN THẦN CHÚA KHẮP PHÁP GIỚI MƯỜI PHƯƠNG (bái).

KINH CHÚ

Nam Mô Khai Hóa Tổ Tiên

Hiện Thân Hai Đấng Cửu Huyền Tối Cao

Sanh Ra Nhân Loại Con Người

Ông Bà, Cha Mẹ, Đến Thời Chúng Con

A MEN

*     *     *

KINH CẦU NGUYỆN

Dâng hương lễ lạy Cửu Huyền

Hiển linh gia hộ khắp miền cháu con

Huệ khai phước lộc đầy tràn

Gia đình hòa thuận, cháu con sum vầy

*     *     *

CHÚ NGUYỆN

Nguyện cho tất cả thế nhân

Sớm lên tiên giới, sớm gần Mẹ Cha

Sớm gần cội gốc Long Hoa

Về nơi giải thoát vào nhà rồng tiên

*     *     *

NAM MÔ A MEN (lạy 4 lạy, bái 4 bái)

*     *     *

2 - BÀI VĂN KHẤN MẪU, SỐ 2

(gõ 1 tiếng chuông để mở đầu Nghi Lễ)

CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:

NAM MÔ KHAI HÓA TỐI THƯỢNG TỔ TIÊN VÔ BIÊN NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).

CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:

NAM MÔ LONG HOA CỬU HUYỀN THIÊN PHỤ ẤN QUANG TỐI THẮNG NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).

CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:

NAM MÔ TIÊN CƠ ĐỨC MẸ ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).

CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:

NAM MÔ ĐỨC HƯ KHÔNG TẠNG DIỆU KHÔNG VÔ BIÊN NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).

CON THÀNH TÂM KÍNH LẠY 100 ÔNG BÀ TIÊN TỔ, CHƯ HƯƠNG LINH GIA TIÊN TIỀN TỔ NỘI NGOẠI. (lạy)

CON THÀNH TÂM KÍNH BÁI PHẬT THÁNH TIÊN THẦN CHÚA KHẮP PHÁP GIỚI MƯỜI PHƯƠNG (bái).

Hôm nay, nhằm ngày..... tháng..... năm.....

Gia đình chúng con ở tại địa chỉ:

Xóm/ Đường:..... Thôn/ Tổ dân phố:..... Xã/ Phường:..... Quận/ Huyện:..... Tỉnh/ Thành phố:..... Nước Việt Nam.

Phụng báo:

+ Khai Hóa Tổ Tiên.

+ Cha Trời Lạc Long Quân.

+ Địa Mẫu Âu Cơ

+ Long Hoa Giáo Tổ, Di Lặc, Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương, 100 Ông Bà Tiên Tổ.

Chứng giám: (cho việc gì thì khấn việc đó).....

*     *     *

NAM MÔ A MEN (lạy 4 lạy, bái 4 bái)

*     *     *

3 - BÀI VĂN KHẤN MẪU, SỐ 3

NAM MÔ KHAI HÓA TỐI THƯỢNG TỔ TIÊN VÔ BIÊN NHƯ LAI (lạy).

NAM MÔ LONG HOA CỬU HUYỀN THIÊN PHỤ ẤN QUANG TỐI THẮNG NHƯ LAI (lạy).

NAM MÔ TIÊN CƠ ĐỨC MẸ ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH NHƯ LAI (lạy).

NAM MÔ A MEN

NAM MÔ ĐỨC HƯ KHÔNG TẠNG DIỆU KHÔNG VÔ BIÊN NHƯ LAI (lạy).

CON THÀNH TÂM KÍNH LẠY 100 ÔNG BÀ TIÊN TỔ, CHƯ HƯƠNG LINH GIA TIÊN TIỀN TỔ NỘI NGOẠI (lạy).

CON THÀNH TÂM KÍNH BÁI PHẬT THÁNH TIÊN THẦN CHÚA KHẮP PHÁP GIỚI MƯỜI PHƯƠNG (bái).

Hôm nay, nhằm ngày..... tháng..... năm..... nhớ đến (ngày giỗ/ công ơn của):.....

Gia đình chúng con gồm có các thành viên:.....

Ở tại địa chỉ:

Xóm/ Đường:..... Thôn/ Tổ dân phố:..... Xã/ Phường:..... Quận/ Huyện:..... Tỉnh/ Thành phố:..... Nước Việt Nam.

Đem lòng thành khẩn, thành kính, thành tâm dâng lên: nhang, đèn, hương, hoa, trà, quả... cúng dường.

Ngưỡng mong ơn trên.

+ Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu.

+ Long Hoa Giáo Chủ, Di Lặc, Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương, 100 Ông Bà Tiên Tổ.

+ Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới mười phương. Ba thời, quá khứ, hiện tại, vị lai. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ.

Chứng tri công đức ban xuống ân sâu. Hộ độ chúng con, vạn sự bình an. Khai tâm mở trí, sáng láng thông minh. Giác thành Đại Đạo.

Nguyện cầu cho Ông Bà, Cha Mẹ, họ hàng người thân, đã mất được siêu sanh về nơi tốt đẹp.

*     *     *

NAM MÔ A MEN (lạy 4 lạy, bái 4 bái)

*     *     *

LƯU Ý:

 - KHI ĐỌC VĂN KINH ĐỂ CÚNG, QUÝ VỊ NÊN ĐỌC GIỌNG VỪA ĐỦ TO ĐỂ NHỮNG LINH HỒN ÂM CẢNH CŨNG ĐƯỢC KHAI TÂM, KHAI TRÍ, LÀM LỢI LẠC CHO CẢ NGƯỜI ÂM LẪN NGƯỜI DƯƠNG.

*     *     *

(B) MỘT SỐ BÀI VĂN KHẤN VÀO CÁC NGÀY LỄ TẾT TRONG NĂM

1 - VĂN KHẤN MÙNG 1 TẾT NGUYÊN ĐÁN

a) Ý NGHĨA CỦA VIỆC LÀM LỄ BUỔI SÁNG GIỜ THÌN NGÀY TẾT

Theo Kinh dịch âm dương của Tiên Thiên Bát Quái, giờ Thìn thuộc hành thổ. Những người sinh vào giờ hành Thổ (giờ Thìn, giờ Mùi, giờ Tuất, giờ Sửu), thường là những con người đa năng. Vì hành thổ ứng hiện vào tất cả các phương, các chi. Giờ Thìn là giờ hoàng kim, quan trọng, tối linh nhất. Là giờ trổ bông trổ hoa. Hành thổ ứng hiệp với con số 0, 5, 10 mà 3 con số này chính là con số của Trời. Số 5 chính là con số tham thiên lưỡng địa, số của Quốc Tổ Hùng Vương. Cho nên giờ Thìn chính là giờ đặc biệt nhất của ngày mùng 1 Tết.

b) VĂN KHẤN

(gõ 1 tiếng chuông để mở đầu Nghi Lễ)

CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:

NAM MÔ KHAI HÓA TỐI THƯỢNG TỔ TIÊN VÔ BIÊN NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).

CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:

NAM MÔ LONG HOA CỬU HUYỀN THIÊN PHỤ ẤN QUANG TỐI THẮNG NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).

CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:

NAM MÔ TIÊN CƠ ĐỨC MẸ ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).

CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:

NAM MÔ ĐỨC HƯ KHÔNG TẠNG DIỆU KHÔNG VÔ BIÊN NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).

CON THÀNH TÂM KÍNH LẠY 100 ÔNG BÀ TIÊN TỔ, CHƯ HƯƠNG LINH GIA TIÊN TIỀN TỔ NỘI NGOẠI. (lạy)

CON THÀNH TÂM KÍNH BÁI PHẬT THÁNH TIÊN THẦN CHÚA KHẮP PHÁP GIỚI MƯỜI PHƯƠNG (bái).

Hôm nay là ngày Mùng 1 Tết, năm..... Chính là ngày TỔ TIÊN, hiện thân ra CHA TRỜI, MẸ TRỜI. Ba ngôi tối cao vũ trụ. Cũng chính là ngày vía LONG HOA GIÁO CHỦ. DI LẶC, QUỐC VƯƠNG THỈ TỔ HÙNG VƯƠNG tiếp nối di chí ÔNG CHA. Được coi như là ngày hội tụ. Về Cội về Nguồn. Đền ơn đáp nghĩa.

Gia đình chúng con gồm có các thành viên:.....

Ở tại địa chỉ.....

Xóm/ Đường:..... Thôn/ Tổ dân phố:..... Xã/ Phường:..... Quận/ Huyện:..... Tỉnh/ Thành phố:.....  Nước Việt Nam.

Dốc lòng thành khẩn, thành kính, thành tâm dâng lên: nhang, đèn, hương, hoa, nước, trà, quả, bánh, cơm canh… thanh tịnh cúng dường.

Trước là phụng báo:

+ Khai Hóa Tổ Tiên

+ Cha Trời Lạc Long Quân.

+ Địa Mẫu Âu Cơ

+ Long Hoa Giáo Tổ, Di Lặc, Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương, 100 Ông Bà Tiên Tổ.

Sau là tưởng nhớ tới công ơn của chư hương linh gia tiên tiền tổ nội ngoại.

Ngưỡng mong ơn trên, Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu, Đức Quốc Tổ Hùng Vương, Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới mười phương. Ba thời, quá khứ, hiện tại, vị lai. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ.

Chứng tri công đức ban xuống ân sâu. Hộ độ chúng con, năm mới bình an, thịnh vượng, cháu con hiếu thuận, thông minh sáng láng, gia đình yên vui, hạnh phúc.

Nguyện cầu cho đất nước Việt Nam sớm chuyển mình đổi mới theo Thiên Ý Trời Cha, rực thắm xuân an vui, xuân giàu sang, hạnh phúc trên khắp đất nước quê hương.

NAM MÔ A MEN

(Ngày mùng 1 Tết, Quý vị nên sử dụng Thiên Ấn trang sức để cầu nguyện cho đất nước Việt Nam, vừa làm lợi ích cho bản thân vừa làm lợi ích cho gia đình và xã hội).

*     *     *

VIỆT NAM

Việt Nam tỏ rạng ánh hồng tươi

Văn hóa mùa xuân khúc nhạc cười

Tiếng nhạc bổng trầm khai ý rạng

Non sông khởi sắc trổ xuân tươi

Dân giàu nước mạnh phun châu ngọc

Rồng Tiên hội tụ trải đức phơi

Độc Lập Tự Do niềm cường thịnh

Địa linh vũ trụ trổ Ông, Tôi.

*     *     *

TRỜI LÊN

Trời lên lộ bóng quang đầy

Nước non Quốc Đạo chuyển xoay vạn loài

Việt nam văn hóa đài cao rộng

Hiếu trung bay đến tận Trời Cha

Việt Nam kết trái đơm hoa

Muôn dân ngộ đức bài ca thanh bình

Khai Nguồn Cội dân tình no ấm

Đường lên mây tỏa sáng Văn Lang

Vua Hùng mở lối quy nguyên

Năm châu, bốn biển bình yên một nhà.

*     *     *

KINH CHÚ

Nam Mô Khai Hóa Tổ Tiên

Hiện Thân Hai Đấng Cửu Huyền Tối Cao

Sanh Ra Nhân Loại Con Người

Ông Bà, Cha Mẹ, Đến Thời Chúng Con

A MEN

*     *     *

KINH CẦU NGUYỆN

Dâng hương lễ lạy Cửu Huyền

Hiển linh gia hộ khắp miền cháu con

Huệ khai phước lộc đầy tràn

Gia đình hòa thuận, cháu con sum vầy

*     *     *

CHÚ NGUYỆN

Nguyện cho tất cả thế nhân

Sớm lên tiên giới sớm gần Mẹ Cha

Sớm gần cội gốc Long Hoa

Về nơi giải thoát vào nhà rồng tiên

*     *     *

NAM MÔ A MEN (lạy 4 lạy, bái 4 bái)

*     *     *

KHAI KINH KỆ

Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu

Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu

Nay con gặp đặng chuyên trì tụng

Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu.

*     *     *

TỤNG ĐỌC LONG HOA VÔ NGẠI ĐẠI BI THẦN CHÚ

(trang số: 254 - 273)

*     *     *

Mùng 1 Tết Cha

KINH CỬU HUYỀN THẤT TỔ

Nơi vũ trụ Tổ Tiên khai hóa

Đấng tối cao hiện tướng Long Hoa

Độc tôn tối thượng Như Lai

Vận hành khai hóa đất trời càn khôn

Đấng tối cao khai ra bảy giáo

Khai lập ra tam giới hư không

Lập thành vũ trụ tam thiên

Trần gian, địa phủ, lập lên cõi trời

Nào nhật, nguyệt, thiên hà tinh tú

Nào Tu Di, bảy núi báu châu

Thiết Vi rộng lớn dường bao

Tam luân bao bọc khắp nào hạ thiên

Đấng Cửu Huyền cha chung tất cả

Đấng tối cao vận chuyển huyền cơ

Đi vào sanh diệt, diệt sanh

Tuần hoàn tiến hóa ứng theo luật trời

Đấng cửu huyền, công bằng tạo hóa

Đấng sanh thành nòi giống Rồng Tiên

Khắp cùng nhân loại anh em

Đồng chung một bọc, cùng tên Đồng Bào

Đấng thiêng liêng khắp cùng tạo hóa

Thường hiển linh cứu vớt cháu con

Hóa thân vô số vô biên

Huyền thông ẩn hiện, Phật, Tiên, Thánh, Thần

Tùy phương tiện giảng truyền chánh giáo

Đạo nhơn luân dìu dắt nhơn sanh

Trở về nguồn cội Cha Ông

Thoát vòng sanh tử Đại Đồng tự do

Đấng Cửu Huyền Trời Cha cao cả

Thân đại đồng một thể khắp cùng

Không sanh không diệt ung dung

Không cấu không nhiễm vô cùng oai linh

Thân Trời Cha hư không vô tận

Thể vô vi trong sạch không không

Chân tâm chân tánh chân như

Bao trùm hết thảy không gian đất trời

Nền thất giáo vốn là Nhơn Giáo

Cũng từ đây chuyển hóa lập nên

Nhơn luân Đại Đạo vô biên

Con đường giải thoát truy nguyên Cội Nguồn

Cũng là cửa cuối cùng an nghỉ

Khi bước vào cởi bỏ hết ra

Thân tâm rỗng lặng tự nhiên

Hòa cùng vũ trụ bản nguyên Đại Đồng

Nền nhơn giáo Cội Nguồn thất giáo

Đấng cửu huyền truyền bá xa xưa

Lưu truyền cho đến ngày nay

Phật, Tiên, Thánh, Chúa có ra từ người

Đức Long Hoa Cửu Huyền Tiên Tổ

Đấng oai linh vận chuyển hư không

Vận hành xoay chuyển tam thiên

Đi vào ổn định hiệp theo luật trời

Cũng vì cứu con người thoát hiểm

Đạo chơn truyền phát triển nhơn luân

Mặt trời văn hóa tối cao

Đại đồng chũ nghĩa ra vào tự do

Đức Cha Trời Long Hoa Tiên Tổ

Từ vô vi vận chuyển hữu vi

Dưỡng nuôi sự sống khắp nơi

Côn trùng, thảo, mộc, đất trời sanh linh

Đức Cửu Huyền Cha chung hết thảy

Quyền tối cao cai quản hồn linh

Quỷ, Thần, Chúa, Phật, Thánh, Tiên

Đều là con cái Cửu Huyền xưa nay

Đức Cửu Huyền pháp thân trong sạch

Thể vô vi cùng tận hư không

Tạo ra cam lộ thiên tiên

Dưỡng nuôi hết thảy hồn linh vạn loài

Đức Cửu Huyền Cha Trời vũ trụ

Đấng tối cao bất diệt thường còn

Hòa trong tâm thức cháu con

Hộ trì huệ mạng bảo tồn linh căn

Dùng quyền phép khai thông chơn lý

Đạo và Đời một gốc tồn sanh

Đại Đồng cuộc sống tự nhiên

Ngôi nhà vũ trụ vô biên tột cùng

Đức Trời Cha Cửu Huyền Tiên Tổ

Dụng pháp thân trì giữ âm dương

Để cho vạn vật khởi sanh

Khắp đầy lúc nhúc của muôn vạn loài

Vận thần lực duy trì vũ trụ

Tạo điện năng hội tụ chuyển luân

Làm cho nhật nguyệt sáng soi

Tuần hoàn động chuyển lập lên ngày giờ

Rồi từ đó bốn mùa hiện rõ

Tháng cùng năm theo đó hình thành

Quá khứ hiện tại lai sanh

Tuần hoàn tiến hóa hình thành hợp tan

Máy tạo hóa siêu nhiên tột bực

Đủ thành phần tổng hợp diệu kỳ

Cha Trời điều khiển chủ trì

Đi vào Thiên Luật hiệp thời Ý Thiên

Nền chánh giáo lưu truyền xuống thế

Để cho người giải thoát hồn linh

Lìa xa tội lỗi ác gian

Siêu sanh thiên giới, thiên đàng tự do

Nhân đã tốt hết lo họa tới

Đạo đã gần thất giáo tự thông

Trở về Nguồn Cội Cha Ông

Lên ngôi Chánh Giác thoát vòng trầm luân

Nam Mô A Men

*     *     *

TỤNG ĐỌC LONG HOA BÁT NHÃ TÂM KINH.

(trang số: 274 - 281)

--------------------------------------------------

2 - VĂN KHẤN MÙNG 2 TẾT NGUYÊN ĐÁN

(gõ 1 tiếng chuông để mở đầu Nghi Lễ)

CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:

NAM MÔ KHAI HÓA TỐI THƯỢNG TỔ TIÊN VÔ BIÊN NHƯ LAI. A MEN (gõ chuông - lạy).

CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:

NAM MÔ LONG HOA CỬU HUYỀN THIÊN PHỤ ẤN QUANG TỐI THẮNG NHƯ LAI. A MEN (gõ chuông - lạy).

CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:

NAM MÔ TIÊN CƠ ĐỨC MẸ ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH NHƯ LAI. A MEN (gõ chuông - lạy).

CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:

NAM MÔ ĐỨC HƯ KHÔNG TẠNG DIỆU KHÔNG VÔ BIÊN NHƯ LAI. A MEN (gõ chuông - lạy).

CON THÀNH TÂM KÍNH LẠY 100 ÔNG BÀ TIÊN TỔ, CHƯ HƯƠNG LINH GIA TIÊN TIỀN TỔ NỘI NGOẠI. (lạy)

CON THÀNH TÂM KÍNH BÁI PHẬT THÁNH TIÊN THẦN CHÚA KHẮP PHÁP GIỚI MƯỜI PHƯƠNG (bái).

Hôm nay là ngày Mùng 2 Tết Nguyên Đán, năm.....

Gia đình chúng con gồm có các thành viên:.....

 Ở tại địa chỉ:

Xóm/ Đường:..... Thôn/ Tổ dân phố:..... Xã/ Phường:..... Quận/ Huyện:..... Tỉnh/ Thành phố:..... Nước Việt Nam.

Dốc lòng thành khẩn, thành kính, thành tâm dâng lên: nhang, đèn, hương, hoa, nước, trà, quả, bánh, cơm canh… thanh tịnh cúng dường.

Trước là phụng báo:

+ Khai Hóa Tổ Tiên

+ Cha Trời Lạc Long Quân.

+ Địa Mẫu Âu Cơ

+ Long Hoa Giáo Tổ, Di Lặc, Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương, 100 Ông Bà Tiên Tổ.

Sau là tưởng nhớ tới công ơn của chư hương linh gia tiên tiền tổ nội ngoại.

Ngưỡng mong ơn trên Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu, Đức Quốc Tổ Hùng Vương, Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới mười phương. Ba thời, quá khứ, hiện tại, vị lai. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ.

Chứng tri công đức ban xuống ân sâu. Hộ độ chúng con, năm mới bình an, thịnh vượng, cháu con hiếu thuận, thông minh sáng láng, gia đình yên vui, hạnh phúc.

NAM MÔ A MEN

*     *     *

VIỆT NAM

Việt Nam tỏ rạng ánh hồng tươi

Văn hóa mùa xuân khúc nhạc cười

Tiếng nhạc bổng trầm khai ý rạng

Non sông khởi sắc trổ xuân tươi

Dân giàu nước mạnh phun châu ngọc

Rồng Tiên hội tụ trải đức phơi

Độc Lập Tự Do niềm cường thịnh

Địa linh vũ trụ trổ Ông, Tôi.

*     *     *

TRỜI LÊN

Trời lên lộ bóng quang đầy

Nước non Quốc Đạo chuyển xoay vạn loài

Việt nam văn hóa đài cao rộng

Hiếu trung bay đến tận Trời Cha

Việt Nam kết trái đơm hoa

Muôn dân ngộ đức bài ca thanh bình

Khai Nguồn Cội dân tình no ấm

Đường lên mây tỏa sáng Văn Lang

Vua Hùng mở lối quy nguyên

Năm châu, bốn biển bình yên một nhà.

*     *     *

KINH CHÚ

Nam Mô Khai Hóa Tổ Tiên

Hiện Thân Hai Đấng Cửu Huyền Tối Cao

Sanh Ra Nhân Loại Con Người

Ông Bà, Cha Mẹ, Đến Thời Chúng Con

A MEN

*     *     *

KINH CẦU NGUYỆN

Dâng hương lễ lạy Cửu Huyền

Hiển linh gia hộ khắp miền cháu con

Huệ khai phước lộc đầy tràn

Gia đình hòa thuận, cháu con sum vầy

*     *     *

CHÚ NGUYỆN

Nguyện cho tất cả thế nhân

Sớm lên tiên giới sớm gần Mẹ Cha

Sớm gần cội gốc Long Hoa

Về nơi giải thoát vào nhà rồng tiên

*     *     *

NAM MÔ A MEN (lạy 4 lạy, bái 4 bái)

*     *     *

KHAI KINH KỆ

 

Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu

Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu

Nay con gặp đặng chuyên trì tụng

Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu.

*     *     *

TỤNG ĐỌC LONG HOA VÔ NGẠI ĐẠI BI THẦN CHÚ

(trang số: 254 - 273)

*     *     *

Mùng 1 Tết Cha

Mùng 2 Tết Mẹ.

Mẹ là Mẹ Mẫu Âu Cơ

Chở che nuôi dưỡng càn khôn vô cùng

Tình mẹ sưởi ấm Tiên Rồng

Chánh thân Địa Mẫu - Mẹ Trời Âu Cơ

À ơi con cháu Rồng Tiên

Âu Cơ một bọc Đồng Bào anh em

Âu Cơ lòng Mẹ rộng dung

Tấm lòng Địa Mẫu biết bao nhân từ

Người Mẹ Vũ Trụ con người

Người Mẹ nhân loại khắp thời nhân sinh

Mẹ Âu Cơ, Mẹ Âu Cơ

Sao Trời không đủ, kể ơn sanh thành

Loài người mãi mãi vang danh

Con Trời Địa Mẫu, giống nòi Rồng Tiên

Mẹ là tất cả trên đời

Là nguồn sức sống khắp thời nhân sinh

Mẹ thương con cháu Rồng Tiên

Suối ngàn chảy mãi, liên miên chẳng dừng

Mẹ là Đức Mẹ đại từ

Yêu thương hết thảy Đồng Bào cháu con

Yêu thương nhân loại thế gian

Năm màu da cùng cội, ngũ chi một nhà

Mẹ Âu Cơ, tình thương rộng lớn

Khắp nhân loài, cùng khắp thế gian

Lòng Địa Mẫu, Âu Cơ chăm sóc

Khắp linh hồn, vạn ức linh căn

Mẹ Âu Cơ, Mẹ Trời trên hết

Đức Mẹ Trời, người Mẹ nào hơn

Nay chúng con, nương về Cội Gốc

Địa Mẫu Mẹ Trời, Địa Mẫu Âu Cơ

Mẹ chư Thiên, cũng là Mẹ nhân thế

Người Mẹ tối cao, cứu vớt chúng con

Nam Mô A Men

*     *     *

TỤNG ĐỌC LONG HOA BÁT NHÃ TÂM KINH.

(trang số: 274 - 281)

--------------------------------------------------

3 - VĂN KHẤN MÙNG 3 TẾT NGUYÊN ĐÁN

(gõ 1 tiếng chuông để mở đầu Nghi Lễ)

CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:

NAM MÔ KHAI HÓA TỐI THƯỢNG TỔ TIÊN VÔ BIÊN NHƯ LAI. A MEN (gõ chuông - lạy).

CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:

NAM MÔ LONG HOA CỬU HUYỀN THIÊN PHỤ ẤN QUANG TỐI THẮNG NHƯ LAI. A MEN (gõ chuông - lạy).

CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:

NAM MÔ TIÊN CƠ ĐỨC MẸ ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH NHƯ LAI. A MEN (gõ chuông - lạy).

CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:

NAM MÔ ĐỨC HƯ KHÔNG TẠNG DIỆU KHÔNG VÔ BIÊN NHƯ LAI. A MEN (gõ chuông - lạy).

CON THÀNH TÂM KÍNH LẠY 100 ÔNG BÀ TIÊN TỔ, CHƯ HƯƠNG LINH GIA TIÊN TIỀN TỔ NỘI NGOẠI. (lạy)

CON THÀNH TÂM KÍNH BÁI PHẬT THÁNH TIÊN THẦN CHÚA KHẮP PHÁP GIỚI MƯỜI PHƯƠNG (bái).

Hôm nay là ngày Mùng 3 Tết Nguyên Đán, năm.....

Gia đình chúng con gồm có các thành viên:.....

Ở tại địa chỉ:

Xóm/ Đường:..... Thôn/ Tổ dân phố:..... Xã/ Phường:..... Quận/ Huyện:..... Tỉnh/ Thành phố:..... Nước Việt Nam.

- Dốc lòng thành khẩn, thành kính, thành tâm dâng lên: nhang, đèn, hương, hoa, nước, trà, quả, bánh, cơm canh… thanh tịnh cúng dường.

Trước là phụng báo:

+ Khai Hóa Tổ Tiên

+ Cha Trời Lạc Long Quân.

+ Địa Mẫu Âu Cơ

+ Long Hoa Giáo Tổ, Di Lặc, Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương, 100 Ông Bà Tiên Tổ.

Sau là tưởng nhớ tới công ơn của chư hương linh gia tiên tiền tổ nội ngoại.

Ngưỡng mong ơn trên Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu, Đức Quốc Tổ Hùng Vương, Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới mười phương. Ba thời, quá khứ, hiện tại, vị lai. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ.

Chứng tri công đức ban xuống ân sâu. Hộ độ chúng con, năm mới bình an, thịnh vượng, cháu con hiếu thuận, thông minh sáng láng, gia đình yên vui, hạnh phúc.

NAM MÔ A MEN

*     *     *

VIỆT NAM

Việt Nam tỏ rạng ánh hồng tươi

Văn hóa mùa xuân khúc nhạc cười

Tiếng nhạc bổng trầm khai ý rạng

Non sông khởi sắc trổ xuân tươi

Dân giàu nước mạnh phun châu ngọc

Rồng Tiên hội tụ trải đức phơi

Độc Lập Tự Do niềm cường thịnh

Địa linh vũ trụ trổ Ông, Tôi.

*     *     *

TRỜI LÊN

Trời lên lộ bóng quang đầy

Nước non Quốc Đạo chuyển xoay vạn loài

Việt nam văn hóa đài cao rộng

Hiếu trung bay đến tận Trời Cha

Việt Nam kết trái đơm hoa

Muôn dân ngộ đức bài ca thanh bình

Khai Nguồn Cội dân tình no ấm

Đường lên mây tỏa sáng Văn Lang

Vua Hùng mở lối quy nguyên

Năm châu, bốn biển bình yên một nhà.

*     *     *

KINH CHÚ

Nam Mô Khai Hóa Tổ Tiên

Hiện Thân Hai Đấng Cửu Huyền Tối Cao

Sanh Ra Nhân Loại Con Người

Ông Bà, Cha Mẹ, Đến Thời Chúng Con

A MEN

*     *     *

KINH CẦU NGUYỆN

Dâng hương lễ lạy Cửu Huyền

Hiển linh gia hộ khắp miền cháu con

Huệ khai phước lộc đầy tràn

Gia đình hòa thuận, cháu con sum vầy

*     *     *

CHÚ NGUYỆN

Nguyện cho tất cả thế nhân

Sớm lên tiên giới sớm gần Mẹ Cha

Sớm gần cội gốc Long Hoa

Về nơi giải thoát vào nhà rồng tiên

*     *     *

NAM MÔ A MEN (lạy 4 lạy, bái 4 bái)

*     *     *

KHAI KINH KỆ

Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu

Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu

Nay con gặp đặng chuyên trì tụng

Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu.

*     *     *

TỤNG ĐỌC LONG HOA VÔ NGẠI ĐẠI BI THẦN CHÚ

(trang số: 254 - 273)

*     *     *

Mùng 1 Tết Cha

Mùng 2 Tết Mẹ.

Mùng 3 Tết Thầy.

NHƠN GIÁO

Thuở xa xưa Tiên Rồng, Địa Mẫu

Truyền nhơn luân dạy bảo cháu con

Làm cho cuộc sống bình yên

Gia đình, họ tộc, nước non thuận hòa

Pháp đã sanh Luật đành phải có

Muốn bình yên phải rõ đường đi

Đó là Nguồn Cội nguyên y

Cội nền Nhơn Giáo đỉnh thi Đạo Trời

Đạo làm người sáng ngời vô tận

Luật thiên chân biến hiện trả vay

Ở trong tâm thức xưa nay

Duy trì sanh tử đọa đày thoát siêu

Đạo Tối Cao ẩn tàng nhơn giáo

Có đạo rồi tiết tháo đứng đi

Đối nhân xử thế uy nghi

Khiêm hòa, nhân nghĩa, lễ nghi song hành

Gốc nhơn giáo thuận hòa chủ yếu

Đức cho thông thời thấu võ văn

Huyền vi vô tận siêu nhiên

Chủ trì cuộc sống làm nên nghiệp trời

Lòng giác ngộ không gì sánh kiệp

Ngọc báu châu vàng bạc nào bằng

Dù cho ức vạn sang giàu

Cũng không sánh được đạo người nhân luân

Nền Nhơn Giáo sáng bừng chân lý

Lìa ác gian thời thấy trời xanh

Vào ngô Chánh Giác Chân Như

Phật, Tiên, Thánh, Chúa từ đây lạ gì

Từ kim cổ loài người, sau trước

Đạo làm người vẩn thế xưa nay

Nhơn Giáo đạo pháp sâu xa

Con đường hạnh phúc rạng danh con người

Nền Nhơn Giáo Cội Nguồn bình đẳng

Thể dung hòa một thể trước sau

Cho nên đối đãi với nhau

Dĩ hòa vi quí trước sau giữ gìn

Đức Cha Trời ban truyền Nhơn Giáo

Để cho người xử thế tu thân

Gia đình, xã hội, nước non

Bình yên hạnh phúc giàu sang, sang giàu

Thuận thiên ý duy trì nhơn giáo

Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa là đây

Một gốc nhiều nhánh nên cây

Chung cùng một cội trổ đầy sum suê

*     *     *

NGƯỜI THẦY

Thầy vẫn ngày đêm, cứu thế Nhân

Qua từng chữ viết, chữ từng trang

Văn Kinh vũ trụ, nền Thiên Ý

Lời Trời truyền dạy, lời Trời Ban

Đã mấy mươi năm, thầy vẫn thế

Cực khổ trăm bề, những gian nan

Hỏi mây, mây cũng ngừng im lắng

Núi sông nhìn mãi, ánh hào quang

Tình thầy mênh mông, ôi rộng lớn

Đem về hơi ấm, khắp nhân gian

Sống dậy anh linh, nền Quốc Giáo

Cội Nguồn Truyền Thống, của nước Nam

Thầy ơi thầy hãy, nghe con nói

Từ trái tim yêu, của chúng con

Trái tim từ lâu, đà khô héo

Giờ đây tươi tốt, nở đơm bông

Nước thương, non nhớ, thầy biết mấy

Sông dài biển rộng, giỡi lòng son

Lời thầy đã thấm, cùng mặt đất

Núi ngọc rừng châu, khắp nước non

Mặt trời chân lý, soi hồn nước

Người Thầy, thầy cả khắp thế gian

Người thầy đáng kính, cùng thế giới

Mãi mãi trong lòng, của chúng con

Hoa râm tóc bạc, đà lốm đốm

Mặt Trời xế bóng, lặng tây non

Trường đời nhớ mãi, người truyền giáo

Lặng lẽ âm thầm cứu thế Nhân

*     *     *

NHỚ ƠN TỔ THẦY

Nghe Kinh giáo sụt sùi thầm khóc

Thầy là người thương xót thế gian

Vì người, Thầy khổ vô ngàn

Truyền kinh giáo hóa, dạy dân đường lành

Thuở xa xưa Vua Hùng dựng nước

Năm nghìn năm soi bước Rồng Tiên

Trời Nam muôn đức vạn hiền

Địa linh nhân kiệt khắp miền oai linh

Nhìn Thầy Tổ quên mình vì nước

Một cuộc đời chẳng biết sướng vui

Mải lo cứu nước cứu đời

Đem về ánh sáng mặt trời cho dân

Đời gian khổ muôn lần hành hạ

Mời xuống lên đày đoạ dã man

Thầy nào có oán thở than

Nhất tâm nhịn nhục cứu đàn con thơ

Đời sóng gió bên bờ vực thẳm

Súng chĩa đầu cũng lắm hiểm nguy

Mà Thầy vẫn cứ bước đi

Cứu con cứu cháu kể gì xác thân

Gươm kề cổ bao lần sống chết

Ba mươi năm lửa đốt dầu sôi

Trên đao dưới búa đã rồi

Còn thêm kìm kẹp một trời lưới giăng

Thầy là người thiện lương nhơn đức

Xuống trần gian cứu nước cứu dân

Đầu thai kiếp sống thanh bần

Sống đời nghèo khổ chỉ cần đủ no

Đường sống chết chẳng lo chi cả

Tháng cùng năm vội vã ra kinh

Mở đường mở cả mùa Xuân

Cho non cho nước lẫy lừng hùng anh

Nghe kinh giáo lòng sanh kính mến

Công Tổ Thầy đã đến với dân

Kinh luân nền móng tinh thần

Cho người thoát kiếp phàm trần lên Tiên

Ôi công đức vô biên vời vợi

Tấm lòng thành ca ngợi công ân

Xin Thầy chứng chút lòng trần

Cho con thêm được chút phần công lao

Ôi thương mến, Tổ Thầy thương mến

Ơn Tổ Thầy, cùng khắp thế gian

Chúng con nay khắp chúng con

Một lòng thành kính biết ơn vô cùng

Người để lại biển trời Kinh Giáo

Để cho đời, tìm đến mùa xuân

An vui hạnh phúc bình yên

Mãn trần Hồn được siêu lên thiên đàng

Thầy cứu người không vì danh lợi

Tháng cùng năm yên lặng chuyển luân

Chuyển xoay non nước, nước non

Vượt qua dông bão đến nơi yên bình

Ơn Thầy Tổ, biển trời khó trả

Chỉ tỏ lòng Hiếu Nghĩa dâng lên

Xin Thầy chứng giám chúng con

Đời đời kiếp kiếp nguyện theo chân Thầy.

Nam Mô A Men

*     *     *

TỤNG ĐỌC LONG HOA BÁT NHÃ TÂM KINH.

(trang số: 274 - 281)

--------------------------------------------------

4 - CÚNG DÂNG SAO NGÀY RẰM THÁNG GIÊNG

(Có từ thời Quốc Tổ Hùng Vương)

*     *     *

HÀNG NĂM ĐÚNG 8H TỐI VÀO NGÀY 15/1 ÂM LỊCH ĐẠI GIA ĐÌNH CON LẠC CHÁU HỒNG, CON RỒNG CHÁU TIÊN DÂNG HƯƠNG HOA, TRÀ, QUẢ LÊN CÁC VỊ THẦN CHỦ QUẢN CHÍN CHÙM SAO CHIẾU LÊN CUNG MẠNG NĂM TUỔI CON NGƯỜI. COI NHƯ TRƯỚC LÀ TẠ ƠN BA NGÔI TỐI CAO: TỔ TIÊN KHAI HÓA, CHA TRỜI, ĐỊA MẪU, SAU LÀ TẠ ƠN CÁC VỊ THẦN CAI QUẢN CHÍN CHÙM SAO ĐÃ PHÙ HỘ CHE CHỞ TAI QUA NẠN KHỎI VÀ BAN PHƯỚC LÀNH ĐẾN: TRƯỚC TIÊN LÀ GIA ĐÌNH, DÒNG HỌ NỘI NGOẠI BÊN CHỒNG CŨNG NHƯ BÊN VỢ, SAU LÀ CON CHÁU LẠC HỒNG, CON RỒNG CHÁU TIÊN ĐỒNG BÀO TRONG NƯỚC CŨNG NHƯ NGOÀI NƯỚC.

*     *     *

Việt Nam Quốc..... Tỉnh/ Thành phố..... Quận/ Huyện..... Phường/ Xã..... Tổ dân phố/ Ấp/ Thôn.

(gõ 1 tiếng chuông để mở đầu Nghi Lễ)

Chí Tâm đảnh lễ

Nam Mô Khai Hóa Tối Thượng Tổ Tiên Vô Biên Như Lai (gõ chuông - lạy).

Chí Tâm đảnh lễ

Nam Mô Long Hoa Cữu Huyền Thiên Phụ Ấn Quang Tối Thắng Như Lai (gõ chuông - lạy).

Chí Tâm đảnh lễ

Nam Mô Tiên Cơ Đức Mẹ Địa Mẫu Dưỡng Sanh Như Lai (gõ chuông - lạy).

Chí Tâm đảnh lễ

Nam Mô Đức Hư Không Tạng Diệu Không Vô Biên Như Lai (gõ chuông - lạy).

Dâng hương cúng lạy Cửu Huyền

Hiển linh gia hộ khắp miền cháu con

Của tiền phước lộc đầy tràn

Anh em hòa thuận cháu con sum vầy.

Chí Tâm cung thỉnh

Nhật Ưng Thái Dương Thiên Tử Tinh Quân Thiên Đình Uất Ly Cung Đại Thánh, Đang Nguyên Hải, Nhật Cung Thái Dương Tinh Quân vị tiến (bái).

Chí Tâm cung thỉnh

Nguyệt Cung Âm Hoàng Hậu Tinh Quân Thiên Đình Kiết Lâu Cung Đại Thánh, Tổ Diệu Nguyệt Thái Âm Tinh Quân vị tiến (bái).

Chí Tâm cung thỉnh

Đông Phương, Giáp - Ất, Mộc Đức Tinh Quân Thiên Đình Thánh Vân Cung Đại Thánh, Trùng Quan Mộc Đức Tinh Quân vị tiến (bái).

Chí Tâm cung thỉnh

Nam Phương, Bính - Đinh, Thiên Đình Minh Lý Cung Đại Thánh, Hòa Đức Vân Hán Tinh Quân vị tiến (bái).

Chí Tâm cung thỉnh

Tây Phương, Cang - Tân, Kim Đức Thái Bạch Thiên Đình Hạc Linh Cung Đại Thánh, Kim Đức Thái Bạch Tinh Quân vị tiến (bái).

Chí Tâm cung thỉnh

Bắc Phương, Nhâm - Quý, Thủy Đức Kim Nữ Cung Đại Thánh, Thùy Duyên Tinh Quân vị tiến (bái).

Chí Tâm cung thỉnh

Trung Ương, Mậu - Kỷ, Thổ Đức Tinh Quân Cung Đình Hoàng Trung Đại Thánh, Thổ Địa, Địa La Thổ Tú Tinh Quân vị tiến (bái).

Chí Tâm cung thỉnh

Thiên Cung Thìn Thủ La Hầu Đại Thánh, Thiên Đình Thánh Thủ Tinh Quân vị tiến (bái).

Chí Tâm cung thỉnh

Thiên Cung Phân Vĩ Kế Đô Tinh Quân Thiên Đình Bảo Vi Cung Đại Thánh, Kế Đô Tinh Quân vị tiến (bái).

Chúng con: Là những cháu con, đệ tử, nơi chốn nhân gian thành tâm lễ bái thỉnh cầu Cửu Diệu Tinh Quân Đại Thánh ban phúc lành giảm họa tai, tật ách, khổ nạn, buồn rầu, ốm đau, bệnh tật, ám muội, thị phi. Cầu xin Cửu Diệu Tinh Quân Đại Thánh ban phúc lành, làm ăn phát đạt, vạn sự may mắn, thuận buồm xuôi gió, gia đình hạnh phúc, con cháu yên vui, thông minh sáng láng.

Nguyện cầu ơn trên chứng giám. Kính bái.

Ly bà ly bà đế, cầu ha cầu ha đế

Đa ra ni đế, ni ha ra đế, tỳ lê nể đế

Ma ha già đế, chơn lăng càng đế

Ta Bà Ha.

Thiên la thần, địa la thần, thân ly nạn, nạn ly thân, nhất thiết tai ương hóa vi trần.

Đệ tử, cháu con, chúng con gồm những người sau đây:.....

Ngày..... Tháng Giêng Năm.....

SAU KHI CUNG THỈNH CÁC VỊ THẦN XONG NHỮNG NGỌN ĐÈN SẼ ĐƯỢC THẮP SÁNG NHƯ SƠ ĐỒ HÌNH VẼ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(liền sau đó là sơ đồ sao hình bát quái với 32 ngọn nến)

C:\Users\HP\Downloads\hình cúng sao.png

TIẾP THEO LÀ ĐỒNG CÙNG ĐỌC

QUANG LINH KINH CHÚ

Thắp đèn cúng khắp vì sao

Sáng Trời sáng Đất sáng tiêu tội tình

Thắp đèn thắp sáng hồn linh

Sáng bừng trí tuệ sáng lên yên hòa

Thắp đèn thắp sáng cả nhà

Sáng bừng con cháu sáng là văn minh

Sáng bừng trong ấm ngoài êm

Sáng dòng sáng họ sáng Ông sáng Bà

Đèn sao thắp cúng Trời Cha

Thánh, Thần, Tiên, Phật cùng là Tổ Tiên

Đèn sao sáng khắp thiêng liêng

Giải trừ tai họa sáng lên sang giàu

Giải trừ bệnh tật ốm đau

Sáng lên Phúc, Thọ sang giàu triền miên

Đèn sao cháy sáng linh linh

Sáng cho Gia Đạo bình yên đời đời

Sáng lên ánh sáng rạng ngời

Xóa đi tăm tối cuộc đời trầm luân

Xóa đi mê dại ngu si

Sáng bừng trí huệ hiển vinh cuộc đời

Đèn sao sáng khắp bầu trời

Xóa đi nghèo đói vạn đời ấm no

Đèn tâm, đèn trí, đèn sao

Đèn lòng sáng khắp giải nào khốn nguy

Đèn nhân, đèn nghĩa từ bi

Đèn trung, đèn hiếu sáng lên rạng ngời

Sáng bừng đại nghĩa khắp thời

Cho non cho nước rạng ngời hoa xuân

Thắp đèn thắp sáng thế gian

Sáng bừng nhân thế tiêu tan hận thù

Sáng bừng con cháu Tiên Rồng

Vượt qua khốn khổ lẫy lừng năm châu

Đèn sao sáng khắp vì sao

Ứng linh, linh ứng chuyển xoay vận thời

Lửa thiên lửa của nhà Trời

Bừng lên sự sống cho đời ấm êm

Đèn sao thắp sáng dâng lên

Cúng dường Cửu Diệu Tinh Quân Thánh Thần

Cầu cho Đất Nước yên bình

Cầu cho Gia Đạo vạn lành tai qua

Đèn sao thắp sáng gần xa

Sáng Trời, sáng Đất, sáng soi lòng thành

Thánh Thần chứng giám tấm lòng

Chứng tri công đức cúng dường chúng con.

NAM MÔ KHAI HÓA TỔ TIÊN (lạy)

NAM MÔ LONG HOA CỬU HUYỀN (lạy)

NAM MÔ TIÊN CƠ ĐỊA MẪU (lạy)

Chứng tri công đức cúng dường chúng con

ÁN TẤT ĐẾ HỘ RÔ RÔ, TẤT ĐÔ RÔ, CHỈ RỊ BA, KIẾT RỊ BÀ TẤT ĐẠT RỊ, BỐ RÔ RỊ, TA PHẠ HA.

--------------------------------------------------

5 - VĂN KHẤN GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG (10/ 03 ÂM LỊCH).
TẠI BÀN THỜ GIA TIÊN

 (gõ 1 tiếng chuông để mở đầu Nghi Lễ)

CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:

NAM MÔ KHAI HÓA TỐI THƯỢNG TỔ TIÊN VÔ BIÊN NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).

CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:

NAM MÔ LONG HOA CỬU HUYỀN THIÊN PHỤ ẤN QUANG TỐI THẮNG NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).

CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:

NAM MÔ TIÊN CƠ ĐỨC MẸ ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).

CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:

NAM MÔ ĐỨC HƯ KHÔNG TẠNG DIỆU KHÔNG VÔ BIÊN NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).

CON THÀNH TÂM KÍNH LẠY 100 ÔNG BÀ TIÊN TỔ, CHƯ HƯƠNG LINH GIA TIÊN TIỀN TỔ NỘI NGOẠI. (lạy)

CON THÀNH TÂM KÍNH BÁI PHẬT THÁNH TIÊN THẦN CHÚA KHẮP PHÁP GIỚI MƯỜI PHƯƠNG (bái).

Hôm nay là ngày giỗ Quốc Tổ Hùng Vương về Trời, nhằm ngày..... tháng..... năm.....

Gia đình chúng con ở tại địa chỉ:

Xóm/ Đường:..... Thôn/ Tổ dân phố:..... Xã/ Phường:..... Quận/ Huyện:..... Tỉnh/ Thành phố:..... Nước Việt Nam.

- Phụng báo:

+ Khai Hóa Tổ Tiên

+ Cha Trời Lạc Long Quân.

+ Địa Mẫu Âu Cơ

+ Long Hoa Giáo Tổ, Di Lặc, Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương, 100 Ông Bà Tiên Tổ.

Chứng tri công đức trì tụng Văn Giáo Kinh Luân. Nguyện cầu ơn trên, Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu, Đức Quốc Tổ Hùng Vương, hộ độ chúng con, vạn sự bình an. Tai qua nạn khỏi, căn lành tăng trưởng. Tinh thần minh mẫn, sáng láng thông minh, hành trì chánh giáo, thuận theo Thiên Ý, hóa độ nhân sanh, anh em khắp cùng thế giới. Mang lại cuộc sống an vui, giàu sang, hạnh phúc.

*     *     *

NAM MÔ A MEN (lạy 4 lạy, bái 4 bái)

*     *     *

SÁM KINH

Quốc Tổ Anh Linh khó nghĩ bàn

Xuống trần khai Đạo cứu thế gian

Nay con thành kính xưng danh tụng

Phổ hóa lời kinh Quốc Đạo Tràng

Trước ảnh tượng Tiên Rồng chóa sáng

Lạc Long Quân cùng với Âu Cơ

Cha Trời Địa Mẫu Tối Cao

Uy Linh tột đỉnh trùm bao uy quyền

Với lòng dạ chí thành cung kính

Xin Trời Cha chứng giám công lao

Thành tâm lễ bái công ơn

Sanh thành dưỡng dục tạo nên muôn loài

Ngày Đại Lễ vang lừng Giỗ Tổ

Khắp cháu con hoa quả dâng lên

Một lòng nhớ đến công ơn

Khai cơ dựng nước dựng lên sơn hà

Ơn Quốc Tổ không gì sánh được

Truyền chân kinh tận độ chúng dân

Lập lên đất nước Văn Lang

Văn Minh hùng mạnh thế gian ai bì

Ơn Quốc Tổ thấm nhuần con cháu

Năm nghìn năm Văn Hiến vinh quang

Văn Lang Bách Việt chúng dân

Đời đời ghi nhớ công ơn của người

Ngày giỗ Tổ tựu tề đông đủ

Đèn, hương, hoa, trà, quả kính dâng

Tỏ lòng thành kính tri ân

Công lao Quốc Tổ không ai hơn người

Nền Quốc Đạo sáng ngời chân lý

Ơn Vua Hùng truyền giáo khai kinh

Công ơn trời biển công ơn

Nói sao cho tận kể sao cho cùng

Ngày Giỗ Tổ chí thành lễ bái

Xin bề trên chứng giám công lao

Khí Thiêng sông núi khắp nơi

Hồn Thiêng dân tộc vạn đời chở che

Là dân tộc Rồng Tiên Hồng Lạc

Vốn giống dân Hồng Ngọc uy linh

Giống dân Trung Hiếu Nghĩa Nhân

Không quên Nguồn Cội không quên giống nòi

Chúng con ý thức được rằng

Như cây có Cội nở nhành nở hoa

Nước kia không cạn vì sao

Còn Nguồn còn Cội đầy sông đầy hồ

Loài Chim có Tổ trường tồn

Loài người có Cội Tiên Rồng uy linh

Dân Tộc Việt năm nghìn năm truyền thống

Trải bao đời tiếp nối đến hôm nay

Giữ gìn bồi đắp dựng xây

Cho non cho nước nở đầy nhành xuân

Nền Văn Hiến lẫy lừng con cháu

Rạng hùng anh tỏa sáng Cha Ông

Rồng Tiên phấp phới cao bay

Năm châu bốn bể đấp xây hòa bình

Nước Việt Nam đại gia đình dân tộc

Thể Đồng Bào luôn đùm bọc lẫn nhau

Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Người trong một nước phải thương nhau cùng

Lá rách nương nhờ lá lành

Tinh thần đoàn kết bao đời khó phai

Anh Em như thể chân tay

Như chim liền cánh như cây liền cành

Ngày Giỗ Tổ hương trầm thơm ngát

Lời kệ kinh thấu suốt Tam Thiên

Kết thành cam lộ vô biên

Thấm nhuần hết thảy ức muôn vạn loài

Xin Tổ Tiên, Cha Trời, Địa mẫu

Cùng Vua Hùng Quốc Tổ anh linh

Hồn Thiêng sông núi chứng minh

Chứng tri công đức chúng con thọ trì

Nguyện cho đất nước an lành

Thái bình độc lập nở nhành giàu xuân.

*     *     *

TỤNG ĐỌC LONG HOA VÔ NGẠI ĐẠI BI THẦN CHÚ.

(trang số: 254 - 273)

TỤNG ĐỌC 10 ĐẠI NGUYỆN CỦA QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG.

 (Cách đây khoảng 5000 năm, khi Ngài thành đạo, để mở cánh cửa Cội Nguồn, xem kinh Long Hoa Mật Tạng sẽ hiểu rõ hơn).

* - Nguyện thứ nhất:

Khi ta thành Đạo thời Đạo pháp của Trời sẽ tuôn chảy tưới nhuần các Châu Lục. Làm tươi trẻ Linh Hồn nhân loại, trí huệ đều được khai mở, thấu suốt Cội Nguồn vào pháp Đại Đồng Bình Đẳng tự chủ Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc.

* - Nguyện thứ hai:

Khi ta thành Đạo nước pháp Chân Lý, Công Lý, Đạo Lý của Trời sẽ biến thành Nước pháp Cam Lộ, cứu khổ cứu nạn làm vơi đi bao nỗi đau khổ. Khổ sinh, khổ tử, khổ già, khổ bệnh, khổ chia ly, khổ đói nghèo lạc hậu, khổ nỗi hàm oan, khổ áp bức, khổ nghịch cảnh, khổ tù đày, khổ Địa Ngục, khổ dốt dại ngu si. Biến tất cả những thống khổ ấy trở thành an vui an lạc cuộc đời.

* - Nguyện thứ ba:

Khi ta thành Đạo, thời Đạo pháp của Trời Linh ứng vào hàng bật nhất cầu chi đặng nấy. Chỉ cần việc ấy không trái lại lời dạy của Đức Cha Trời Chân Lý, Công Lý, Đạo Lý vũ trụ.

* - Nguyện thứ tư:

Khi ta thành Đạo, thời Đạo Trời biến thành Chủ Nghĩa Đại Đồng, không phân biệt màu da chủng tộc. Các Đảng phái, tôn giáo, các tầng lớp xã hội, giàu nghèo, sang hèn, Ác Thiện, hễ có cảm thì có ứng, có công thì có quả. Phàm Thánh cũng như nhau.

* - Nguyện thứ năm:

Khi ta thành Đạo, thời Đạo Trời thành Đạo Đại Đồng Bình Đẳng, Luật là Thầy, Đạo là Cha, Công Lý Hiến Pháp là Vua. Phàm, Thánh toàn nhân loại, đều đầy đủ các Quyền mà Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu đã ban tặng cho mỗi con người. Như Quyền tự do, Quyền Ngôn Luận, Quyền bình đẳng, Quyền sống, Quyền mưu cầu hạnh phúc, Quyền quyết định vận mệnh của mình. Nhất là Quyền được Hiến pháp, Luật pháp, Đạo pháp, Công Lý cho phép. Còn những Quyền, Hiến pháp, Luật pháp, Đạo pháp, Công Lý không cho phép, đó không gọi là Quyền mà là đi ngược lại lời dạy của Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu.

* - Nguyện thứ sáu:

Khi ta thành Đạo, thời Đạo Trời sẽ biến thành những món ăn tinh thần, chuyển hóa Căn Thân Huệ Mạng có công năng giải trừ vô lượng tội ác. Không còn sa đọa Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh. Sanh về Thiên giới, muốn ăn có ăn, muốn mặc có mặc, Lầu Đài Cung Điện đều theo ý muốn hiện ra. Sống mãi không chết không già không bệnh, không tử.

* - Nguyện thứ bảy:

Khi ta thành Đạo, thì Đạo Trời trôi chảy không ngừng hết tiểu kiếp này sang tiểu kiếp khác. Lưu chuyển khắp ta bà thế giới, khắp năm châu bốn biển, khắp hư không vũ trụ. Làm lợi ích mãi cho nhân loại con người.

* - Nguyện thứ tám:

Khi ta thành Đạo, thì Đạo Trời sẽ trở thành Quốc Đạo Chính Nghĩa của mỗi dân tộc, mỗi chủng tộc, mỗi màu da. Từ Địa Ngục, Trần Gian, Thiên Đàng. Đời Đạo là một dung hòa cuộc sống, Đời vì Đạo, Đạo là Đời tuy hai mà một, tuy một mà hai. Như Lửa và ánh sáng của Lửa.

* - Nguyện thứ chín:

Khi ta thành Đạo, thì Đạo Trời biến thành vô lượng quang ánh sáng soi đường cho nhân loại thoát khổ. Anh sáng Chân Lý, ánh sáng Công Lý, ánh sáng Đạo Đức, ánh sáng vật chất khoa học, vũ trụ, ánh sáng khoa học Tâm Linh Duy Thức chủng tánh, ánh sáng Đại Đồng Bình Đẳng, ánh sáng Chính Nghĩa công bằng văn minh, ánh sáng giải thoát Chánh giác, ánh sáng toàn năng toàn giác và còn vô lượng vô biên ánh sáng không thể tính đếm không thể nghĩ bàn soi đường chỉ lối cho nhân loại con người. Thấu suốt quá khứ tột cùng vị lai.

* - Nguyện thứ mười:

Khi ta thành Đạo, thì Đạo Trời trở thành Đại Đạo vũ trụ, Đạo Chung cho toàn nhân loại. Tam giáo Quy nguyên. Ngũ Chi hiệp nhất. Đồng Ngộ Chân Tánh. Đồng Thành Chánh Giác. Thanh tịnh hư không. Đại Đồng Bình Đẳng.

*     *     *

TỤNG ĐỌC LONG HOA BÁT NHÃ TÂM KINH.

(trang số: 274 - 281)

--------------------------------------------------

6 - VĂN KHẤN 5 THÁNG 5
NGÀY 100 ÔNG BÀ TỔ TỔ TỔ RA ĐỜI

 (gõ 1 tiếng chuông để mở đầu Nghi Lễ)

NAM MÔ KHAI HÓA TỐI THƯỢNG TỔ TIÊN VÔ BIÊN NHƯ LAI (gõ chuông - lạy).

NAM MÔ LONG HOA CỬU HUYỀN THIÊN PHỤ ẤN QUANG TỐI THẮNG NHƯ LAI (gõ chuông - lạy).

NAM MÔ TIÊN CƠ ĐỨC MẸ ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH NHƯ LAI (gõ chuông - lạy).

NAM MÔ A MEN

NAM MÔ ĐỨC HƯ KHÔNG TẠNG DIỆU KHÔNG VÔ BIÊN NHƯ LAI (gõ chuông - lạy)

CON THÀNH TÂM KÍNH LẠY 100 ÔNG BÀ TIÊN TỔ, CHƯ HƯƠNG LINH GIA TIÊN TIỀN TỔ NỘI NGOẠI. (lạy)

CON THÀNH TÂM KÍNH BÁI PHẬT THÁNH TIÊN THẦN CHÚA KHẮP PHÁP GIỚI MƯỜI PHƯƠNG (bái).

Hôm nay, nhằm ngày..... tháng..... năm....., chúng con nhớ đến ngày ĐỨC MẸ ĐỊA MẪU ÂU CƠ khai hoa nở nhuỵ, sanh ra Nhân Loại Con Người, 100 ÔNG BÀ TỔ TỔ TỔ năm màu da Nhân Loại Anh Em.

Gia đình chúng con gồm có các thành viên:.....

Ở tại địa chỉ:

Xóm/ Đường:..... Thôn/ Tổ dân phố:..... Xã/ Phường:..... Quận/ Huyện:..... Tỉnh/ Thành phố:..... Nước Việt Nam.

Đem lòng thành khẩn, thành kính, thành tâm dâng lên: nhang, đèn, hương, hoa, trà, quả... cúng dường.

Ngưỡng mong ơn trên.

+ Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu.

+ Long Hoa Giáo Chủ, Di Lặc, Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương, 100 Ông Bà Tiên Tổ.

+ Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới mười phương. Ba thời, quá khứ, hiện tại, vị lai. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ.

Chứng tri công đức ban xuống ân sâu. Hộ độ chúng con, vạn sự bình an. Khai tâm mở trí, sáng láng thông minh. Giác thành Đại Đạo.

Nguyện cầu cho đất nước Việt Nam sớm vượt qua vận hạn, hướng về Nguồn Cội, để sau này tạo ra vô số vô biên mạch nguồn trí huệ, tuôn chảy khắp cùng, cứu giúp nhân loại anh em, đồng sanh Thiên Giới.

*     *     *

NAM MÔ A MEN (lạy 4 lạy, bái 4 bái)

*     *     *

KHAI KINH KỆ

Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu

Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu

Nay con gặp đặng chuyên trì tụng

Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu.

*     *     *

TỤNG ĐỌC LONG HOA VÔ NGẠI ĐẠI BI THẦN CHÚ

(trang số: 254 - 273)

TỤNG ĐỌC KINH LONG HOA

(trang số: 243 - 253)

(nói về Cha Trời Mẹ Trời sanh ra nhân loại con người, xem Long Hoa Mật Tạng Kinh, Long Hoa Thiên Tạng Kinh sẽ nói rõ hơn).

TỤNG ĐỌC LONG HOA BÁT NHÃ TÂM KINH.

(trang số: 274 - 281)

--------------------------------------------------

7 - VĂN KHẤN RẰM THÁNG 7
TRONG NHÀ

a) Thế nào là bậc tiểu hiếu, trung hiếu và đại hiếu?

Như chúng ta đã biết, con người có hai phần, phần hồn và phần xác, vì thế trả hiếu cũng có hai cách: bằng con đường vật chất và bằng con đường tinh thần.

Tiểu Hiếu: Là phụng dưỡng các bậc bề trên, Ông Bà Cha Mẹ, bằng con đường vật chất như của cải, tiền tài, đồ ăn thức uống.

Trung Hiếu: Là ra sức học tập, thành đạt công danh, đem lại tiếng thơm và biết làm vừa lòng bề trên, Ông Bà, Cha Mẹ, và cả những người có công dạy bảo, nâng đỡ mình.

Đại Hiếu: Là phụng dưỡng bề trên, cũng như Ông Bà Cha Mẹ bằng con đường tinh thần. Như khuyên bề trên, hướng thiện, đi theo con đường đại nghĩa trở về với Cội với Nguồn, cũng như khuyên Ông Bà Cha Mẹ lập nhiều công đức, truyền đạt kinh luân, làm nhiều việc phước thiện, cứu dân độ thế để lại âm đức cho con cháu, chứng quả trí huệ siêu thoát linh hồn về Trời.

Bậc Đại hiếu của Vũ Trụ: là người làm được tất cả những điều này:

- Hiếu Đạo, Hiếu Đời.

Nghĩa là vừa làm tròn bổn phận của một người tu chân chính, phát đại nguyện rộng lớn, cùng với Phật Thánh Tiên Thần Chúa khắp cùng ra sức cứu giúp đồng bào nhân loại anh em. Lại vừa làm tròn bổn phận luân chuyển của mình trong vai trò: ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu, anh chị em ở trong gia đình. Ngoài ra cũng cần làm tròn cả bổn phận của cá nhân với Họ Tộc, với Quê Hương, với Đồng Bào, với Tổ Quốc, với Thầy Cô dạy dỗ, và với ân nhân giúp đỡ mình nữa.

- Hiếu với Sắc Giới, Hiếu với Vô Sắc Giới.

Với vô sắc giới, các vị cần tận tâm, tận lực, hết lòng tôn thờ Tổ Tiên, Cha Trời, Mẹ Trời (chánh thân, chánh mẫu), 3 ngôi tối cao vũ trụ, đưa tâm linh của mình giác ngộ mà trở về với bản thể Linh Giác Vũ Trụ. Còn với Sắc Giới, trước hết là tận tâm, tận lực, hết lòng hiếu kính, báo đáp với: chánh thân chánh mẫu (Cha Trời và Mẹ Trời), Ông Bà, Cha Mẹ (phụ thân và phụ mẫu), Quê Hương và Tổ Quốc, Đồng Bào, Quốc Tổ Hùng Vương (người đã để lại cho dân tộc Việt Nam hai di sản quý báu), Thầy và Cô. Bên cạnh đó, cũng cần luôn ghi nhớ công ơn, đền ơn đáp nghĩa với tất cả những ai đã từng giúp đỡ mình trong hiện tại và vô số kiếp lâu xa.

Thờ cúng đúng theo Văn Hóa Cội Nguồn chính là mật tạng mà ít người hiểu được để thể hiện chữ Hiếu rộng lớn và độ người nơi âm cảnh.

b) Lễ vật

Quý vị nên dâng những đồ ăn thanh tịnh lên bàn thờ Gia Tiên Tiền Tổ như: hương, hoa, trà, nước, quả, xôi, chè, cháo, bánh, cơm, canh, v.v... Không có điều kiện thì chỉ cần dâng: hương, hoa, trà, quả, nước cũng được. Quan trọng là sự nhất tâm và lòng thành kính.

Nếu làm được nhiều điều phước thiện, quý vị nên hồi hướng hết thảy những công đức đó để giúp cho những vong linh Gia Tiên thêm nhiều phước duyên mà tiêu trừ nghiệp chướng, đầu thai tái kiếp hoặc siêu sanh về thiên giới.

c) Văn khấn

(gõ 1 tiếng chuông để mở đầu Nghi Lễ)

CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:

NAM MÔ KHAI HÓA TỐI THƯỢNG TỔ TIÊN VÔ BIÊN NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).

CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:

NAM MÔ LONG HOA CỬU HUYỀN THIÊN PHỤ ẤN QUANG TỐI THẮNG NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).

CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:

NAM MÔ TIÊN CƠ ĐỨC MẸ ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).

CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:

NAM MÔ ĐỨC HƯ KHÔNG TẠNG DIỆU KHÔNG VÔ BIÊN NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).

CON THÀNH TÂM KÍNH LẠY 100 ÔNG BÀ TIÊN TỔ, CHƯ HƯƠNG LINH GIA TIÊN TIỀN TỔ NỘI NGOẠI. (lạy)

CON THÀNH TÂM KÍNH BÁI PHẬT THÁNH TIÊN THẦN CHÚA KHẮP PHÁP GIỚI MƯỜI PHƯƠNG (bái).

Hôm nay, nhằm ngày..... tháng..... năm.....

Gia đình chúng con gồm có các thành viên:.....

Ở tại địa chỉ:

Xóm/ Đường:..... Thôn/ Tổ dân phố:..... Xã/ Phường..... Quận/ Huyện:..... Tỉnh/ Thành phố:..... Nước Việt Nam.

Đem lòng thành khẩn, thành kính, thành tâm dâng lên: nhang, đèn, hương, hoa, trà, nước, quả, v.v... cúng dường.

Trước là phụng báo:

+ Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu.

+ Long Hoa Giáo Chủ, Di Lặc, Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương, 100 Ông Bà Tiên Tổ.

Sau là tưởng nhớ tới công ơn của chư hương linh gia tiên tiền tổ nội ngoại.

Ngưỡng mong ơn trên, Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu, Đức Quốc Tổ Hùng Vương, Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới mười phương. Ba thời, quá khứ, hiện tại, vị lai. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ.

Chứng tri công đức ban xuống ân sâu. Hộ độ cháu con, đồng bào anh em, cả người dương gian lẫn âm cảnh.

Con xin mang hết công đức từ việc làm phước thiện của mình (liệt kê)..... mà hồi hướng cho (ai).....

Nguyện cầu cho Ông Bà, Cha Mẹ, họ hàng người thân, đã mất, sớm được tái kiếp làm người trở lại hoặc siêu sanh về cảnh giới Non Tiên Cực Lạc.

NAM MÔ A MEN (lạy 4 lạy, bái 4 bái)

*     *     *

KHAI KINH KỆ

Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu

Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu

Nay con gặp đặng chuyên trì tụng

Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu.

*     *     *

TỤNG ĐỌC LONG HOA VÔ NGẠI ĐẠI BI THẦN CHÚ

(trang số: 254 - 273)

*     *     *

KINH HIẾU NGHĨA CHA TRỜI, MẸ TRỜI

Vô lượng kiếp Cha Trời Địa Mẫu

Thường phóng quang cứu khổ hồn linh

Độ cháu con vô số vô biên

Đều chứng quả Phật, Tiên, Thánh, Chúa

Công Cha Trời khắp trong trời đất

Chẳng ai hơn đệ nhất công lao

Lớn vô cùng vô tận biết bao

Dựng cơ nghiệp tam thiên vũ trụ

Chủ nhân Ông quyền năng định đoạt

Đấng chủ trì thiên luật thưởng ban

Cho những người bồi đức lập công

Vì đại nghĩa vì dân vì nước

Vì anh em Tiên Rồng nòi giống

Giúp cho người tỉnh giấc tu hành

Giúp cho người trở lại đường lành

Về thế giới thiên đàng cực lạc

Sống an vui cung vàng điện ngọc

Mãi vĩnh hằng tự tại tự do

Cõi nước trời vô số hà sa

Tùy công đức mà vui mà hưởng

Cõi trần gian huyền cơ biến chuyển

Đầy họa tai lắm cảnh truân chuyên

Ý Cha Trời chuyển vận huyền cơ

Khai Đại Đạo bến bờ tiếp rước

Nghĩa đồng bào Phật, Tiên, Thánh, Chúa

Khắp Ta Bà thế giới năm châu

Ban pháp lành từ cổ chí kim

Bao lời lẽ từ bi bác ái

Phật, Thánh, Tiên, phò trì chánh giáo

Đồng ra kinh cứu vớt cõi trần

Độ nhân sanh về với Cội Nguồn

Lập công lành với đấng Trời Cha

Lưu danh tiếng khắp cõi hà sa

Đức Cha Trời quyền năng trên hết

Chuyển vần xoay tình thế thuận xuôi

Cùng Thánh, Thần, trấn khắp càn khôn

Đồng phóng quang hộ độ cháu con

Về thế giới an khương cực lạc

Nếu những ai trở về Nguồn Cội

Lạy Cha Trời rửa tội một lần

Theo văn hóa sám hối tội tình

Bao kiếp ác chẳng còn tiêu sạch

Hết họa tai an vui hưng thịnh

Mãi về sau ít bệnh ít đau

Đọc kinh đây thời hãy truyền mau

Phát tâm lành bồi công lập đức

Phật, Thánh, Tiên khắp trong trời đất

Đồng phóng quang cứu vớt từng giờ

Tạo nhân hiền dứt khổ an lành

Đạo Hiếu Nghĩa nay đà thành tựu

Về tiên bang hội tụ điền viên

Trăm năm trong cõi người ta

Cũng như sương khói thoáng qua mất liền

Ra thân tu phước thờ Trời

Kính tin Phật, Chúa, Thánh, Thần, chở che

Kinh đây vốn thật cao siêu

Chỉ cần đọc tụng mong chi cũng thành

Công đức không thể nghĩ bàn

Cầu chi đặng nấy chẳng lầm chẳng sai

Nếu như có người thiện nam

Hay là thiện nữ luận bàn giảng ra

Cho người cùng hiểu cùng nghe

Thấm nhuần chân lý Trời Cha dạy truyền

Người nầy sẽ được Tổ Tiên

Cha Trời Địa Mẫu phóng quang độ trì

Khai tâm khai trí khai thần

Muôn nghìn ức kiếp chuyển thành chúa vua

Cháu, con sáng láng thông minh

Hiển vinh, vinh hiển giàu sang, sang giàu

Cũng nhờ Hiếu Nghĩa làm đầu

Công thành danh tọa về Trời an vui.

*     *     *

KINH HIẾU NGHĨA CHA MẸ

Làm người ai cũng biết rằng

Công ơn Cha Mẹ sánh bằng trời cao

Nuôi con khó nhọc biết bao

Năm dài tháng rộng nói sao cho cùng

Thương con thương cái ngập tràn

Tình thương Cha Mẹ ai nào sánh hơn

Con đau Cha Mẹ lo âu

Con bệnh Cha Mẹ buồn rầu không yên

Con khóc Cha Mẹ nhói tim

Xót xa đau đớn lệ tuôn đầm đìa

Con cười Cha Mẹ cũng cười

Con vui Cha Mẹ không gì vui hơn

Thương con Cha Mẹ kể chi

Nhọc nhằn cực khổ cũng vì nuôi con

Hỡi ai còn chút lương tâm

Nghĩ suy cho thấu tấm lòng Mẹ Cha.

Hãy nhớ lại công ơn Cha Mẹ

Chữ cù lao dưỡng dục quên mình

Kể gì gian khổ nhọc nhằn

Nuôi con tháng rộng năm dài biết bao

Thương con từ thuở nào trong bụng

Với hình hài vừa tượng nên thân

Thương con trong bọc mới mang

Tháng ngày yêu mến sớm hôm giữ gìn

Lòng thương con vô cùng vô tận

Kể sao cùng lòng Mẹ lòng Cha

Thương con Cha Mẹ thiết tha

Chăm lo từng phút, từng giây, từng giờ

Nhìn thân Mẹ đứng ngồi lo lắng

Suốt thời gian chín tháng cưu mang

Mong con mong mãi bình an

Mong con toàn vẹn sớm nên hình hài

Lòng Cha Mẹ như trời như biển

Dành cho con tất cả hi sinh

Kể gì thân xác héo hon

Kể gì gian khổ, gian nan khốn cùng

Mẹ sanh con cả giờ đau đớn

Chịu đớn đau trông thấy mặt con

Dẫu rằng Mẹ có chết đi

Miễn sao con trẻ bình yên cõi đời

Ôi người Mẹ biển trời nhân đức

Lòng thương con trên hết vô biên

Thiêng liêng người Mẹ thiêng liêng

Biển trời khó sánh tình thương biển trời

Kìa con trẻ chào đời bật khóc

Kìa người Cha sung sướng làm sao

Tràn đầy yêu mến thương yêu

Nhìn con Cha Mẹ xiết bao vui mừng

Lòng Cha Mẹ mấy tầng yêu dấu

Lòng thương con rộng lớn vô biên

Đất trời chẳng thể rộng hơn

Thương con Cha Mẹ quên đi nhọc nhằn

Lần từng ngón tay bồng tay bế

Niềm thương yêu chăm sóc từng giây

Con đau Cha Mẹ quặng đau

Con rầu Cha Mẹ rầu theo từng hồi

Nghe con khóc hãi hùng lo sợ

Con biếng ăn Cha Mẹ lắng lo

Tháng ngày khổ cực biết bao

Công lao trời biển nói sao cho cùng

Nhìn con lật con bò con nói

Nhìn con đi con lớn lòng vui

Ai ơi nầy hỡi ai ơi

Nghĩ suy cho thấu biển trời Mẹ Cha

Ôi chữ Hiếu thâm sâu vô tận

Nghĩa đáp đền công Mẹ ơn Cha

Chỉ cần con ấm mình lên

Mẹ Cha không ngủ suốt đêm sợ rầu

Nhìn con trẻ ấm mình dạ xót

Tiếng khóc con đau đớn lòng Cha

Cầu Trời khấn Phật suốt đêm

Phù trì hộ độ cho con của mình

Tim sắt đá cũng còn tan chảy

Với tình thương trời bể bao la

Tình thương dành hết cho con

Cả đời như thế công ơn tận cùng

Lòng Cha Mẹ ai nào sánh được

Sự hi sinh tột bực vì con

Kể gì non núi, núi non

Đất trời rộng lớn cũng không so bì

Thử ôn lại có gì không đúng

Công Mẹ Cha năm tháng nuôi con

Gian nan khổ cực gian nan

Vậy mà vui vẻ không than một lời

Ngồi ôn lại mới thời thấy rõ

Lòng thương con như bể như non

Con ốm Cha Mẹ hoang mang

Đút cơn múm sữa biết bao khổ nàn

Nhìn con lớn lòng mừng vô tả

Hơn được vàng hơn cả báu châu

Đưa con đi học sớm hôm

Thương con Cha Mẹ theo chân đến trường

Kìa gió bụi chân trời mưa nắng

Mẹ cùng Cha tìm kiếm gạo cơm

Nuôi con vất vả sớm hôm

Miễn sao con được nên danh làm người

Bao năm tháng miệt mài lao khổ

Thân bọc da bao nỗi truân chuyên

Kiếm tìm của cải nuôi con

Dạn dày gió bụi phong sương cuộc đời

Công ơn ấy có gì sánh được

Tình thương kia muôn vạn núi cao

Sanh thành dưỡng dục cù lao

Biển trời công đức kể sao cho cùng

Khi nghĩ đến lệ trào nước mắt

Công Mẹ Cha ân đức dường

Công lao trời đất công lao

Bao giờ trả được chút ơn sanh thành

Trong trời đất còn gì hơn Hiếu

Mất Hiếu rồi họa đến chẳng sai

Chết đi hồn đọa âm ti

Khó mong trở lại đầu thai làm người

Làm con phải nghĩ thế nào

Công ơn dưỡng dục cù lao biển trời

Nhất là Cha Mẹ về già

Mắt mờ bệnh tật không người tựa nương

Nếu còn chưa mất lương tâm

Phải nên chăm sóc sớm hôm phụng thờ

Bất Hiếu tội lớn vô cùng

Tránh sao quả báo nhãn tiền theo tay

Sống thời hết họa tới tai

Khó nên nghiệp lớn khó xây danh vàng

Bất Hiếu phạm luật Thiên Đình

Tránh đâu cho khỏi luật trời chuyển xoay

Chết đi hồn đọa âm ti

Chịu nhiều khốn khổ mấy khi yên lành

Bất Hiếu Trời hại Trời hành

Hồn linh vất vưởng xoay vần họa tai

Quên đi nghĩa Mẹ ơn Cha

Tội nào hơn nữa khó qua nạn trời

Người nào quên Cội quên Nguồn

Công ơn Cha Mẹ cùng là Bề Trên

Lương tâm đánh mất còn chi

Thánh Thần xa lánh tai bay họa cùng

Người nào nhớ đến Cội Nguồn

Công Cha nghĩa Mẹ biển trời công lao

Hiếu Nghĩa là Đạo chí cao

Cha Trời, Địa Mẫu lúc nào cũng khen

Làm con Hiếu Nghĩa vi tiên

Chăm lo phụng dưỡng mới nên con người

Kinh luân đã giải phân trần

Đâu là cội phúc, đâu là họa tai

Công Cha như núi Thái Sơn

Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ Mẹ kính Cha

Cho tròn chữ Hiếu mới là đạo con

Trần gian cõi tạm trường thi

Phạm vào Bất Hiếu hết mong về Trời

Làm con Hiếu đạo vẹn toàn

Lo gì chẳng được sang giàu hiển vinh

Cha Trời lựa lọc Cháu Con

Lựa người có Hiếu thưởng ban phúc lành

Ban cho chói rạng công danh

Vinh hoa phú quý giàu sang, sang giàu

Mãn thân hồn được về Trời

Về nơi tiên cảnh vĩnh hằng tiêu diêu

Ngược lại Bất Hiếu chẳng nghe

Sống thời khốn khổ chết đi ngục tù

Bất Hiếu quả báo hãi hùng

Luân hồi đọa lạc vạn bề đớn đau

Dù vua, hay chúa, đều chung

Để tâm Bất Hiếu hết mong phước lành

Diêm Vương thọ lệnh Thiên Hoàng

Luật Trời phân xử rõ ràng phân minh

Bất Hiếu tội lớn khó dung

Ai mà phạm phải liệu lo sửa mình

Thành tâm cải hối tội tình

Chăm lo trả Hiếu đáp đền công ơn

Công Cha nghĩa Mẹ vô biên

Phải nên phụng dưỡng sớm hôm tôn thờ

Lương tâm sáng tỏ được rồi

Bao nhiêu tội ác tan thời biến tan

Phước trời tự đến trời ban

Ấm no, no ấm giàu sang, sang giàu

Lớn lên đã lập gia đình

Cũng nên lui tới để gần Mẹ Cha

Thành Tiên, Thành Phật, đâu xa

Từ trong Hiếu Nghĩa mà ra chẳng nhầm

Cha già Mẹ yếu mắt mờ

Trông vào con cái biết nhờ cậy ai

Bất Hiếu bỏ Mẹ bỏ Cha

Bơ vơ khốn khổ ngày già hẩm hiu

Dù cho danh lợi bao nhiêu

Để Tâm bất Hiếu còn chi Đạo Người

Phật, Tiên, Thánh, Chúa, bao đời

Tôn thờ Hiếu Đạo đứng đầu xưa nay

Đạo Hiếu đệ nhất cao thâm

Nếu mà bỏ mất còn mong được gì

Được là danh tiếng ngu si

Bất nhân bất nghĩa hồn sa địa đàng

Tu đâu cho bằng tu nhà

Thờ Cha kính Mẹ cũng là chân tu

Làm con quý tại Hiếu Nhân

Phải nên thức tỉnh xét phân tỏ tường

Đạo Hiếu vốn thật nhiệm mầu

Nhơn Đạo thành rồi Thiên Đạo là đây

Thánh Thần Chúa Phật xưa nay

Cũng nhờ Hiếu Nghĩa, phước xây vạn tòa

Thời nay nếu có người nào

Phát tâm truyền tụng hay là ấn in

Cầu cho Cha Mẹ song thân

Sống thêm tuổi thọ chết sanh thiên đàng

Cháu con vinh hiển nhiều đời

Tai qua nạn khỏi, sang giàu bình yên

Chỉ cần truyền tụng in kinh

Nhờ công đức ấy đăng trình vàng son

Huống chi giảng dạy thế gian

Cầu chi đặng nấy hết còn họa tai

Luân hồi chuyển kiếp làm vua

Dân giàu nước mạnh bình an thái bình.

NAM MÔ A MEN

*     *     *

TỤNG ĐỌC LONG HOA BÁT NHÃ TÂM KINH.

(trang số: 274 - 281)

*     *     *

VÃNG SANH QUYẾT ĐỊNH CHƠN NGÔN

Nam mô a di đa bà dạ. Đá tha già đa dạ. Đá địa dạ tha. A di rị đô bà tỳ. A di rị đá. Tất đam bà tỳ. A đi rị Đá, tỳ ca lan đế. A di rị đá. Tỳ ca lan đa. Già di nị. Già già na. Chỉ đa ca lệ. Ta bà ha. (3 lần)

--------------------------------------------------

8 - VĂN KHẤN NGÀY RẰM THÁNG 7
CÚNG CÔ HỒN NGOÀI TRỜI

a) Cô hồn là ai

Cô hồn là những người đã mất, khi chết đi Linh Hồn thoát ra khỏi thể xác con người trở thành LINH HỒN MA, không bị sa đọa xuống các tầng Địa Phủ, ở lại cõi trần gian sanh hoạt vào cảnh giới đêm. Hình dạng linh hồn ở âm cảnh không khác gì hình dạng con người lúc tạ thế ở dương gian. Ví dụ như: một người chết già thì thân hình cũng y như vậy, già nua khi sang thế giới của âm cảnh; một người bị mất một chân, khi chết qua thế giới âm cảnh cũng bị mất một chân y như vậy. Vì nhiều lý do mà họ không có người thờ tự, sống lang thang, sống tại đường, tại chợ, tại bờ sông, vách núi, tại bãi chiến trường, ở những lùm cây... hoặc tại những nơi họ chết, đợi đủ phước và duyên để đầu thai chuyển kiếp. Cũng có những vong linh cô hồn sống trong các am, thất, đền, chùa, miếu, vườn ao quanh nhà... Đôi khi họ có thể là những oan hồn trong hàng trăm, hàng ngàn năm, vì ân oán, vì tham đắm tình duyên, vật chất mà ở mãi trong thế giới âm cảnh. Trong số đó có thể là: cha mẹ, con cái, người thân, vong nhi bé đỏ (vì nạn phá thai) của mình ở nhiều kiếp trước. Họ có thể cũng từng có nhân duyên với mình, là người giúp đỡ mình, là hàng xóm, là bạn bè, là đạo hữu, là ân nhân từng cưu mang mình lúc mình hoạn nạn... trong vô số kiếp lâu xa. Trong cô hồn cũng có người thiện, người ác. Nếu họ hành ác, đánh mất lương tâm, lương tri, thời bị thiên luật chuyển xoay mà đoạ xuống các tầng địa phủ. Còn nếu họ hành thiện, lâu dần tăng nhiều phước báu thì được chuyển sanh làm người trở lại hoặc siêu sanh về Non Tiên Cực Lạc.

b) Lễ vật

Không nên cúng quần áo, đồ vật bằng giấy vì vong linh họ có khả năng biến, hiện tùy theo tâm, ý. Những linh hồn ở cõi âm họ thưởng thức đồ cúng bằng hơi vị, hương vị, mùi vị. Vì vậy, quý vị nên dâng cúng những đồ: hương, hoa, trà, nước, quả, xôi, chè, cháo, gạo muối, v.v... Thêm nữa, các vị cũng nên thắp đèn (dầu), nến lung linh. Tất cả những đồ cúng này nên được đặt trên một cái bàn (chứ không phải đặt sát đất như một số nơi).

 Tốt nhất, quý vị đem luôn cả những công đức mình làm được bao nhiêu năm mà cúng dường, hồi hướng cho họ.

c) Thời gian và địa điểm cúng

Không riêng gì ngày Rằm tháng 7, việc cúng cô hồn nên được thực hiện thường xuyên nhiều lần trong năm, vào các ngày như mồng 1 và 15 (ngày rằm) âm lịch của mỗi tháng. Vì hai ngày này, họ được hưởng phước đức của Cha Trời, Mẹ Trời nhiều nhất nên giúp cho vong linh hội tụ phước duyên nhiều nhất.

Thời gian cúng nên là: 18h -19h.

Địa điểm cúng thường là ngoài sân/ ngoài trời.

d) Văn khấn

(gõ 1 tiếng chuông để mở đầu Nghi Lễ)

CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:

NAM MÔ KHAI HÓA TỐI THƯỢNG TỔ TIÊN VÔ BIÊN NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).

CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:

NAM MÔ LONG HOA CỬU HUYỀN THIÊN PHỤ ẤN QUANG TỐI THẮNG NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).

CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:

NAM MÔ TIÊN CƠ ĐỨC MẸ ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).

CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:

NAM MÔ ĐỨC HƯ KHÔNG TẠNG DIỆU KHÔNG VÔ BIÊN NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).

CON THÀNH TÂM KÍNH LẠY 100 ÔNG BÀ TIÊN TỔ (lạy)

CON THÀNH TÂM KÍNH BÁI PHẬT THÁNH TIÊN THẦN CHÚA KHẮP PHÁP GIỚI MƯỜI PHƯƠNG (bái).

Nhất tâm triệu thỉnh hết thảy các vong linh, cô hồn quanh khu vực này (1 bái)

Hôm nay, nhằm ngày..... tháng..... năm.....

Tại địa chỉ:

Xóm/ Đường:..... Thôn/ Tổ dân phố:..... Xã/ Phường:..... Quận/ Huyện:..... Tỉnh/ Thành phố:..... Nước Việt Nam.

Chúng con thiết lập lễ đàn, trước là phụng báo:

+ Khai Hóa Tổ Tiên

+ Cha Trời Lạc Long Quân.

+ Địa Mẫu Âu Cơ

+ Long Hoa Giáo Tổ, Di Lặc, Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương, 100 Ông Bà Tiên Tổ.

Sau là đền ơn, đáp nghĩa với hết thảy các vong linh chúng sanh.

Cúi xin, Tổ Tiên, Cha Trời, Mẹ Trời, Quốc Tổ Hùng Vương anh linh, chứng giám tâm thành, hộ trì hộ độ, cho toàn thể tất cả pháp giới cháu con, nhân loại anh em dương gian và âm cảnh, sớm dứt nghiệp duyên, ác căn tội lỗi, căn lành tăng trưởng, âm cảnh thời mau được chuyển kiếp làm người, hướng về Cội Nguồn, hội ngộ Nhân Luân, chân tâm, chân tánh, siêu sanh thiên giới, an vui tự tại, không còn sa đọa nơi tam đồ khổ, Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, đồng thành Chánh Đẳng Chánh Giác.

NAM MÔ A MEN.

Nam mô Phật, nam mô Thánh, nam mô Tiên, nam mô Thần, nam mô Chúa, cứu khổ cứu nạn.

Thiên la Phật, thiên la Thánh, thiên la Tiên, thiên la Thần, thiên la Chúa, cứu khổ cứu nạn.

Địa la Phật, địa la Thánh, địa la Tiên, địa la Thần, địa la Chúa, linh linh ứng hóa.

Thân ly nạn, nạn ly thân, nhất thiết tai ương hóa vi trần.

Thân ly nạn, nạn ly thân, nhất thiết tai ương hóa vi trần.

Thân ly nạn, nạn ly thân, nhất thiết tai ương hóa vi trần.

NAM MÔ A MEN. (lạy 3 lạy, bái 4 bái)

*     *     *

KHAI KINH KỆ

Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu

Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu

Nay con gặp đặng chuyên trì tụng

Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu.

*     *     *

TỤNG ĐỌC LONG HOA VÔ NGẠI ĐẠI BI THẦN CHÚ

(trang số: 254 - 273)

*     *     *

KHAI THỊ VONG LINH

Vong linh ơi!

Ta Bà cõi tạm, nơi gửi thân sanh từ trăm năm, Thiên Đàng, Cực lạc quê hương, chốn an lành Niết Bàn muôn thuở.

Vong linh hỡi!

Hãy nên ghi nhớ, sống trên đời có được bao lâu, mới xuân sanh thoáng đã bạc đầu. Ngày nay, vong linh đã mãn duyên trần, ấy cũng là lẽ tự nhiên như ngày có sáng tối, có đến ắt có đi. Cũng như cái xác thân tứ đại: đất, nước, gió, lửa này chỉ là cái giả thân do tinh cha huyết mẹ hợp thành. Còn gia đình, thân quyến của vong linh cũng đều là mối duyên nợ theo định luật nhân duyên, đừng vương vấn mà đọa vào cảnh khổ.

Vong linh ơi! Xin hãy hướng tâm về nơi lời dạy của Đức Cha Trời mà sám hối, và nghe tôi truyền lời của thiên ý: KINH NHÂN LUÂN QUẢ BÁO, làm cho tâm thức tỉnh giác mà nghiệp quả tiêu trừ, phước báo tăng trưởng, linh căn hội đủ duyên lành sớm siêu sanh về thiên giới hay chuyển thế làm người, phổ truyền lời dạy của Cha Trời mà lên ngôi Phật Thánh Tiên Thần Chúa:

Đời mạt thế con người hiện tại

Sống cùng nhau cứ mãi hại nhau

Bao nhiêu kế độc mưu sâu

Đem ra dùng hết có nào ngại chi

Cũng vì vậy ở ngay trần thế

Cuộc binh đao chém giết triền miên

Làm cho cuộc sống đảo điên

Khốn cùng khổ sở, lại thêm đói nghèo

Oán trả oán, oán đầy chồng chất

Thù trả thù, muôn kiếp chẳng tha

Cảnh khổ cứ mãi trào ra

Muôn đời vạn kiếp nói sao cho cùng

Nhìn thế nhân lầm đường lạc lối

Nên Trời Cha chuyển pháp khai kinh

Mở đường cứu khổ sanh linh

Thoát cơn nguy biến chuyển mình vượt qua

Nền văn hóa sâu xa vô tận

Đạo Nhơn Luân vô thượng thậm thâm

Chỉ cần truyền bá cho dân

Non sông Tổ Quốc mấy tầng bình yên

Dân có đạo dân hiền dân thảo

Dân có nguồn ít lỗi ít sai

Thái bình độc lập là đây

Nước non giàu đẹp phước xây vạn tòa

Nhơn luân đạo pháp làm người

Giàu, nghèo, quan, chúa, nhất thời đồng tu

Tôn thờ Nguồn Cội sớm hôm

Sống theo Hiến Pháp chẳng ôm độc tài

Giàu đạo đức là giàu vĩnh viễn

Giàu của tiền cũng chỉ tạm giàu

Sống còn chết mất được gì

Của trần trả lại cho trần như không

Cũng vì vậy Cha Ông di giáo

Truyền kinh luân giải thoát hồn linh

Để cho nhân thế tu theo

Rõ đường nhân quả chọn gieo giống lành

Muốn được vậy học hành giáo dục

Sống cho đời học tập siêng năng

Rõ đường thiện ác trong tâm

Tận tường tà chánh chẳng lầm chẳng sai

Giàu, nghèo có đức mới cao

Giúp dân giúp nước kiếp sau thanh nhàn

Giàu nghèo, ác đức lầm đường

Cháu con phải chịu khốn cùng về sau

Nhân quả thiên luật sai đâu

Nhân nào quả nấy lạ nào hiển nhiên

Quả báo xoay vần triền miên

Gieo thiện gặt thiện là điềm xưa nay

Nhân quả vay trả, trả vay

Ác gieo ác gặt xưa nay nào lầm.

*     *     *

Chửi Trời mắng đất: Nhiều họa đem đến

Chẳng trọng Thánh Thần: Cầu nguyện không linh

Mắng mưa chửi gió: Xui rủi không may

Bội nghịch cha mẹ: Hậu kiếp mồ côi

Khinh khi thân tộc: Bà con xa lánh

Hỗn ẩu anh em: Cô độc một mình

Hại dân, phản quốc: Họa sanh khó cứu

Phản hại chánh giáo: Khó thoát tai ương

Chê người nghèo khó: Chuyển kiếp cơ hàn

Hạch sách dân chúng: Suy sụp cháu con

Ỷ thế hiếp người: Con cháu khiếp nhược

Lời nói chẳng lành: Tai họa khởi sanh

Lấy của hiếp người: Tuyệt đường giàu có

Tham tàn bạo ác: Suy sụp khó cứu

Được sang chê hèn: Đáo đầu bần cực

Bất nghĩa bội ơn: Con cháu ngỗ nghịch

Được khôn chê khờ: Khó mong thành đạt

Xúi kiện hại người: Con cháu bất hòa

Cố ý gạt lường: Người khác gạt mình

Miệng hay nói láo: Khó lập thân danh

Thường hay hại người: Đoạn tuyệt may mắn

Phá hoại vợ chồng: Kiếp sau lẻ bạn

Truyền ngôn bất chính: Trả quả loạn tâm

Thường hay lạm sát: Tuổi thọ giảm suy

Hủy báng kệ kinh: Ngây cuồng đền tội

Thường hay ganh ghét: Con cháu vô duyên

Nói xấu ngạo biếm: Bằng hữu khinh thường

Thọ ân trả oán: Con cháu thất thời

Ếm yểm kinh luân: Tai bay họa gởi

Giết người cướp của: Ác lai quả báo

Hại người đoạt chức: Tai họa trùng lai

Mưu mô bất chính: Bằng hữu bất trung

Giả tâm phản loạn: Tai họa thình lình

Bội ơn bạc nghĩa: Sanh con bất hiếu

Làm ăn bất chính: Con cháu phá gia

Hại dân khuấy chúng, chuyển kiếp sanh ra vô cùng khốn khổ: Câm, đui, liệt, cùi

Tâm tánh bạc ác: Căn khùng đền tội

Ngông cuồng kiêu ngạo: Tạo lập khó thành

Tham ô bất chính: Con cháu hư hỏng

Phản bội Cha Ông: Con cái phản mình

Ép người đường cùng: Họa đầy khó tránh

Hành hung bất chánh: Con cháu sụp suy

*     *     *

Nhân luân quả báo xưa nay

Khắp trong trời đất có sai bao giờ

Ứng báo quả báo xoay vần

Chỉ mau hay chậm đâu lầm sai chi

Kinh nầy cùng tận hiển linh

Thậm thâm vi diệu khó nên luận bàn

Chỉ cần thành kính một lần

Phát tâm đọc tụng cho người khác nghe

Chỉ là một chữ một câu

Coi như cũng đặng một tàu phước ghi

Huống là in chép truyền đi

Muốn chi cũng đặng cầu chi cũng thành

Ông bà cha mẹ nhiều đời

Siêu sanh thoát ngục về Trời an vui

Còn như tu luyện theo kinh

Cửu Huyền hộ độ có tên bảng vàng

Cháu con thành đạt vinh quang

Gia đình con cháu bình yên, yên bình

Huống chi giảng giải tuyên truyền

Thánh, Thần, che chở phước lành tốt tươi

Mãn thân hồn đặng sanh Thiên

Vào ngôi Phật, Chúa, Thánh, Tiên, Đức Thần.

*     *     *

Lại nữa, vong linh hỡi:

Trần gian là chốn trường thi

Là nơi cõi tạm luyện tu linh hồn

Ngộ rồi siêu thoát về Trời

Nào đâu phải chốn muôn đời bình yên

Sanh già bệnh tử liên miên

Xoay vần tan hợp não phiền lắm thay

Cõi trần gian tai bay họa gởi

Nào chiến tranh binh lửa chẳng yên

Thiên tai tàn phá kinh thiên

Lắm điều cơ cực biết bao nhọc nhằn

Ở cõi Trời đất vàng đất ngọc

Nào báu châu xinh đẹp lạ thường

Lầu đài cung điện kim cương

Pha lê, mã não, trân châu, xà cừ

Các tầng Trời sang giàu bậc nhất

Chốn trần gian chẳng sánh mảy lông

Thiên Đàng hạnh phúc vô biên

Trần Gian biển khổ đảo điên khốn nàn

Bồng lai cảnh giới Thiên Đàng

Sống lâu trẻ mãi não phiền đều không

Đâu như trần thế Trần Gian

Chia lìa khốn khổ tử sanh luân hồi

Chốn Trần Gian muôn ngàn khốn khổ

Cõi Thiên Đàng sống mãi an vui

Trần Gian bệnh tật ốm đau

Thiên Đàng tự tại sống lâu an lành

*     *     *

Muốn biết ác gian có hại gì

Phải nên tìm hiểu ở kinh thi

Nhơn luân quả báo đều ghi rõ

Họa phúc thăng trầm có khó chi

Luật nhân quả trước sau, sau trước

Gieo giống gì gặt nấy có sai

Trồng lúa gặt lúa xưa nay

Gieo ác gặt ác, ác vây khốn cùng

Nơi vũ trụ một nền thiên luật

Đạo huyền cơ chuyển vận chuyển xoay

Ác thời đọa xuống âm ti

Thiện thời nhẹ bước siêu lên Thiên Đàng

Vì hiểu rõ luật trời như thế

Phật, Thánh, Tiên, chọn đức làm đầu

Ở trong vũ trụ một bầu

Chánh, Tà, hai nẻo vui, buồn, khổ vui

Thiện cùng Ác do người mê ngộ

Tạo nghiệp duyên chuyển vận thọ mang

Gieo nhân kết quả xưa nay

Nhân nào quả nấy có sai bao giờ

Tạo nghiệp ác gieo mầm thọ khổ

Đọa linh hồn địa phủ khó ra

Chịu nhiều quả báo gớm ghê

Gươm đâm, đao chém đứt lìa tan thây

Nơi ngục lửa nướng thui la ré

Ngục âm phong lạnh xé thịt da

Đớn đau khủng khiếp rên la

Chết đi sống lại biết bao hãi hùng

Nơi trần thế hung tàn bạo ác

Cậy thế quyền tàn sát lê dân

Thiên cơ vận hóa hồn linh

Chết đi sa đọa ngục hình địa lao

Hồn linh đói khát biết bao

Quỷ yêu xé xác đớn đau kinh hoàng

Nơi Địa Phủ muôn trùng đày đọa

Đủ cực hình, thảm họa triền miên

Chừng nào hết nghiệp ác gian

Mới mong thoát khỏi thảm thê ngục hình

Tiếng la khóc hãi hùng dậy khắp

Nổi kinh hoàng thịt khét lửa nung

Mới hay Địa Ngục khiếp kinh

Sa chân làm ác hết mong phản hồi

Nơi trần thế xem thường hành thiện

Cứ tham tàn bày biện ác gian

Nào hay Địa Phủ kề bên

Mất thân hồn đọa âm ti mấy tầng

Nơi trần thế dối lừa hại chúng

Xuống âm ti đủ thứ đớn đau

Quỷ ngục đâm chém xé xâu

Đủ điều hành hạ biết bao hành hình

Cũng vì bởi gieo toàn hung ác

Lại xem thường quả báo chuyển xoay

Địa ngục hành xử liên miên

Chết đi sống lại biết bao nghìn lần

Nơi trần thế hại người lương thiện

Xuống âm ti muôn vạn cực hình

Giáo đâm gươm chém trùng trùng

Linh hồn nát vụn, nát nhừ như tương

Nơi trần thế hại dân khuấy chúng

Miệng độc xà hại chết người ngay

Chết đi đọa xuống âm ti

Đọa đày khủng khiếp vô phương cứu nàn

Nơi ngục lạnh đọa đày đau đớn

Lưỡi cứng đờ phồng tét thịt da

Răm nứt xé nhỏ xé to

Đớn đau khủng khiếp thét la hãi hùng

Nơi trần thế giết người cướp của

Làm cho người khốn khổ thương đau

Chết đi hồn xuống âm ti

Quỷ Thần hành hạ moi tim nấu nhừ

Vậy mới biết đất trời thiên luật

Hễ hại người Trời lại hại mình

Chuyển xoay thiên luật công minh

Gieo ác gặt ác có gì hàm oan

Nơi trần thế mưu gian hại nước

Làm cho dân khốn đốn đói nghèo

Sống trong đao búa ngục tù

Sống trong áp bức khốn cùng đau thương

Gieo đại ác tội cao như núi

Luật Trời kia chuyển hóa đọa đày

Lâm chung hồn xuống địa đàng

Thọ hình quả báo những gì gớm ghê

Lụi, đâm, quay, nướng, lột da

Moi gan, móc ruột, rút gân nấu dầu

Quết, giã, xay, xát, băm nhừ

Búa, rìu, dao rựa, đồng thời bửa, đâm

Quăng hồn cho rắn nuốt ăn

Rừng đao núi lửa cũng quăng liệng vào

Nơi địa ngục âm tào Địa Phủ

Những hồn linh hung dữ vào ra

Nhất là những kẻ hại dân

Nhân luân quả báo xoay vần khốn nguy

Gian tà hại nước hại non

Ỷ quyền ỷ chức hại dân khốn cùng

Lâm chung hồn đọa mấy tầng

Địa Lao chịu mãi cực hình dài lâu

Làm con hại Mẹ hại Cha

Đây là tội lớn phải sa ngục tù

Đọa vào hỏa ngục hành hình

Nghìn muôn ức kiếp biết đời nào ra

Làm người phản hại nước non

Hồn lìa khỏi xác chuyển xoay ngục tù

Chìm trong bể ngục đen sì

Làm mồi cho rắn nuốt thời thịt xương

Làm người hủy báng kinh luân

Họa tai, tai họa triền miên đọa đày

Địa ngục thịt nát xương lìa

Đọa vào ngạ quỷ cùng là súc sanh

Muôn đời vạn kiếp chuyển luân

Hết mong trở lại đầu thai làm người

Thất kính đối với Cha Trời

Chết đi phải chịu hành hình gớm ghê

Đói khát nào có được ăn

Đớn đau tra tấn, rút gân nấu dầu

Chết đi sống lại ức ngàn

Ăn đồng uống sắt cháy thời ruột gan

Lại thêm chim sắt mổ ăn

Đớn đau khủng khiếp nát tan linh hồn

Địa ngục khiếp vía kinh hoàng

Bởi do thất kính Cha Trời mà ra

Ác tâm thời đọa âm ti

Thiện tâm thì được sanh lên Thiên Đàng

Trước gian sau lại thiện lành

Cũng thành chánh quả hết vào âm ti

Trước ác sau lại ăn năn

Không sa địa ngục siêu sanh về Trời

Chỉ cần bỏ ác đi rồi

Tâm hồn nhẹ bỗng cuộc đời thênh thang

Siêu đọa đều bởi do tâm

Gieo gì gặt nấy chẳng tầm đâu xa

Gieo ác địa ngục phải sa

Thiện lành thì được sanh lên Thiên Đàng

Nam Mô A Men.

*     *     *

TỤNG ĐỌC LONG HOA BÁT NHÃ TÂM KINH.

(trang số: 274 - 281)

--------------------------------------------------

9 - VĂN KHẤN NGÀY 23 THÁNG CHẠP

a) Ý nghĩa

Ngày 23 tháng Chạp (tháng 12) âm lịch hằng năm là ngày chúng ta tưởng nhớ tới công ơn của các vị thần mà dân gian thường gọi: Ông Công (Thần Thổ Công/ Thần Thổ Địa), Ông Táo (Thần trông coi việc bếp). Trong thế giới tâm linh, vị Thần Thổ Địa có nhiệm vụ trông coi nơi mình ở hoặc đôi khi là một mảnh đất của gia chủ. Hiện nay, ở một số nơi nhiều người thường dâng cúng 3 con cá chép (cá vàng) đặt cạnh mâm cỗ cúng, sau khi làm lễ xong đem ra sông/ hồ thả với mong muốn cá chép hóa rồng, vượt vũ môn, làm phương tiện cho Táo Quân cưỡi về Trời. Nhưng thực chất việc làm này không có ý nghĩa về mặt tâm linh. Cả việc đốt giấy mã Ông Công, Ông Táo, cá chép giấy cũng vậy. Đây là việc làm không cần thiết mà lại gây lãng phí, vì thiếu hiểu biết về thế giới vô hình mà đi vào mê tín. Các vị Thần đâu có sử dụng đồ bằng giấy mà người phàm dâng cúng hoặc đốt hóa.

Quý vị nên nhớ, chúng ta không là nô lệ của Địa La Thần hay Thiên La Thần mà chúng ta chỉ tôn quý, kính trọng, ghi nhớ công ơn với những người có công mà thôi.

 b) Vị trí và Lễ vật

 - Tuỳ thuộc vào tâm ý của mỗi gia đình, quý vị có thể dâng cúng đồ chay hoặc đồ mặn, nhưng không thể thiếu: hương, hoa, trà (nước), quả, đèn (nến).

 - Vị trí: tại khu vực bếp trong gia đình, quý vị nên đặt đồ cúng trên bàn.

c) Văn khấn

NAM MÔ KHAI HÓA TỐI THƯỢNG TỔ TIÊN VÔ BIÊN NHƯ LAI (lạy).

NAM MÔ LONG HOA CỬU HUYỀN THIÊN PHỤ ẤN QUANG TỐI THẮNG NHƯ LAI (lạy).

NAM MÔ TIÊN CƠ ĐỨC MẸ ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH NHƯ LAI (lạy).

NAM MÔ A MEN.

NAM MÔ ĐỨC HƯ KHÔNG TẠNG DIỆU KHÔNG VÔ BIÊN NHƯ LAI (lạy).

Gia chủ con thành tâm kính bái các vị: Thần Thổ Công, Thần Táo Quân ngụ tại ngôi nhà/ mảnh đất này (bái/ vái).

Hôm nay, nhằm ngày 23 tháng Chạp năm.....

Gia đình chúng con gồm có các thành viên:.....

Ở tại địa chỉ:..... Xóm/ Đường:..... Thôn/ Tổ dân phố:..... Xã/ Phường:..... Quận/ Huyện:..... Tỉnh/ Thành phố:..... Nước Việt Nam.

Đem lòng thành kính dâng lên: Nhang, đèn, hương, hoa, trà, quả... Trước là để phụng báo: Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu, Đức Quốc Tổ Hùng Vương. Sau là cúng dường, tưởng nhớ công ơn của các vị Thần có công, ngụ tại ngôi nhà và mảnh đất này. Nhờ có các vị mà gia đình chúng con trong năm vừa qua được hưởng sự an lành, yên ổn.

Con cúi xin Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu, Đức Hư Không Tạng, ban xuống ân sâu, hộ độ, khai tâm, khai trí cho các vị Thần tại mảnh đất này để họ sớm hoàn thành công quả, công đức phước báo đủ đầy, sớm đạt ngộ chân tâm chân tánh, hội nhập Bản Thể Linh Giác Vũ Trụ Tổ Tiên Khai Hóa, lên ngôi chánh đẳng chánh giác.

*     *     *

NAM MÔ A MEN (lạy 3 lạy, bái 4 bái)

--------------------------------------------------

10 - VĂN KHẤN ĐÊM GIAO THỪA
TRONG NHÀ (18h - 24h đêm)

 (gõ 1 tiếng chuông để mở đầu Nghi Lễ)

CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:

NAM MÔ KHAI HÓA TỐI THƯỢNG TỔ TIÊN VÔ BIÊN NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).

CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:

NAM MÔ LONG HOA CỬU HUYỀN THIÊN PHỤ ẤN QUANG TỐI THẮNG NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).

CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:

NAM MÔ TIÊN CƠ ĐỨC MẸ ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).

CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:

NAM MÔ ĐỨC HƯ KHÔNG TẠNG DIỆU KHÔNG VÔ BIÊN NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).

CON THÀNH TÂM KÍNH LẠY 100 ÔNG BÀ TIÊN TỔ, CHƯ HƯƠNG LINH GIA TIÊN TIỀN TỔ NỘI NGOẠI. (lạy)

CON THÀNH TÂM KÍNH BÁI PHẬT THÁNH TIÊN THẦN CHÚA KHẮP PHÁP GIỚI MƯỜI PHƯƠNG (bái).

Nay đang là thời khắc thiêng liêng đêm giao thừa, chuyển giao từ năm cũ..... sang năm mới.....

Gia đình chúng con gồm có các thành viên:.....

Ở tại địa chỉ:

Xóm/ Đường:..... Thôn/ Tổ dân phố:..... Xã/ Phường:..... Quận/ Huyện:..... Tỉnh/ Thành phố:..... Nước Việt Nam.

Đem lòng thành khẩn, thành kính, thành tâm dâng lên: nhang, đèn, hương, hoa, trà, quả... cúng dường.

Trước là Phụng báo:

+ Khai Hóa Tổ Tiên

+ Cha Trời Lạc Long Quân.

+ Địa Mẫu Âu Cơ

+ Long Hoa Giáo Tổ, Di Lặc, Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương, 100 Ông Bà Tiên Tổ.

Sau là tưởng nhớ tới công ơn của chư hương linh gia tiên tiền tổ nội ngoại.

Ngưỡng mong ơn trên, Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu, Đức Quốc Tổ Hùng Vương, Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới mười phương. Ba thời, quá khứ, hiện tại, vị lai. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ.

Chứng tri công đức ban xuống ân sâu. Hộ độ chúng con, năm mới bình an, thịnh vượng, cháu con hiếu thuận, thông minh sáng láng, gia đình yên vui, hạnh phúc.

(Tuỳ việc làm phước thiện lớn hay nhỏ, quý vị nên hồi hướng công đức cho ông bà cha mẹ con cái, gia đình, quê hương, đất nước, v.v…)

Nguyện cầu cho Ông Bà, Cha Mẹ, họ hàng người thân, đã mất sớm được tái kiếp làm người hoặc được siêu sanh về nơi tốt đẹp.

NAM MÔ A MEN

*     *     *

KINH CHÚ

Nam Mô Khai Hóa Tổ Tiên

Hiện Thân Hai Đấng Cửu Huyền Tối Cao

Sanh Ra Nhân Loại Con Người

Ông Bà, Cha Mẹ, Đến Thời Chúng Con

A MEN

*     *     *

KINH CẦU NGUYỆN

Dâng hương lễ lạy Cửu Huyền

Hiển linh gia hộ khắp miền cháu con

Huệ khai phước lộc đầy tràn

Gia đình hòa thuận, cháu con sum vầy

*     *     *

CHÚ NGUYỆN

Nguyện cho tất cả thế nhân

Sớm lên tiên giới sớm gần Mẹ Cha

Sớm gần cội gốc Long Hoa

Về nơi giải thoát vào nhà rồng tiên

*     *     *

NAM MÔ A MEN

*     *     *

Việt Nam Văn Hóa Cội Nguồn

Đơm hoa kết trái đổi màu xuân xanh

Ánh mặt trời bừng lên tỏa sáng

Dậy hào hùng rợp bóng Rồng Tiên

Trời nam rực rỡ thiêng liêng

Gió xuân tràn ngập an vui thái bình

Nền văn hóa tràn đầy hạnh phúc

Lướt ngàn mây ung đúc ấm no

Việt Nam khúc hát tự do

Con Hồng cháu Lạc đơm hoa chuyển mình

Bừng non nước tràn đầy hưng thịnh

Cảnh giàu sang tràn ngập văn minh

Việt Nam rạng rỡ năm châu

Việt Nam hội tụ một bầu anh linh

Nền văn hóa chuyển mình tỏa sáng

Định pháp mầu Thiên Ý Trời Cha

Mưa xuân gió thịnh nở hoa

Trời xuân nở rộ Phụng bay Rồng chầu

Lời vàng ngọc vạn tầng mây báu

Ý diệu huyền rõ thấu huyền cơ

Việt Nam muôn vạn bài thơ

Địa linh thánh địa bến bờ thoát siêu

Cửa Trời rộng mở nơi đây

Đón người trần tục siêu bay về Trời

Việt Nam mãi mãi rạng ngời

Việt nam con Lạc cháu Hồng muôn năm.

*     *     *

NAM MÔ A MEN

Nam mô Phật, nam mô Thánh, nam mô Tiên, nam mô Thần, nam mô Chúa, cứu khổ cứu nạn.

Thiên la Phật, thiên la Thánh, thiên la Tiên, thiên la Thần, thiên la Chúa, cứu khổ cứu nạn.

Địa la Phật, địa la Thánh, địa la Tiên, địa la Thần, địa la Chúa, linh linh ứng hóa.

Thân ly nạn, nạn ly thân, nhất thiết tai ương hóa vi trần.

Thân ly nạn, nạn ly thân, nhất thiết tai ương hóa vi trần.

Thân ly nạn, nạn ly thân, nhất thiết tai ương hóa vi trần.

Ly bà ly bà đế, cầu ha cầu ha đế

Đa ra ni đế, ni ha ra đế, tỳ lê nể đế

Ma ha già đế, chơn lăng càng đế

Ta Bà Ha.

NAM MÔ A MEN.

(gõ chuông đồng bái lạy. Lạy 4 lạy, bái 4 bái)

*     *     *

KHAI KINH KỆ

Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu

Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu

Nay con gặp đặng chuyên trì tụng

Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu.

*     *     *

TỤNG ĐỌC LONG HOA VÔ NGẠI ĐẠI BI THẦN CHÚ

(trang số: 254 - 273)

TỤNG ĐỌC LONG HOA BÁT NHÃ TÂM KINH

(trang số: 274 - 281)

--------------------------------------------------

11 - VĂN KHẤN ĐÊM GIAO THỪA
NGOÀI TRỜI

Ý NGHĨA CỦA VIỆC CÚNG GIAO THỪA CUỐI NĂM

Ngày giao thừa rất quan trọng mang cả triết lý đời sống lẫn triết lý tâm linh. Là ngày chuyển giao giữa năm cũ và năm mới. Nó được coi là ngày tạ ơn, ngày đền ơn đáp nghĩa. Tuỳ thuộc vào hoàn cảnh mỗi gia đình, nên cúng khoảng thời gian 18h - 24h đêm tại bàn thờ trong nhà. Hay thường thắp nhang nơi bàn thiên ngoài sân vào thời khắc khi chuẩn bị bước sang năm mới.

Ngày cúng giao thừa là ngày Ông Bà Cha Mẹ, con cái đoàn tụ, hỷ xả, an lạc, ngày ân xá, hưởng thái bình cho năm mới, trên con đường về Cội về Nguồn. Cả dương gian lẫn âm cảnh đều như nhau, đó là ngày hội tụ của Ông Bà, Cha Mẹ để chào đón năm mới. Nó cũng mang ý nghĩa là ngày tạ ơn, cho những con người đã hỗ trợ và phù hộ cho mình cả năm để kết thúc năm cũ, mình có được bao nhiêu thành quả thì phải biết tạ ơn cho cả cảnh giới hiện hữu lẫn vô hình. Cũng là ngày thành quả, giống như mình đi làm từ sáng tới chiều thì chiều chính là thành quả của một ngày làm việc của mình. Vào thời khắc giao thừa, chúng ta nên cầu nguyện, tụng kinh luân, đọc chú ấn, làm phước thiện để cầu bình an cho năm mới, hồi hướng công đức cho tất cả (ví dụ như: ông bà cha mẹ con cái, gia đình, quê hương, đất nước v.v…).

Địa điểm cúng: tuỳ thuộc vào hoàn cảnh và điều kiện của mỗi gia đình. Nhưng thường là: ngoài sân hoặc trên sân thượng.

(gõ 1 tiếng chuông để mở đầu Nghi Lễ)

NAM MÔ KHAI HÓA TỐI THƯỢNG TỔ TIÊN VÔ BIÊN NHƯ LAI (gõ chuông - lạy).

NAM MÔ LONG HOA CỬU HUYỀN THIÊN PHỤ ẤN QUANG TỐI THẮNG NHƯ LAI (gõ chuông - lạy).

NAM MÔ TIÊN CƠ ĐỨC MẸ ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH NHƯ LAI (gõ chuông - lạy).

NAM MÔ A MEN

NAM MÔ ĐỨC HƯ KHÔNG TẠNG DIỆU KHÔNG VÔ BIÊN NHƯ LAI (gõ chuông - lạy).

CON THÀNH TÂM KÍNH LẠY 100 ÔNG BÀ TIÊN TỔ (lạy).

CON THÀNH TÂM KÍNH BÁI PHẬT THÁNH TIÊN THẦN CHÚA KHẮP PHÁP GIỚI MƯỜI PHƯƠNG (bái).

 

Nay đang là thời khắc thiêng liêng đêm giao thừa, chuyển giao từ năm cũ..... sang năm mới.....

Gia đình chúng con gồm có các thành viên:.....  

Ở tại địa chỉ:

Xóm/ Đường:..... Thôn/ Tổ dân phố:..... Xã/ Phường:..... Quận/ Huyện:..... Tỉnh/ Thành phố:..... Nước Việt Nam.

Đem lòng thành khẩn, thành kính, thành tâm dâng lên: nhang, đèn, hương, hoa, trà, quả... cúng dường.

Trước là phụng báo:

+ Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu.

+ Long Hoa Giáo Chủ, Di Lặc, Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương, 100 Ông Bà Tiên Tổ.

Sau là tưởng nhớ tới:

+ Ơn Đồng Bào

+ Ơn Tổ Quốc

+ Ơn Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa

+ Ơn Thầy, Cô dạy dỗ.

Ngưỡng mong ơn trên, Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu, Đức Quốc Tổ Hùng Vương, Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới mười phương. Ba thời, quá khứ, hiện tại, vị lai. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ.

Chứng tri công đức ban xuống ân sâu. Hộ độ cháu con, khắp nơi trên đất nước Việt Nam, đồng bào người Việt trong và ngoài nước, nhà nhà may mắn, bình an, người người hân hoan, hạnh phúc, đồng hướng về Nguồn Cội.

Nam Mô A Men.

KINH CẦU NGUYỆN

Dâng hương lễ lạy Cửu Huyền

Hiển linh gia hộ khắp miền cháu con

Huệ khai phước lộc đầy tràn

Gia đình hoà thuận, cháu con sum vầy.

*     *     *

SÁM GIÁC CA

Một lòng quy kính Tổ Tiên

Cha Trời, Địa Mẫu, Cửu Huyền Long Hoa

Hành thiện điều ác tránh xa

Trăm lành vạn phúc cái vui nào bằng

Hành thiện siêu sanh Thiên Đàng

Cung Trời sống mãi hết còn khổ đau

Cội Nguồn Văn Hóa cao sâu

Thậm thâm vi diệu biết bao cơ mầu

Thiên Luật, Thiên Ý Cha Trời

Chỉ cần làm được một lời cũng linh

Cha Trời hộ độ khai tâm

Phật, Tiên, Thánh, Chúa chẳng tầm đâu xa

Ngộ rồi trí huệ sáng soi

Tử sanh, sanh tử rõ thông an nhàn

Cội Nguồn kinh giáo Đạo Tràng

Như liều Thánh Dược cứu đời khốn nguy

Nghịch Thiên thời được cái chi

Muôn điều tai họa hết mong yên bình

Tai ương khắp chốn khắp cùng

Chỉ vì nghịch lại Ý Trời mà ra

Cầu lên ba đấng Ông Cha

Tối cao vũ trụ khai sinh Đất Trời

Quyền năng vô hạn tột cùng

Khai sinh tất cả vạn loài Tam Thiên

Thuận Trời muôn sự bình yên

Vạn lành muôn phúc việc chi cũng thành

Thuận Thiên tai họa tiêu trừ

Gia đình họ tộc rạng ngời danh thơm

Ông Bà Cha Mẹ siêu thăng

Cũng nhờ công đức Thuận Thiên Cha Trời

Cầu lên ba đấng cao vời

Quyền năng tột đỉnh giúp thời chúng con

Sống thời thường được bình an

Mọi điều suôn sẻ khó khăn cũng lành

Cầu xin Quốc Tổ Vua Hùng

Hiển Linh gia hộ khắp cùng chúng dân

Non sông Tổ Quốc giang sơn

Sanh sôi cuộc sống thênh thang cơ đồ

Khắp nơi phồn thịnh sang giàu

Nơi nào cũng được ngập tràn ấm no

Cầu cho Quốc Thới dân an

Nhà nhà hạnh phúc cháu con thuận hòa

Cầu cho Nam Việt nước nhà

Văn minh cuộc sống rạng ngời anh linh

Theo chân Quốc Tổ Hùng Vương

Nhân quyền dân chủ văn minh tột cùng

Dân giàu nước mạnh anh hùng

Việt Nam con cháu Tiên Rồng muôn năm

Nam Mô vạn sự bình yên

A Men như ý sám nguyền ứng linh

Nam Mô vạn sự đều nên

A Men như ý, ứng linh nhiệm mầu

Nam Mô vạn sự thỉnh cầu

A Men như ý, nguyện cầu ứng linh

Ta bà ha,

Án,

Tất điện đô mạn đà ra.

Bạt đà gia, ta bà ha.

Yết đế yết đế

Ba la tăng yết đế

Ba la tăng yết đế

Bồ đề tát bà ha

*     *     *

NAM MÔ A MEN (lạy 3 lạy, bái 4 bái)

*     *     *

KHAI KINH KỆ

Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu

Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu

Nay con gặp đặng chuyên trì tụng

Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu.

*     *     *

TỤNG ĐỌC LONG HOA VÔ NGẠI ĐẠI BI THẦN CHÚ

(trang số: 254 - 273)

TỤNG ĐỌC LONG HOA BÁT NHÃ TÂM KINH.

(trang số: 274 - 281)

--------------------------------------------------

CHƯƠNG IV
SỰ RA ĐỜI CỦA CON NGƯỜI

(Xem Long Hoa Mật Tạng Kinh, Long Hoa Thiên Tạng Kinh sẽ nói rõ hơn)

Đức Cha Trời cùng Đức Địa Mẫu, chọn lấy quả Địa Cầu Nam Thiện Bộ Châu. Quả Địa Cầu mà chúng ta đang sanh sống, làm nơi sanh sản con người trước nhất. Từ nơi chốn hư không trung tâm vũ trụ, Hai Đấng Tiên Rồng, Cha Trời, Địa Mẫu từ từ bay đến Trái Đất và đáp hạ xuống đỉnh núi Long Hoa, Long Hình Địa Cốt Trái Đất. Làm cho Trái Đất rung động. Chim muôn vạn thú kinh hoàng hoảng sợ, không biết điều gì đã xảy ra. Mây ngũ sắc bỗng nhiên xuất hiện. Dưới mặt đất muôn hoa chen nhau đua nở, cây cối khô héo lâu ngày bỗng đâm chồi nảy lộc xanh tươi trở lại. Sông suối khô cạn, tự nhiên nguồn mạch sung túc rốc rách chảy tuôn thấm nhuần mặt đất. Bầu Trời mát mẻ trong xanh, Nhật Nguyệt Tinh Tú thi nhau tỏa sáng. Dưới đất trên cây Phụng Hoàng nhảy múa. Rồng uốn khúc ngúc ngoắt vẫy đuôi, 8 muôn 4 nghìn loài như đi vào an lạc mới.

Từ nơi ngọn núi Long Hoa, muôn đạo hào quang tỏa lên rực rỡ, mang theo mùi hương thơm ngát. Loài Cầm Thú nào hít được thì không còn đói khát, như uống phải Cam Lộ, Linh Đơn. Linh Hồn phấn chấn như muốn bay bổng lên Trời. Các loài Cầm Thú có pháp thuật thần thông, thấy ngọn núi Long Hoa, muôn Đạo hào quang tỏa lên rực rỡ thì bốn phương tám hướng quả Địa Cầu, các loài Thần Thú, Thần Cầm lũ lượt bay đến làm cho ngọn núi Long Hoa trên không dưới đất chật nghẹt. Ngày hội của Thú Cầm.

Đây nói về Đức Cha Trời cùng Địa Mẫu đáp xuống ngọn núi Long Hoa gây ra chấn động Địa Cầu. Liền thâu nhỏ thân hình lại cao độ vài mươi trượng mà thôi. Đức Địa Mẫu Âu Cơ liền gồm thâu ngũ khí: Địa, Kim, Mộc, Thủy, Hỏa ở bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc và Thổ khí linh truyền sâu dưới dãy núi Long Hoa để tạo thành phôi thai trăm trứng cùng trong một cái bọc to lớn trong bụng Đức Mẹ Địa Mẫu Âu Cơ.

Núi Long Hoa là dãy núi hình Rồng, thu hút Tinh Hoa của Trời Đất hàng triệu triệu năm: Vô Cực, Lưỡng Nghi, Âm Dương gồm đủ, Tứ Tượng đủ đầy, Bát Quái chuyển xoay, Ngũ Hành, Địa Chi không thiếu, một trăm chi khí, trấn khắp ngũ phương Đông, Tây, Nam, Bắc, Trung Uơng Thượng, Hạ.

Đức Địa Mẫu Âu Cơ tóm thâu Tinh Hoa, khí hóa Ngũ Địa của dãy núi, chân núi Long Hoa là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ kết tụ thành trăm trứng trong một bọc, trăm trứng vì vậy cũng chia thành năm màu da khác nhau.

Kim trứng da trắng. Mộc trứng da chàm. Thủy trứng da đen. Hỏa trứng da đỏ. Thổ trứng da vàng.

Sự hình thành phôi thai, dưỡng nuôi bào thai phải trải qua một thời gian khá lâu, đúng chu kỳ quy luật tự nhiên ở đỉnh cao tuổi thọ giữa tiểu kiếp thứ 5, con người sanh ra trung bình thọ 60 nghìn tuổi, yểu 40 nghìn tuổi, thọ 80 nghìn tuổi. Nên Địa Mẫu Âu Cơ phải mang thai 9 năm, 9 tháng, 10 ngày thời thai nhi mới phát triển đầy đủ, lục phủ ngũ tạng, sáu căn, chín khiếu hoàn hảo. Trở thành con người hài nhi (xác thân tiểu thiên vũ trụ), Tinh Cha, Huyết Mẹ, Tinh của Trời, Khí của Đất. Đức Địa Mẫu Âu Cơ đã mang thai trăm trứng. Sắp đến ngày khai hoa nở nhuỵ, nhân loại con người sẽ ra đời, chào đời, sắp đến giờ quan trọng ấy.

Đức Địa Mẫu Âu Cơ nói với Đức Long Hoa Cha Trời rằng: Này ông, giờ thì đến lượt ông, ông hãy gọi muôn loài Cầm Thú đến, để chúng đầu thai làm con người, làm con của chúng ta.

Đức Long Hoa Cha Trời nghe Địa Mẫu Âu Cơ nói thế tức thời từ nơi cửa miệng của Đức Long Hoa Cha Trời, trùng trùng điệp điệp lớp lớp hào quang tua tủa phóng ra, tạo ra vô số vô biên âm thanh vi diệu, truyền xa đến tận chân trời góc bể khắp quả Địa Cầu.

Chim muôn vạn thú là những con chúa tể đầu đàn nghe được âm thanh ấy liền cấp tốc lên đường đến nơi Cha Trời đang gọi. Lúc bấy giờ xa gần trên không, xa gần ở đỉnh núi Long Hoa. Lớp lớp mây ngũ sắc biến thành cây báu khổng lồ, các loài Cầm Thú khắp mặt Địa Cầu, loài ở động ở hang, loài ở rừng ở núi, loài ở cây ở đất, loài ở sông ở biển, loài ở tuyết ở lửa, thi nhau bay đến ngọn núi Long Hoa rợp trời rợp đất. Nhìn các loài Cầm Thú đông vô số vô biên, không thể tính đếm không thể nghĩ bàn, lớp ở mặt đất, lớp ở trên cây báu, lớp ở trên không, Chúa Tể của loài bò sát, Cầm Thú đều có mặt.

Các loài Thần Thú, Thần Cầm thấy hai Đấng Tiên Rồng, cao lớn kỳ lạ. Hào quang sáng rỡ muôn màu muôn sắc. Xinh đẹp tôn nghiêm. Nhưng rất hiền lành, có loài bạo dạn đến gần để nhìn cho rõ.

 Địa Mẫu Âu Cơ thấy Chúa Tể của muôn loài đến đông đủ, toàn thân của Địa Mẫu Âu Cơ, trỗi dậy vô lượng mùi hương lan tỏa khắp, muôn loài Cầm Thú, Bò Sát chỉ cần hít vào, không những hết đói khát cả tháng mà Linh Hồn cũng sáng suốt minh mẫn lạ thường, nhạy cảm vô biên.

Nhất là loài Rồng, loài Phụng, loài Khổng Tước, loài Kỳ Lân, loài Voi, loài Sư Tử, loài Ngựa, Trâu, Dê, Chó, Mèo, v.v… Đức Long Hoa Cha Trời thấy chúng nó đã hít huệ hương, trí hương, giác hương, giới hương, định hương, thiện hương, dũng hương, tín hương, nghĩa hương, lễ hương, nhẫn hương, xả hương, nhịn hương, nhục hương, lạc hương, thiên hương, v.v… Liền dùng trăm nghìn muôn ức hào quang phát ra muôn vạn âm thanh vi diệu, cùng một lúc thuyết giáo nói chuyện với muôn nghìn chủng loại Cầm Thú, Bò Sát.

LỜI TRUYỀN DẠY CỦA ĐỨC CHA TRỜI

Hỡi các loài Cầm Thú, các loài Bò Sát, ta đây là Đấng Chúa vũ trụ, Đấng tạo lập lên tất cả. Nay ta gọi các ngươi đến đây nói rõ các ngươi từ đâu có ra thì các ngươi phải hiểu để biết đường trở về, thoát khỏi cảnh luân hồi sanh tử, thoát khỏi cảnh ngu si khốn khổ. Khi xưa ta tạo ra Lực, Khí, Lửa, Nước, Đất Ngũ Đại vũ trụ. Thành lập Tam Thiên, Đại Thiên thế giới, ba cõi vật chất Thiên Đàng, Trần Gian, Âm Phủ. Tạo ra Nhật, Nguyệt, Thiên Hà, Ngân Hà, Tinh Tú, Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ sau cùng là 4 quả Địa Cầu. Thì ta cũng đã quá mệt nên đi vào giấc ngủ say sưa. Ta có một cái tánh đặc biệt, khi ta thức thì pháp thân ta Quang Minh, nhưng khi ta đi vào giấc ngủ say sưa, không kiểm soát được pháp thân của ta nữa. Pháp thân ta liền trở thành vô minh, xâm nhập vào thế giới vật chất.

Khởi tưởng phân biệt bám lấy vật chất, từ bản thể linh giác Thấy, Nghe, Hay, Biết tự nhiên của ta, nẩy sanh khởi tưởng phân biệt, tức thời thân ta một phần lớn bể ra từng mảnh nhỏ, nhiều vô số vô biên không thể tính đếm, không thể nghĩ bàn như vô số vi trần cát bụi vô tận vô biên. Những mảnh bể Linh Hồn đó đã trải qua vô lượng vô biên số kiếp, tiến hóa ý thức, những mảnh Linh Hồn đó chính là Linh Hồn của các ngươi.

Linh Hồn của các ngươi ví như bọt nước, còn Linh Hồn của ta ví như nước. Bọt nước từ nước sanh ra nhưng bọt nước không biết Cội Nguồn của mình là nước. Ta là Đại Linh Hồn vũ trụ còn các ngươi là Tiểu Linh Hồn vũ trụ. Tiểu Linh Hồn từ Đại Linh Hồn mà ra nhưng Tiểu Linh Hồn các ngươi không biết đường về, bởi vì các ngươi sanh ra mang theo cái tánh vô minh ấy của ta, trở thành tánh ngu si của các ngươi, cũng từ cái tánh ngu si này, dẫn dắt các ngươi đến con đường hung ác, con đường Dục Vọng, cấu xé ăn nuốt lẫn nhau và mãi mãi trong thống khổ, dục vọng điên cuồng.

Không những các ngươi khốn khổ trong cuộc sống sát phạt, ăn nuốt lẫn nhau mà còn khốn khổ trong sanh tử luân hồi đọa đầy khắp nẻo. Khốn khổ trong bộ mấy tuần hoàn vũ trụ, Thành, Trụ, Hoại, Không. Linh Hồn các ngươi phải chìm đắm trong lạnh lẽo, tối tăm ở kiếp Không hàng trăm triệu năm.

Linh Hồn của ta ví như nước, Linh Hồn của các ngươi là bọt nước. Bọt nước với nước chính là một không phải hai, mà là hai vì Linh Hồn của các ngươi là bọt nước còn Linh Hồn của ta là nước mà thôi. Nước không xa rời bọt nước, chính bọt nước không biết đấy thôi, Linh Hồn bọt nước của các ngươi đang sống trong Đại Linh Hồn vũ trụ nước của ta vì bọt nước và nước không tách rời nhau, nếu bọt nước tách rời khỏi nước thì bọt nước sẽ bị hủy diệt. Linh Hồn của các ngươi cũng vậy, nếu tách rời khỏi Đại Linh Hồn vũ trụ của ta thì Linh Hồn các ngươi sẽ bị hủy diệt ngay. Các ngươi nghĩ gì, làm gì ta đều nghe thấy tất cả, cũng giống như cá sống trong nước, cá làm gì, nghĩ gì nước đều thấy rõ.

Thân xác của các ngươi là thân xác Cầm Thú, Bò Sát khó mà tiến hóa lên được nữa, Linh Hồn của các ngươi mãi là Linh Hồn Cầm Thú, Bò Sát, đầu thai qua lại ăn nuốt sát phạt, trả quả cho nhau khổ mãi không ngừng.

Các ngươi nên nhân cơ hội này xả bỏ xác thân Cầm Thú, Bò Sát, Linh Hồn đầu thai vào loài người, một thể xác cao cấp thể xác Tiểu Thiên vũ trụ. Không những Linh Hồn các ngươi tiến hóa rất nhanh trí huệ vô tận, nhờ thân xác con người các ngươi tiến tới làm chủ được mình, làm chủ vũ trụ, không những các ngươi thoát khỏi loài Thú, Cầm, Bò Sát, ngu si đần độn. Mà các ngươi còn được làm người đứng thẳng, đầu đội Trời chân đạp Đất, làm con của ta, thoát khỏi ngu si đần độn, các ngươi sẽ thay ta, trông coi vũ trụ, đầy đủ Thần Thông trí huệ, phước báo pháp lực vô biên, tạo lập lên thế giới Thiên Đàng Cực Lạc, sống mãi không chết, thoát khỏi Sanh, Lão, Bệnh, Tử.

Loài nào đầu thai làm người trước, loài đó sẽ ở ngôi vị Chí Tôn, làm đàn anh của loài người và tiếp theo ngôi vị sẽ phân theo thứ lớp.

Khi Đức Long Hoa Cha Trời thuyết giáo xong, liền có 100 Thần Thú, Cầm, Bò Sát là những Chúa Tể đứng đầu. Thú, Cầm, Bò Sát vui mừng khôn xiết liền xả bỏ thể xác, đầu thai nhập vào bụng Mẹ Âu Cơ.

 - Chúa Tể loài Rồng xả bỏ thân xác nhanh chóng, đầu thai trước nhất ở ngôi số 1,

 - Kế đến là Phụng Hoàng, Khổng Tước, Kỳ Lân ở ngôi số 2,

 - Kế đến là Voi, Sư Tử ở ngôi số 3

 - Rồi đến Ngựa, Trâu, Hổ, Gấu, Khỉ, Chó, Mèo, v.v… (năm ngôi).

Từ khi Chúa Tể của các loài Cầm, Thú, Bò Sát đầu thai vào bụng Mẹ Địa Mẫu Âu Cơ để được làm người, làm con Trời phải trải qua chín năm, chín tháng, trăm ngày mới chào đời, trong thời gian ấy Đức Địa Mẫu Âu Cơ phải luôn luôn tóm thâu tinh hoa khí hóa Thiên Địa để nuôi con từng ngày từng giờ. Với công lao ấy không có gì đền đáp nổi.

Đức Cha Trời nhìn sự kham khổ của Địa Mẫu liền ngẫm nghĩ. Vì muốn sanh ra nhân loại con người, lưu truyền nòi giống con người. Để cho muôn loài vạn vật, Côn Trùng, Thảo Mộc muôn loài Cầm Thú tiến hóa lên, được đầu thai làm người. Tiến hóa Linh Hồn trở về Nguồn Cội giải thoát sanh tử, khốn khổ. Địa Mẫu Âu Cơ mang thai theo quy luật tự nhiên của phàm trần, theo thời kỳ ấy, thì những người con của Địa Mẫu mới ở lại sống trong chốn nhân gian, nơi quả Địa Cầu này, một thứ khổ, mang thai, sanh con, nuôi con mà Địa Mẫu Âu Cơ là người đầu tiên trải qua kham khổ, khổ nhọc ấy.

Thật ra mà nói với Thần Lực của Đức Cha Trời và Địa Mẫu thì không cần mang thai đẻ con lâu như vậy (mà chỉ cần nháy mắt là tạo ra hàng loạt con người). Nhưng những con người đó chỉ là những con người bằng pháp thuật không phải con người trần tục, xác thân phàm trần, ăn uống đói khát theo quy luật tự nhiên, sanh con đẻ cháu lưu truyền nòi giống con người, chịu kham khổ tu hành tiến hóa, lập công trong Văn Hóa Cội Nguồn, tiến lên cảnh giới Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa lối sống có nhân có quả, gieo thiện gặt thiện, gieo ác gặt ác, gieo phúc gặt phúc, gieo họa gặt họa theo quy luật tự nhiên.

Vì vậy để khai tạo ra con người phàm tục, sống chung với muôn loài vạn vật, Đức Địa Mẫu Âu Cơ phải trải qua sự khốn khổ mang thai, nuôi thai, sanh con đều trải qua sự khốn khổ lâu dài 9 năm 9 tháng 10 ngày mới khai hoa nở nhuỵ.

Đức Địa Mẫu Âu Cơ đã biết sắp đến giờ sanh nở, bằng nói với Đức Long Hoa Cha Trời rằng:

Ông hãy ban cho con cái lời nguyền Hồng Phúc đi.

Đức Long Hoa Cha Trời nhìn về vũ trụ giang sang rộng lớn của mình, chưa có người trông coi và sáng tạo thêm cho xinh đẹp. Lập thành các cõi nước Trời trang nghiêm. Đức Cha Trời lại nghĩ rằng. Ta là hiện thân của Đức Tổ Tiên, đấng tối cao vũ trụ, đấng chúa của Linh Hồn và Vật Chất. Ta cũng cần có người kế nghiệp, đó chính là con cái của ta, thay thế ta làm chủ vũ trụ. Đức Cha Trời lại nghĩ, pháp thân ta vô cùng Vi Diệu khó mà nghĩ bàn. Đó là Cội Nguồn của tất cả Trời Đất, vạn vật sanh linh cùng vũ trụ, pháp thân ta là pháp thể Đại Đồng, Tự Do, Bình Đẳng, Hiến Pháp công đạo vũ trụ. Ta cũng cần có người thay thế, duy trì Công Đạo vũ trụ, cầm cân nảy mực phân minh.

NÊN ĐỨC CHA TRỜI PHÁN TRUYỀN RẰNG:

Nầy hỡi các con của Ta, khi các con chào đời sẽ vang tiếng sấm lớn, tiếng sấm trí tuệ, tiếng sấm uy quyền, tiếng sấm chúa tể, tiếng sấm làm chủ muôn loài vạn vật, tiếng sấm làm chủ vận mệnh, tiếng sấm làm chủ vũ trụ, ánh sáng trí huệ các con sáng khắp hư không vũ trụ, không chướng ngại, sáng hơn tất cả ánh sáng của muôn vạn mặt trời, sáng hơn hào quang của Ta.

Các con sẽ trở thành PHẬT, THÁNH, TIÊN, THẦN, CHÚA, làm chủ HIẾN TẠNG, LUẬT TẠNG, PHÁP TẠNG, MẬT TẠNG, THIÊN TẠNG. Vào năm ngôi báu của Ta, ngôi vị THẾ TÔN, ngôi vị CHÍ TÔN. Vào 10 ngôi tối cao VŨ TRỤ, ngôi vị THẾ TÔN PHẬT TỔ, THẾ TÔN THÁNH TỔ, THẾ TÔN TIÊN TỔ, THẾ TÔN THẦN TỔ, THẾ TÔN CHÚA TỔ, CHÍ TÔN PHẬT TỔ, CHÍ TÔN THÁNH TỔ, CHÍ TÔN TIÊN TỔ, CHÍ TÔN THẦN TỔ, CHÍ TÔN CHÚA TỔ. Thay thế Ta chuyển pháp luân vũ trụ tận độ sanh linh. Ta ban cho các con quyền sáng tạo, các con sáng lập lên các cõi nước Trời, thiên đàng cực lạc quốc làm cho vũ trụ, cũng như tam thiên, đại thiên thế giới, mỗi ngày mỗi thêm rực rỡ trang nghiêm hơn.

Lời nguyền của Đức Long Hoa Cha Trời vừa dứt, thì Địa Mẫu Âu Cơ đã sanh ra một bọc to lớn khổng lồ, sau đó là một tiếng nổ kinh thiên động địa, chấn động toàn vũ trụ, (tiếng sấm Đại Đồng). Kế theo là một trăm tiếng sấm nổ làm chấn động liên miên vũ trụ như muốn đến hồi sụp đổ. Như báo hiệu cho tất cả muôn loài vạn vật biết là nhân loại con người đã ra đời thay thế cha ông làm chủ vũ trụ, cai quản thế giới vật chất cũng như thế giới Linh Hồn, kế tục và gìn giữ cơ nghiệp vũ trụ của Ông Cha. Các loài Cầm Thú, Bò Sát vô cùng hoảng sợ, khiếp đảm khi nghe tiếng sấm vang dậy liên tiếp nổ ra làm rung chuyển cả Trời Đất, chấn động không gian vũ trụ, chúng linh cảm là hàng loạt Chúa Tể con người đã ra đời, từ đây chúng sẽ bị cai trị.

Chúng thấy trùng trùng điệp điệp muôn Đạo Hào Quang tỏa lên từ đỉnh núi Long Hoa, và không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Chúng liền bay lên không trung hướng về ngọn núi Long Hoa, mỗi lúc một dữ dội. Âm thanh sấm nổ cứ vang rền mãi không dứt, làm rung động cả núi rừng, cả năm châu bốn bể.

Nhất là ba con Quỷ tâm hồn hoảng loạn, run sợ không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Chúng liền bay lên không trung hướng về ngọn núi Long Hoa bay tới thì hết sức kinh hoàng. Một trăm người con của Đức Cha Trời đã ra đời. Những tia hào quang tỏa ra từ trăm người con của Đức Cha Trời, làm chúng đau đớn ngạt thở. Như hàng vạn mũi kim đâm vào tim chúng, làm chúng hoảng sợ, khiếp kinh ẩn mình, trốn thoát không dám quay đầu nhìn lại nữa.

Khi ấy những dòng sữa của Đức Mẹ Địa Mẫu Âu Cơ tuông chảy ra và mọc lên hàng loạt ngũ cốc, dần dần lan ra khắp cùng mặt đất. Khi con người đi đến đâu, thì nơi đó có dòng sữa Mẹ ngũ cốc để sinh sống.
--------------------------------------------------

CHƯƠNG V
THẦN CHÚ, ẤN CHÚ CỘI NGUỒN

1 - LONG HOA VÔ NGẠI ĐẠI BI THẦN CHÚ

Đồng trì tụng

Nam Mô hắc ra đát na dạ da

Trở về Nguồn Cội kính Cha Mẹ Trời

Lợi ích không thể nghĩ bàn

Chú linh Pháp Tánh MẬT TẠNG Như Lai

NAM MÔ: vô tận hư không

Quy Y kính lễ Tổ Tiên Cha Trời

A RỊ DA học tập nghe lời

Mật tạng linh chú khắp thời ứng linh

BÀ LÔ YẾT ĐẾ: thinh thinh

Quán tâm quán tánh chiếu lên sáng ngời

Rõ thông Thiện Ác ngộ rồi

THƯỚC BÁT RA DẠ linh thời ứng linh

Tự tại an trụ tự nhiên

Chú linh ấn chú vô biên khắp cùng

BỒ ĐỀ: giác tánh cao vời

TÁT ĐỎA sáng ngời đô lại ứng đô

Cha Trời pháp tướng hư vô

Khấu đầu đảnh lễ cầu chi cũng thành

MA HA: vô tận tột cùng

Phát tâm rộng lớn đại hùng vượt lên

Hằng hà số kiếp cứu dân

Làm cho hết khổ vượt qua não phiền

TÁT ĐỎA tận độ khắp cùng

Hiệp vào tạng tánh nhiệm mầu Như Lai

MA HA: số kiếp vô biên

Nương theo đại nguyện độ dân cứu đời

CA LÔ đức độ sáng ngời

Từ bi thương cả muôn loài chúng sanh

NI CA tâm đại bi tâm

Đại hùng đại lực phá tan não phiền

DA là ân đức Cha Trời

Thành tâm đảnh lễ linh thời ứng linh

ÁN: là Đức Mẹ thiêng liêng

Âu Cơ Địa Mẫu Mẹ chung muôn loài

Mẹ Trời Đức Mẹ bao trùm

Chỉ cần một niệm thoát cùng họa tai

Linh chú tạng tánh Như Lai

Chỉ cần một niệm cũng siêu về Trời

TÁT BÀN RA: tự tại cao vời

Tánh không tự tánh não phiền biến tan

PHẠT DUỆ xưng tán hồng danh

Cha Trời Địa Mẫu ứng linh tột cùng

Chú linh không thể nghĩ bàn

Chỉ cần đọc tụng linh thời ứng linh

SỐ ĐÁT NA: pháp tánh vô biên

Thần thông vô hạn khai sanh Đất Trời

Năng lực thù thắng vô cùng

Pháp Bảo Cội Nguồn thù thắng trang nghiêm

ĐÁT TỎA Thiên Bút lời kinh

Đại Viên cảnh trí ứng linh Cha Trời

Cầu lên Tam Bảo Cội Nguồn

Ứng linh, linh ứng khắp cùng chở che

Tạng tánh linh chú Như Lai

Ứng linh cảm ứng không sai bao giờ

NAM MÔ: Tạng tánh Cha Trời

Đà la ni pháp khắp thời hư không

TẤT KIẾN thấy rõ chứng thông

Như Lai mật tánh Cha Ông Cội Nguồn

Thành tâm thành ý một lòng

LẬT ĐỎA bản ngã nhơn hiền uy linh

Y MÔNG pháp nhẫn vô sanh

Hiệp vào tạng tánh Cha Ông nhiệm mầu

Linh linh ứng ứng khắp cùng

Nhất tâm đọc tụng cầu gì cũng linh

A RỊ DA Thánh Giả vô biên

Phật, Tiên, Thánh, Chúa hiệp theo Cha Trời

Ứng linh cùng khắp Đất Trời

Ứng theo tạng tánh Cội Nguồn chuyển xoay

BÀ LÔ KIẾT ĐẾ: quán soi

Phát tâm tận độ hà sa khắp cùng

THẤT PHẬT bảy báu giác lòng

RA vào tự tại nghe nhìn viên thông

LĂNG ĐÀ hải đảo núi non

Phổ Đà nam hải Quan Âm tịnh thiền

BÀ là hiển thị uy quyền

Quan Âm đại sĩ đại từ đại bi

Chú nầy linh ứng vô biên

Chỉ cần đọc tụng tiêu tan khổ sầu

Tiêu tan tai họa ngập đầu

Tiêu tan tai họa hận thù tiêu tan

NAM MÔ: thành kính quy y

NA RA một dạ nhớ ghi thiện lành

CẨN TRÌ thương hết chúng sanh

Cứu dân độ thế đền ơn Cha Trời

Chú nầy đọc tụng một lời

Tiêu tan tội ác vạn ngàn ức muôn

HÊ RỊ: thường phải tịnh tâm

Như như vắng lặng không không bến bờ

MA HA rộng lớn vô ngần

Cát tường như ý thường hằng tánh chơn

BÀN ĐÀ là đại bao dung

SA MẾ rực rỡ hào quang sáng ngời

Chiếu cùng khắp chốn khắp nơi

Đà la ni tánh ứng thời ứng linh

TÁT BÀ: tất cả chúng sanh

Đại Đồng Bình Đẳng như nhau, Đại Đồng

A THA ĐẬU phú lạc vô bần

Cầu chi cũng được là nhờ thiện tâm

Không làm mà cũng có ăn

Là nhờ Trời đãi Trời cho phúc lành

DU BẰNG tột thế sang giàu

Trang nghiêm sự nghiệp cũng nhờ luyện tu

Tánh Trời tạng tánh Như Lai

Chú tâm trì niệm ứng linh chẳng cùng

A: là tột thế đứng đầu

THỆ DỰNG tối thắng không gì cao hơn

Cha Trời Địa Mẫu Tổ Tiên

Không gì sánh được anh linh tột cùng

Trở về Nguồn Cội, Cội Nguồn

Thành tâm lễ bái linh thời ứng linh

TÁT BÀ TÁT ĐA: căn thân

Linh Căn vô nhiễm sạch trong Bồ Đề

NA MA tạng tánh Cội Nguồn

Trinh Nguyên trong sạch không gì nhiễm ô

BÀ TÁT ĐA thể tánh như như

Không thêm không bớt linh linh nhiệm mầu

Cội Nguồn thể tánh bao trùm

Thượng vô đẳng đẳng, khắp cùng hư không

NA MA đẳng đẳng linh thông

Tối vô thượng chú khắp trong Đất Trời

BÀ TÁT GIÀ tột thế uy quyền

Thượng vô đẳng đẳng, không gì cao hơn

Đà la ni thể tánh vô biên

Tổ Tiên tạng tánh chuyển xoay tột cùng

Chỉ cần một niệm trong lòng

Chú linh ứng chú khắp cùng ứng linh

MA PHẠT: tôn kính Cha Ông

ĐẠT ĐẬU cúi lạy cầu mong Cha Trời

Cúi mong khổ nạn tiêu trừ

Bình an vạn sự, sang giàu, bình yên

Mật chú tạng tánh Tổ Tiên

Linh linh ứng ứng vô biên nhiệm mầu

ĐÁT ĐIỆT THA: Ấn Bút Cha Trời

Nghĩa văn sở vị cõi Trời Phạm Thiên

ÁN là dẫn dắt chú linh

Ứng vô lượng pháp chuyển luân khắp cùng

La ni mật tánh Cha Trời

Ứng vô lượng tánh khắp thời hư không

A BÀ: quán xét sáng soi

LÔ HÊ suy nghiệm giả chân tỏ tường

Chú nầy phá sạch mê lầm

Như Lai tạng tánh chuyển đời khổ đau

LÔ CA ĐẾ: pháp chú tối cao

Đà la ni tánh biết bao nhiệm mầu

CA RA ĐẾ: rộng nhân từ

Tánh nầy hợp với biển lòng Mẹ Cha

Giúp cho hành giả vượt qua

Vô biên tội lỗi thoát siêu về Trời

DI HÊ RỊ: thuận Cội Nguồn

Tự tâm phát nguyện phụng hành ngày đêm

BỒ ĐỀ giác Đạo quy nguyên

Trở về Nguồn Cội vượt lên trí phàm

TÁT ĐỎA dũng mãnh tu hành

Không gì ngăn được một lòng nhất tâm

Chú nầy quả thật cao thâm

Linh linh ứng ứng mong đạt thành

TÁT BÀ: Thiên Ấn Cha Trời

TÁT BÀ lợi ích cho người luyện tu

Thiên Ấn quyền năng tối cao

Ứng linh linh ứng chở che cho người

MA RA: tăng trưởng phúc lành

MA RA như ý trọn phần luyện tu

MA HÊ: cực ý vô ngôn

Dạy người đức hạnh, cũng như dạy lời

MA HÊ đức hạnh cao vời

Nhưng mà độ được vạn loài thậm thâm

Nhờ hiệp tánh đức Cha Ông

Chú linh ứng chú linh thông diệu kỳ

RỊ ĐÀ DỰNG sen nở trong lòng

Liên Hoa Hải Tạng sáng ngời trong tâm

Tánh linh vi diệu thậm thâm

Dứt trừ tai họa phá tan não phiền

Chú nầy ác nghiệp không còn

Thân cùng khẩu ý trọng phần uy linh

CU LÔ CU LÔ: nhãn tịnh thanh

Bảo Hoa Nhãn Ấn sáng soi tột cùng

Chú nầy sáng mắt sáng hồn

Thoát qua khổ nạn không còn họa tai

ĐỘ LÔ ĐỘ LÔ: độ hải cứu dân

Thoát qua bể khổ tiêu tan não phiền

Như Lai tạng tánh nhiệm mầu

Ứng linh chú pháp tột cùng ứng linh

PHẠT GIÀ RA ĐẾ chân tâm

Cội Nguồn Đại Đạo dung thông Đất Trời

Đà La Ni tánh nhiệm mầu

Như Lai tạng tánh khắp cùng siêu nhiên

Chỉ cần một niệm thành tâm

Cũng linh cũng ứng chuyển xoay tận cùng

MA HA: Ấn Chú Cội Nguồn

PHẠT GIÀ RA ĐẾ tận cùng công năng

Thù thắng đệ nhất vô biên

Hàng Ma phục Quỷ ứng linh nhiệm mầu

Pháp chú khiếp vía kinh hồn

Thiên la đại pháp khắp cùng bủa vây

ĐÀ LA: thủ ấn tối linh

ĐÀ LA cam lộ, nhành dương, tịnh bình

Rưới lên cùng khắp chúng sanh

Tiêu tan ác nghiệp tiêu tan lòng tà

Chú linh, tịnh thủy cam lồ

Hồi sanh đức tánh, nở nhành thiện căn

ĐỊA RỊ NI: chuyển hóa sanh

Làm cho ác pháp tiêu tan chẳng còn

Chú nầy thị hiện đạo tràng

Phụng hành thiện nghiệp khắp cùng ứng linh

THẤT PHẬT RA DA: phóng quang

Khai thông sáng mắt hết mê hết lầm

Pháp ấn nhã pháp soi cùng

Làm cho hết thảy không còn tối mê

Mật chú tạng tánh Như Lai

Ứng linh linh ứng không sai chút nào

GIÁ RA: mệnh lệnh Cha Trời

GIÁ RA hành động linh thời chú linh

MẠ MẠ: hiệu lệnh tuân theo

Ứng linh, linh ứng biết bao tột cùng

PHẠT MA RA chuyển luân hiện hành

Ứng linh linh ứng khắp cùng ứng linh

Đi vào cảm ứng vô biên

Đi vào hiệu lệnh chú linh Cội Nguồn

MỤC ĐẾ LỆ: Ấn Pháp Cha Trời

Gậy Rồng hiệu lệnh khắp thời tam thiên

Giải thoát phiền não đảo điên

Tiêu tan bệnh tật siêu sanh Thiên Đàng

Tánh linh mật tạng khắp cùng

Chỉ cần tụng niệm linh thời ứng linh

Y HÊ: quy thuận Tổ Tiên

Y HÊ thuận giáo tự nhiên tu trì

Tạng tánh Cội Nguồn diệu kỳ

Chỉ cần đọc tụng siêu thời thoát siêu

THẤT NA: huệ quang cao siêu

THẤT NA cảnh trí vô biên Cội Nguồn

Chỉ cần trì tụng một lời

Ngu si tan biến linh thời ứng linh

Tụng rồi thời chẳng còn quên

Tuệ quang sáng mãi vô biên tận cùng

A RA SAM: Chuyển luân độ đời

PHẬT RA XÁ LỢI sáng ngời giác thân

Hiệp cùng Tạng Tánh Cha Ông

Quyền năng tột thế dung thông tư nghì

Chú nầy vừa niệm trong lòng

Tiêu tan tội ác vạn ngàn ức muôn

PHẠT RA: Hoan hỉ mừng vui

Anh linh Đại Sĩ lừng danh lẫy lừng

Nhờ vào hiệp Cội hiệp Nguồn

Hiệp vào mật tánh Cha Trời Tổ Tiên

PHẠT SÂM thành đại anh linh

Cũng nhờ quy kính Tổ Tiên Cội Nguồn

PHẬT RA: linh tượng với Trời

XÁ DA tối thắng sáng ngời pháp vương

Linh Tượng khế hiệp pháp thân

Hiệp vào tạng tánh Cha Ông Cội Nguồn

Quyền năng vô tận vô cùng

Chuyển luân cứu khổ muôn loài chúng sanh

Cội Nguồn thành kính quy y

Thần thông tự tại vô biên độ đời

HÔ LÔ HÔ LÔ: linh ứng nhiệm mầu

MA NA như ý linh thời ứng linh

HÔ LÔ: linh ứng vô biên

HÔ LÔ pháp tánh tự nhiên ứng cùng

HÊ RỊ linh quang sáng ngời

Chú nầy đọc tụng dứt thời nạn tai

TA RA: kiên cố định tâm

TA RA thanh tịnh thậm thâm cao vời

Ngũ căn ngũ lực dâng trào

Không gì lay chuyển được thời chuyển lay

Hiện cùng tạng tánh Như Lai

Thần thông tự tại ít ai sánh bằng

TẤT RỊ: thù thắng khôn cùng

Hiệp vào tạng tánh Cha Trời uy linh

TẤT RỊ dũng mãnh uy nghi

Muôn loài tùng phục khiếp kinh muôn loài

Cát tường tưởng nghĩ Cha Trời

Ứng linh cảm ứng khắp thời ứng linh

TÔ RÔ: cam lộ trường sanh

TÔ RÔ sống dậy thiện căn bao đời

Tô rô bất tử thường còn

Sống theo Thiên Ý linh thời ứng linh

BỒ ĐỀ DẠ: giác ngộ chân tâm

BỒ ĐỀ DẠ giác hạnh viên mãn, tròn nhân quả đầy

Chú nầy trì niệm hằng ngày

Tu hành mau đến đắc thành đạo cao

BỒ ĐÀ DẠ: trực giác chân như

BỒ ĐÀ DẠ thức tỉnh quy y Cội Nguồn

Hiệp vào tạng tánh Cha Trời

Đà la ni chú ứng thời ứng linh

DI ĐẾ RỊ: vô số vô biên

Cũng không tính đếm cũng không nghĩ bàn

Nhất tâm tôn kính Cội Nguồn

Hà sa phước đức khắp cùng hà sa

NA RA: cảm ứng vô biên

CẨN TRÌ che chở khắp trong muôn loài

Cha Trời cùng với Mẹ Trời

Luôn luôn bảo bọc cho người luyện tu

Nhất là khi đã quy y

Trở về Nguồn Cội hiệp theo Ý Trời

Chú nầy linh ứng tột cùng

Chỉ cần đọc tụng họa thời tiêu tan

ĐỊA RỊ: nguyện lực vô biên

SẮC NI NA hàng phục yêu tinh quỷ thần

Hiệp vào tạng tánh Cội Nguồn

Ứng linh quyền lực khắp cùng hà sa

BÀ DẠ: lừng lẫy tánh danh

MA NA xưng tụng Tổ Tiên Cha Trời

Vô biên cảm ứng tột cùng

Nguyện chi cũng tọa vang lừng khắp nơi

TA BÀ HA: sáu nghĩa ở đời

Cát Tường, Thành Tựu, rạng ngời tánh danh

Viên Tịch đạo quả vô biên

Tiêu tan Kiếp Nạn, ác căn Tiêu Trừ

Vô Trụ, giác tánh cao vời

Chứng thành đạo quả rạng ngời Dương Quang

TẤT ĐÀ DẠ: viên mãn, mãn viên

Tựu Thành chánh quả vẻ vang oai hùng

Biện Tài Hùng Biện lẫy lừng

Lợi Tha xưng tán rạng ngời hồng danh

TA BÀ HA: như ý viên dung

Cát tường rạng rỡ tánh danh sáng ngời

Ác căn nghiệp khổ không còn

Như như vô trụ sáng bừng huệ quang

MA HA thành quả vô biên

TẤT ĐÀ DẠ: viên mãn công danh tròn đầy

TA BÀ HA: như ý cuộc đời

Công thành danh tọa cũng nhờ luyện tu

TẤT ĐÀ: thành tựu lớn lao

Cứu dân độ thế biết bao nhọc nhằn

DU NGHỆ hư không đạo tràng

Vô vi thanh tịnh thường hằng chân như

THÁT BÀ: tự tại an nhiên

RA DA thành tựu vô biên phúc lành

TA BÀ HA như ý cuộc đời

Thuận theo Thiên Ý viên thành quả viên

NA RA: lễ lạy Tổ Tiên

CẨN TRÌ ái mộ quyền năng Cha Trời

Chú linh ở tại lòng người

Thành tâm tôn kính niệm thời ứng linh

TA BÀ HA: như ý vô biên

Cũng nhờ bảo bọc chở che Cha Trời

MA RA: như ý nguyện cầu

NA RA tột đỉnh đứng đầu công danh

Chú nầy linh ứng ứng linh

Thành tâm cầu nguyện ứng nhiệm mầu

TA BÀ HA: như ý cuộc đời

Cũng nhờ công đức phản hồi chân như

Hiệp vào tạng tánh Như Lai

Đà La Ni Tánh ứng linh tột cùng

Công thành danh tọa lẫy lừng

Hiệp vào Nguồn Cội tròn đầy viên dung

TẤT RA TĂNG: thiện đức bi tâm

Chở che bảo hộ giúp muôn vạn loài

Giúp cho nhân thế con người

Làm cho tất cả sống đời bình yên

A MỤC KHƯ GIA nhớ gắng ghi

Không bỏ điều gì thông thạo độ sanh

TA BÀ HA: như ý thần thông

Vô biên trí huệ tiện phương cứu đời

Hiệp vào bản thể Cha Trời

Biện tài vô ngại không gì ngại ngăn

TA BÀ: kham nhẫn tịnh tâm

MA HA rộng lớn vô biên quả mầu

Thượng thừa đại đạo cao sâu

Vô biên vô tận không sao nghĩ bàn

A TẤT ĐÀ DẠ viên thành

Đạt thành ý nguyện lẫy lừng tánh danh

TA BÀ HA: sáng tỏa vô biên

Cũng nhờ công đức luyện tu độ đời

Hành theo Thiên Ý Cha Trời

Công thành danh tọa rạng ngời công danh

GIẢ KIẾT RA: xoay chuyển pháp luân

Kim thân sáng rực huệ quang tột cùng

A TẤT ĐÀ DẠ viên thành

Cũng nhờ công đức cứu người cứu dân

Uy lực vô tận vô biên

Làm cho Ma Quỷ kính tin, phục thuần

TA BÀ HA: viên mãn cát tường

Cũng nhờ công đức cứu đời độ dân

Đại bi tâm đại bi tâm

Anh linh tột thế siêu nhiên tột cùng

BÀ ĐÀ MA: liên hoa sáng bừng

Tánh chơn pháp tánh đại từ đại bi

YẾT TẤT ĐÀ DẠ thiên uy

Trắng hoa sen trắng tinh khôi nhiệm mầu

Sạch trong không nhiễm bụi trần

Ứng linh linh ứng khắp cùng ứng linh

TA BÀ HA: như ý viên dung

Tựu thành viên mãn nhờ công tu hành

Nương nhờ thần lực Cha Trời

Muôn điều thuận lợi không gì ngại ngăn

NA RA: Hiền Giả, Thánh, Tăng

CẨN TRÌ, Chúa, Phật, Thần, Tiên, cứu đời

Giữ gìn Ấn Chú, hộ trì

Làm cho thường trụ khắp thời thế gian

BÀN ĐÀ RA DẠ ứng linh

Khắp cùng mọi lúc mọi nơi khắp cùng

Làm cho nhân thế con người

Không còn sợ hãi, không còn lo âu

MA BÀ LỢI THẮNG: hùng bi

Vượt lên tất cả không gì ngại ngăn

YẾT RA DA sanh tánh kim cang

Đại bi vô ngại anh linh tột cùng

TÁT BÀ HA: như ý đạo tràng

Hiệp vào đức tánh Cha Trời mà ra

Tát bà ha, tát bà ha

Ứng linh, linh ứng hà sa chẳng cùng

NAM MÔ: thành kính Cội Nguồn

Pháp thân rộng lớn Cha Trời hư không

HẮC RA tam bảo Cha Ông

ĐÁT NA thuận ý Thiên Công Cha Trời

ĐÁ RA Pháp thể đại đồng

DẠ DA hội nhập Cội Nguồn dạ da

Chú nầy linh ứng hà sa

Chú tâm trì tụng vượt qua khốn cùng

NAM MÔ: vô tận Cội Nguồn

Hà sa Thánh Giả Thánh Hiền A Men

Phật, Tiên, Thánh, Chúa vô biên

Khắp cùng vũ trụ hư không Đất Trời

Chỉ cần tưởng niệm trong đầu

Cũng linh cũng ứng khắp cùng ứng linh

Nam Mô vô tận A Men

LỊ DA quy kính Tổ Tiên Cha Trời

Tôn vinh Nguồn Cội, Cội Nguồn

Thuận theo thể tánh đại đồng thuận theo

BÀ LÔ: quán sát pháp thân

Hư không pháp giới vô vi khắp cùng

KẾT ĐẾ không nhiễm bụi trần

Sạch trong giác tánh hiển phần chân như

THƯỚC BÀN: tự tại sáng soi

RA DẠ ứng khắp, cứu dân độ đời

Anh linh đại sĩ sáng ngời

Từ bi tận độ khắp thời chúng dân

Quán Âm đại sĩ Quán Âm

Chú linh ứng khắp, ứng linh tận cùng

TA BÀ HA: viên mãn cuộc đời

Vô biên công đức sáng ngời vô biên

ÁN: là chú pháp linh thiêng

Dẫn đầu linh ứng, ứng linh khắp cùng

TẤT ĐIỆN thành tựu đạo tràng

ĐÔ MẠN lãnh thổ tận cùng khắp nơi

Tam Thiên cõi nước hà sa

Thiên Đàng, Địa Phủ, Trần Gian chủ trì

ĐÀ RA pháp hội Cội Nguồn

BẠT ĐÀ: viên mãn tròn đầy đức công

DẠ DA: vô tận công năng

Ứng linh, linh ứng vô biên tận cùng

Họa to biến nhỏ lạ lùng

Họa nhỏ biến thành không lại hoàn không

Chuyển thành phước đức vô biên

Cũng nhờ linh chú, linh thiêng nhiệm mầu

TA BÀ HA: như ý tựu thành

Tròn đầy quả vị, viên thành công lao

Cầu chi cũng được ứng linh

Nguyện cầu như ý mãn viên tròn đầy

Nam Mô vô tận Cội Nguồn

A Men như ý linh thời ứng linh

Nam Mô quy kính Tổ Tiên

Cha Trời, Địa Mẫu ứng linh tột cùng

*     *     *

Tổ Tiên Pháp Thể Tột đứng đầu

Cội Nguồn tạng tánh thật cao sâu

La Ni mật tánh chuyên trì tụng

Linh ứng vô biên, ứng nhiệm mầu.

*     *     *

(gõ tiếng chuông)

Đồng lạy 3 lạy, bái 4 bái

Trì Tụng Long Hoa Đại Bi Linh Chú đến đây là hết.

Chú Đại Bi: Không phải của một vị Phật hay vị Thánh nào cả. Mà là linh chú ĐÀ LA NI PHÁP TÁNH MẬT TẠNG CỘI NGUỒN. Tổ Tiên Cha Trời. Truyền dạy cho Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Long Hoa Đại Bi Chú là linh chú khai mở trí huệ. Hàng phục yêu Ma. Tiêu trừ bách bệnh. Chuyển họa thành phước. Chuyển đổi số mạng. Thoát khỏi Địa Ngục, siêu sanh Thiên Giới. Linh chú lợi ích không bao giờ nói, không thể nghĩ bàn. Thậm thâm vi diệu vô tận. Chỉ cần trì tụng hiệu nghiệm tất thời. Niềm tin là tất cả. Vì mật tạng Đà La Ni Tánh Cội Nguồn chỗ nào cũng có. Lại khế hiệp vô số vô biên danh tánh Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, quá khứ hội nhập vào Cội Nguồn Như Lai Tạng Tánh. Nên linh ứng không thể nghĩ bàn. Hễ có tụng niệm mật tánh là có ứng linh ngay. Dù cho ở Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ, đều có sự linh ứng như nhau. ĐỨC TIN, NIỀM TIN, TỰ TIN là bí quyết đạt đến mong muốn kết quả như ý.

--------------------------------------------------

2 - LONG HOA BÁT NHÃ TÂM KINH

LONG HOA
BÁT NHÃ TÂM KINH
1

Nầy tất cả Thiện Nam nghe rõ

Với cùng là Thiện Nữ nghe đây

Muốn thành chánh quả Như Lai

Phải tường phải tận Tổ Tiên Cội Nguồn

Cần phải rõ thấu cùng Chân Tướng

Thể Cội Nguồn không cấu nhiễm ô

Cội Nguồn Thể Tướng Hư Vô

Bao trùm rộng khắp hư không tận cùng

Cần hiểu rõ Cội Nguồn Chân Tánh

Không Tánh gì mới thấy Tánh Chân

Tánh không, không Tánh Cha Ông

Khắp cùng vũ trụ linh thông Đất Trời

Cần hiểu rõ Cội Nguồn Chân Pháp

Thể giác linh cùng khắp hư không

Ý không, không ý, ý không

Như như độc lập dung thông Đại Đồng

Nào hiểu rõ Cội Nguồn Linh Giác

Không thinh hương xúc pháp mắt tai

Cũng không miệng mũi chân tay

Cũng không màu sắc thinh thinh bao trùm

Thể Linh Giác Cội Nguồn trong sạch

Tối linh thiêng không diệt không sanh

Thường hằng thanh tịnh vô vi

Không thêm không bớt như như thường còn

Nầy hiểu rõ cho tường Nguồn Cội

Thể an nhiên vô niệm như như

Còn như động niệm pháp thân

Sanh sanh hóa hóa vô biên tận cùng

Sanh ra ngũ uẩn, lục trần

Cũng như lục thức hình thành lục căn

Sanh ra mười hai nhân duyên

Hợp tan, tan hợp không sao kể cùng

Khởi sanh đủ loại chủng hình

Diệt sanh, sanh diệt tận cùng diệt sanh

Tịnh thời tất cả đều không

Động thời tất cả khởi sanh trùng trùng

Tịnh là chân pháp đại thiền

Như như vắng lặng hiệp vào Chân Như

Vô Niệm phiền não sạch không

Còn đâu vọng chấp còn đâu não phiền

Nếu không hội ngộ Cội Nguồn

Vô minh vọng chấp níu trì khởi sanh

Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức sanh sôi

Hình thành căn nghiệp ôi thôi trùng trùng

Căn Thân Ngũ Uẩn ra đời

Là do vọng chấp sanh thời khởi sanh

Ngũ Uẩn Nguồn Cội giai không

Tử sanh, sanh tử rõ thông bến bờ

Có - Không làm chủ được rồi

Tử sanh, sanh tử phản hồi tự nhiên

Không thì tất cả đều không

Có thì có cả khắp trong Đất Trời

Chúng con hội ngộ được rồi

Không còn lo sợ sanh thời tử sanh

Vô vi linh thể Cha Ông

Không hình không tướng cũng không sắc màu

Cội Nguồn trong sạch nhiệm mầu

Không hương không vị không mùi không thân

Tự nhiên không đến không đi

Bao trùm vũ trụ hư không tột cùng

Không rờ đụng thể vô hình

Không tai, mắt mũi, muôn nghìn cái không

Không thể sờ mó thấy xem

Hiển linh, linh hiển vô biên tận cùng

Cội Nguồn pháp thể Đại Đồng

Pháp thân bình đẳng khắp cùng mọi nơi

Cội Nguồn pháp thể Cha Ông

Không thêm không bớt như như bao trùm

Thế mà khởi dụng lạ lùng

Sanh sanh hóa hóa khắp cùng khắp nơi

Tạo ra sự sống vô biên

Tạo ra thế giới nhân duyên xoay vần

Từ không sang có nối liền

Lục trần, lục thức cùng là lục căn

Hình thành chứng đắc ngại ngăn

Là do phân biệt ái ưa gieo mầm

Chúng con thức tỉnh được rồi

Giai không ngũ uẩn phản hồi chân nguyên

Không còn sợ hãi tử sanh

Không còn mộng tưởng đảo điên xa lìa

Vô Minh tận diệt được rồi

Cũng không diệt hết phần nào Vô Minh

Cội Nguồn hội ngộ chân như

Ba La thần chú, thậm thâm thượng thừa

Đẳng đẳng minh chú tiêu trừ

Diệt vô lượng khổ hết còn khổ đau

Không còn thần chú nào hơn

Giải thoát tất cả sạch trơn khốn cùng

Yết đế yết đế

Ba la yết đế

Ba la tăng yết đế

Bồ đề tát bà ha

--------------------------------------------------

LONG HOA
BÁT NHÃ TÂM KINH
2

Khi hội ngộ Cội Nguồn

Mới giác ngộ ra rằng

Do phân biệt vọng chấp

Sắc, thọ, tưởng, hành, thức

Cấu kết hiện sanh ra

Năm uẩn Cội trống không

Giác ngộ được điều đó

Sanh tử hết lo xa

Mọi khổ đau ách nạn

Tận diệt mọi tai qua

Cội Nguồn vốn sạch không

Vô vi cùng cùng khắp

Cội Nguồn không hình tướng

Cũng không màu không sắc

Không thêm cũng không bớt

Không ý cũng không thức

Không không và sạch không

Cho nên trong cái không

Vi diệu thậm thậm thâm

Khởi sanh ra tất cả

Vọng chấp luôn thọ tưởng

Khởi sanh ra ngũ uẩn

Sáu trần và sáu căn

Sáu thức cũng như thế

Nhân duyên luôn lôi kéo

Theo định luật nhân quả

Luân hồi sanh sanh tử

Khi hội ngộ làm chủ

Không có Vô Vô Minh

Cũng không hết Vô Minh

An như và tự nhiên

Không đi vào chứng đắc

Không khởi tâm chấp trước

Cội Gốc là không không

Trở về Cội Cha Ông

Nên tâm hết chướng ngại

Nên không còn sợ hãi

Làm chủ sanh sanh tử

Động Tịnh theo tự nhiên

Cảm ứng vô vô biên

Cội Nguồn linh chú lớn

Cao tột đại linh thiêng

Không có chú nào hơn

Có thể so sánh được

Cội Nguồn vô vô tận

Diệt tiêu tan tai nạn

Diệt trừ mọi khốn khổ

Cha Trời tuyên tuyên thuyết

Linh chú qua bờ giác

Bát Nhã Mật Đa Tâm Kinh

Yết đế yết đế

Ba la yết đế

Ba la tăng yết đế

Bồ đề tát bà ha

--------------------------------------------------

LONG HOA
BÁT NHÃ TÂM KINH
3

Nầy Thiện Nam Tín Nữ:

Cội Nguồn Cha Ông. Linh Giác Chân Như, thể tướng rộng lớn như hư không. Linh Giác Tối Cao Cội Nguồn. Chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng nhơ, chẳng sạch. Chẳng thêm chẳng bớt, thể tướng rộng khắp bao trùm tam thiên đại thiên thế giới, Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ chỗ nào cũng có. Linh Giác Cội Nguồn vô nhiễm vô vi. Cội Nguồn Bản Thể Linh Giác Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Pháp thân vô thủy vô chung. Không có tai, mắt, mũi, lưỡi, không có thân, ý, thậm chí không có sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp. Không có vọng chấp phân biệt. Nên không có ý thức giới. Linh Giác Cội Nguồn Tổ Tiên. Thấy - Nghe - Hay - Biết tự nhiên. Nên không có ngũ uẩn. Bản thể linh giác chân như Tổ Tiên rộng khắp vi diệu thậm thâm không thể nghĩ bàn. Muốn hội nhập Cội Nguồn. Không nên có sở trí. Sở đắc. nên không diệt hết vô minh, thế mà vô minh tận. Lão Tử tận. Chân tướng Cội Nguồn. Trong cái không động niệm hiện ra cái có. Tất cả cái có Cội Nguồn rốt ráo là không. Cho nên không còn sợ hãi. Lìa xa mộng tưởng đảo điên. Cứu cánh hội nhập trở về Cội Nguồn tự nhiên an vui tự tại. Thần thông cảm ứng vô tận. Uy lực vô biên. Đại Minh Thần Chú. Vô Thượng Thượng Chú, Vô Đẳng Đẳng Chú. Tiêu trừ khổ ách nạn tai.

Yết đế, yết đế.

Ba la tăng yết đế, ba la tăng yết đế.

Bồ đề A Men như ý tát bà ha.

*     *      *

Nam Mô A Men:

Đương nguyện thế nhân, quy kính Tổ Tiên. Cha Trời, Địa Mẫu. Thuận theo nghĩa cả. Thiên Ý Cha Trời. Thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.

(gõ chuông, đồng lạy)

Nam Mô A Men:

Đương nguyện thế nhân, phát vô thượng tâm, thấu suốt kinh tạng trí huệ như hải.

(gõ chuông, đồng lạy)

Nam Mô A Men:

Đương nguyện thế nhân, phát vô thượng tâm, thống lý đại chúng không gì chướng ngại.

(gõ chuông, đồng lạy)

Nguyện đem công đức nầy

Hồi hướng khắp tất cả

Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ

Hết khổ, hạnh phúc, an vui

--------------------------------------------------

3 - LONG HOA THIÊN ẤN MẬT TẠNG KIM CANG CHÚ

Thánh Chú Cội Nguồn:

Nam Mô Khai Hóa Tổ Tiên

Hiện Thân Hai Đấng Cửu Huyền Tối Cao

Sanh ra nhân loại con người

Ông Bà, Cha Mẹ, đến thời chúng con

A Men.

*     *     *

Sự chứng kiến thấy biết những linh căn đại nghịch lại Thiên Ý Cha Trời, đọa đày khủng khiếp, hư không vũ trụ nầy mất, hư không vũ trụ khác sanh ra, trải qua vô số vô biên hư không vũ trụ, thế mà sự khốn khổ đọa đày vẫn chưa dứt, Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, ở còn cấp thấp, thì không khỏi kinh hãi.

Lúc bây giờ Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, nơi pháp hội Thiên Vân số lượng lên tới vô tận vô biên, không thể tính đếm không thể nghĩ bàn dù cho trăm nghìn kiếp cũng không thể nào đếm hết.

Bỗng thấy về hư không quá khứ, xuất hiện vô số vô biên, Thiên Ấn kim cang hào quang chói lọi, hộ trì bảo hộ Thiên Ý Cha Trời, làm cho Thiên Ý Cha Trời sáng mãi không bao giờ dứt, những ai chỉ cần nghe được mật danh đại nguyện của các Ngài, thì tâm ý liền được thanh tịnh, tội ác liền được tiêu trừ, ác ma, ác quỷ, không dám đến gần làm hại, ở khắp mười phương hư không quá khứ vũ trụ, hiện thân bay đến chầu ĐỨC CHA TRỜI, nói kệ rằng:

Chúng Con là những Thiên Ấn Pháp. Những Thiên Ấn Chú. Thiên Ấn Hành Pháp, quét sạch ác Ma, ác Quỷ, mê hoặc con Trời, làm hại con cái nhà Trời, bảo hộ Thiên Ý Cha Trời, bảo hộ Thiên Luật vũ trụ, chỉ cần nghe qua pháp chú, nguyện chú, lực chú, của Chúng Con, thì tâm ý liền được thanh tịnh, tội ác đại họa liền được tiêu trừ, không còn đọa lạc vào tam đồ khổ Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, rốt sau thành Chánh Đẳng Chánh Giác. Pháp chú, ấn chú, là mật ý Cha Trời, kẻ âm người dương đều phải tuân theo, chí tâm trì tụng, thì hàng phục các ma, ngăn chặn phiền não, thoát khỏi các đại họa như dịch bệnh, hỏa tai, phong tai, động đất, khí độc, độc trùng, ác thú, yêu tinh, quỷ quái, v.v… đều chẳng hại được, cầu con được con, cầu thọ được thọ, cầu thông minh sáng láng được thông minh sáng láng, nói chung là cầu chi đặng nấy. Chúng Con là những Thiên Ấn Pháp, Thiên Ấn Chú, Thiên Ấn Hành Pháp, Ấn Chú, Ấn Pháp rằng:

ĐỆ NHẤT ẤN CHÚ

Nam - mô - tát - đát - tha - tô - gà - đa - da - a - la - ha - đế, tam - miệu, tam - bồ - đà - tỏa, tát - đát - tha, đà - cu - tri, sắc - ni - sam, nam - mô - tát - bà - bột - dà - bột địa, tát - đa - bệ - tệ, nam - mô - tát - đa - nẩm, tam - miệu - tam - bồ - đà, cu - tri - nẩm, ta - xá - ra - bà, ca - tăng - già - nẩm, nam - mô - lô - kê, Thánh, Thần, Tiên, Phật, Chúa, nẩm, nam - mô - lô - tô - đa - ba - đa - nẩm, nam - mô - ta - yết - rị, dà - già - di - nẩm, nam - mô - Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, lô - kê - tam - miệu - dà - đa - nẩm, tam - miệu - dà - ba - ra - để - ba ra - nẩm, nam - mô - đề - bà - ly - sắc - nỏa, nam -mô - tất - đà - da, tỳ - địa - da - dà - ra - ly - sắc - nỏa, xá - ba noa - yết - ra - ha, Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, ta - ra - ta - ha, tha - nẩm - ta - ha, nam - mô - bạc - ra - ha ma - ni, nam - mô - nhơn - đà - ra - da, Thánh, Thần, Tiên, Phật, a men, nam - mô - bà - dà - bà - đế, lô - dà ra - da, ô - ma - bát - đế, ta - hê - dạ - da, nam - mô - bà - già - bà - đế, bàn - giá - ma - ha, tam - mộ - dà - ra, nam - mô - tất - yết - rị - da - da, nam - mô - bà - già - bà đế, ma - ha -ca - ra - da, địa - rị - bát - lặc - na - già - ra, tỳ - đà - ra - ba, noa - ca - ra - da, a - địa - mục - đế, thi - ma - xá - na, nê - bà - tất - nê, ma - đát - rị - già - noa, nam - mô - tất - yết - rị - đa - da, nam - mô - bà - dà - bà - đế, đa - tha - già - da - cu - ra - dạ, nam - mô bạc - đầu - cu - chi - ra - da, nam - mô - bạc - xà - cu - chi - ra - da, nam - mô - ma - ni - cu - ra - da, nam - mô già - xà - cu - ra - na, nam - mô - bà - già - bà - đế, đế - rị - trà - du - ra - tây - na, ba - ra - ha - ra - noa - ra - dà - ra, đa - tha - dà - đa - tha, nam - mô - bà - già - bà - đế, nam - mô - a - di - đa - bà - da, đa - tha - dà - đa - da, a - ha - ra - đế, tam - miệu - tam - bồ - đề - dà - da, nam - mô - bà - già - bà - đế, a - sô - bệ - đa, da - tha - dà - đa da, a - ha - ra - đế, tam - miệu - tam - bồ - đề - da, nam - mô - bà - già - bà - đế, bệ - sa - xà - da, cu - lô - phệ - trụ - rị - da, bác - ra - bà - ra - xà - da, đa - tha - dà - đa - da, nam - mô - bà - già - bà - đế, tam - bổ - sư - tỷ - đa, tát - lân - nại - ra - lặc - xà - da, đa - tha - già - đa - da, a - ha - ra - đế, tam - miệu - tam - bồ - đề - da, nam - mô - bà - già - bà - đế, xá - kê - dã - mẫu - na - duệ, đa - tha - già - đa - da, a - ra - ha - đế, tam - miệu - tam - bồ - đề - da, nam - mô - bà - già - bà - đế, lặc - đác - na - kê - đô - ra - xà - da, da - tha - dà - dà - da, a - ha - ra - đế, tam - miệu - tam - bồ - đề - da, nam - mô - tát yết - rị - đa, ế - đàm - bà - già - bà - da, tát - đát - tha, dà - đô - sắc - ni - sam, tác - đát - đa - bác - đác - lam, nam - mô - a - bà - ra - thị - đam, bác - ra - đế - dương kỳ - ra, tác - ra - bà - bột - đa - yết - ra - ha, ni - yết - ra ha, yết - ca - ra - ha, ni - bát - rị, đát - ra - da, nảnh - yết - rị, tác - ra - bà - bàn - đà, na - mục - xoa - ni, tát - ra - bà - đột - sắc - tra, đột - tất - phạt, bát - na - nể - phạt - ra - ni, giả - đô - ra - thất - đế - nẩm, yết - ra - ha ta - ha, tát - ra - nhả - xà, tỷ - đa - băng - ta, na - yết - rị, a - sắc - tra - băng - xá - đế - nẩm, na - xoa - sát - đát, ra - nhả - xà, ba - ra - tát - đà - na - yết - rị, a - sắc - tra - nẩm, ma - ra - yết - ra - nhả - xà, tỳ - đa - băng - tát - na - yết - rị, tát - bà - xá - đô - lô, nể - bà - ra - ni, tỷ - sa - xá - tất - đác - ra, a - kiết - ni - ô - dà - ca - ra - nhã - xà, a - bác - ra - thị - đa - cu - ra, ma - ha - bác - ra - chiến - trì, ma - ha - diệp - đa, ma - ha - đế - xà, ma - ha - thế - đa - ra - bà - ra, ma - ha - bạt - ra, bàn - đà - ra - bà, tất - nể, a - rị - da - dà - ra, tỳ - rị - cu - tri, thệ - bà - tỳ - xà - da, bạt - xà - ra - ma - lễ - để, tỳ - xá - lô - gia, bột - dằng - võng - ca, bạt - xà - ra - chế - hắt - na - a - giá, ma - ra - chế - bà - bác - ra - chất - đa, bạt - xà - ra - thiện - trì, tỳ - xá - ra - giá, phiến - đa - xá - bệ, đề - bà - bổ - thị - đa, tô - ma - lô - ha, ma - ha - thuế - đa, a - rị da - đa - ra, ma - ha - bà - ra - a - bác - ra, bạt - xà - ra - thương - yết - ra, chế - bà, bạc - xà - ra -cu - ma - rị, cu - lam - đà - rị, bạc - xà - ra - hắc - tát - đa - giá, tỳ - địa - gia - kiền - giá - na, ma - rị - ca, khuất - tô - mẫu - bà -yết - ra - đa - na, bệ - lô - giá - na - cu - rị - đa, dạ - ra - thố - sắc - ni - sam, tỳ - chiết - lam - bà, ma - ni - giá, bạt - xà - ra - ca - đốn - trỉ - giá, thuế - đa - giá, ca - ma - ra - sát - xa - thi - ba - ra - bà, ế -đế - di - đế - mẫu - dà - ra - yết - noa, ta - phệ - ra - sám, quật - phạm - dô, ấn - thố - na - mạ, mạ - tỏa.

Thiên Ấn Đệ Nhất, Ấn Chú nói ra thì vô số vô biên những ai nghe được lời pháp chú nầy, liền hết điên loạn, nhàm cháng ham mê dục lạc tâm hồn yên tỉnh, giải thoát vô lượng vô biên tội ác, không còn sa đọa vào ba con đường khổ nữa, Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, tu hành mau chóng thành chánh quả.

Trên bầu trời hư không vô số vô biên Thiên Ấn Kim Cang, hào quang rực rỡ uy lực vô biên, Đệ Nhất Ấn Chú, Ấn Pháp, vừa chấm dứt, thời vô số vô biên Thiên Ấn Kim Cang Đệ Nhị nói ra.

ĐỆ NHỊ ẤN CHÚ

Ô - hồng - rị - sắc - yết - noa, bác - lặc - xá - tất - đa, tát - đát - tha - già - đô - sắc - ni - sam, hổ - hồng - đô - lô - ung - chim - bà - na, hổ - hồng - đô - lô - ung - tất - đam bà - na, hổ - hồng - đô - lô - ung - ba - ra - sắc - địa - da, tam - bác - xóa - noa - yết - ra, hổ - hồng - đô - lô - ung - tát - bà - dược - xoa - hắc - ra - sát - ta, yết - ra - ha - nhã - xà, tỳ - đằng - băng - tát - ra - yết - na, hổ - hồng - đô - lô - ung, giả - đô - ra - thi - để - nẩm - yết - ra - ha - ta - ha - tát - ra - nẩm, tỳ - đằng - băng - tát - ra - na, hổ - hồng - đô - lô - ung - ra - xoa, bà - già - phạm - tát - đát - tha, già - đô - sắc - ni - sam, ba - ra - điểm - xà - kiết - rị, ma - ha - ta - ha - tát - ra, bột - thọ - ta - ha - tát - ra, thất - rị - sa, cu - tri - ta - ha - tát - nê - đế - lệ - a - tệ - đề thị - bà - rị - da, tra - tra - anh - ca - ma - ha bạc - xà - lô dà - ra, đế - rị - bồ - đà - na, man - trà - ra, ô - hồng - ta, tất - đế, bạc - bà - đô - mạ - mạ, ấn - thố - na - mạ - mạ - tỏa.

Những tâm hồn cuồng loạn điên đảo, nghiệp chướng sâu dày, cuồng si hoang tưởng, ác mộng đảo điên, ngây ngây dại dại, trải qua vô lượng kiếp, nghe được Thiên Ấn mật chú, uy lực vô biên tức thời ma chướng ác nghiệp trong tâm, liền được tiêu trừ, thoát khỏi cảnh điên cuồng, cuồng tâm loạn trí hàng vạn ức kiếp, vì phạm phải đại nghịch Cha Trời, ngây cuồng đền tội, nhờ uy lực vô biên Thiên Ấn mật chú đã giải thoát vô lượng vô biên linh hồn, trải qua vô lượng vô biên số kiếp đang ngây cuồng đền tội, trở lại bình thường, thông minh lanh lợi, nghe đâu nhớ đó, thấy đâu nhớ đó, học đâu nhớ đó, không còn đọa sa vào con đường ác nữa, mau chóng Thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.

Lại nghe trong hư không có sự chuyển động rất kỳ lạ, vô số vô biên Thiên Ấn Kim Cang, Uy Lực Vô Biên, hào quang phóng ra rực rỡ, bay đến chầu Cha Trời, đồng loạt nói Đệ Tam Ấn Chú rằng.

ĐỆ TAM ẤN CHÚ

Ra - xà - bà - dạ, chủ - ra - bạc - dạ, a - kỳ - ni - bà - dạ, ô - dà - ca - bà - dạ, tỳ - xa - bà - dạ, xá - tất - đa - ra - bà dạ, bà - ra - chước - yết - ra - bà - dạ, đột - sắc - xoa - bà dạ, a - xá - nể - bà - dạ, a - ca - ra - mật - rị, trụ - bà - dạ, đa - ra - ni - bộ - di - kiến - ba - già - ba - đà - bà, dạ - na già - bà - dạ, tỳ - điều - đát - bà - dạ, tô - ba - ra - noa - bà - dạ, dược - xoa - yết - ra - ha, ra - xoa - tư - yết - ra ha, tất - rị - đa - yết - ra - ha, tỳ - xá - giá - yết - ra - ha, bộ - đa - yết - ra - ha, cưu - bàn - trà - yết - ra - ha, bổ - đơn - na - yết - ra - ha, ca - tra - bổ - đơn - na - yết - ra - ha, tất - kiền - độ - yết - ra - ha, a - bá - tất - ma, ra - yết ra - ha, ô - đàn - ma - đà - yết - ra - ha, xa - dạ - yết - ra ha, hê - rị - bà - đế - yết - ra - ha, xả - đa - ha - rị - nẩm, yết - bà - ha - rị - nẩm, lô - địa - ra ha - rị - nẩm, man - ta - ha - rị - nẩm, mê - dà - ha - rị - nẩm, ma - xà - ha - rị - nẩm, xà - đa - ha - rị - nữ, thị - tỷ - đa - ha - rị - nẩm, tỳ - đa - ha - rị - nẩm, bà - da - ha - rị - nẩm, a - du - giá - ha - rị - nữ, chất - da - ha - rị - nữ, đế - sam - tát - bệ - sam, tát - bà yết - ra - ha - nẩm, tỳ - dà - dạ - xà - sân - dà - dạ - di, kê - ra - dạ - di, ba - rị - bạc - ra - giả - ca - hất - rị - đởm, tỳ - dà - dạ - xà - sân, đà - dạ - di, kê - ra - dạ - di, trà - diễn - ni - hất - rị - đởm, tỳ - đà - dạ - xà - sân, đà - đạ - di, kê - ra - dạ - di, ma - ha - bát - du - bác - đát - dạ, lô - dà - ra - hất - rị - đởm, tỳ - đà - dạ - xà - sân, đà - dạ - di, kê - ra - dạ - di - na - ra - dạ - noa - hất - rị - đởm, tỳ - đà - dạ xà -sân, đà - dạ - di, kê - ra - dạ - di, đát - đỏa - già - lô - trà - tây, hất - rị - đởm, tỳ - đà - dạ - xà - sân, đà - dạ - di, kê - ra - dạ - di, ma - ha - ca - ra - ma - đát - rị - già noa - hất - rị - đởm, tỳ - đà - dạ - xà - sân, đà - dạ - di - ca - ba - rị - ca - hất - rị - đởm, tỳ - đà - dạ - xà - sân, đà - dạ di, kê - ra - dạ - di, xà - dạ - yết - ra, ma - độ - yết - ra, tát - bà - ma - tha, ta - đạt - na - hất - rị - đởm, tỳ - đà - dạ - xà - sân, đà - dạ - di, kê - ra - dạ - di, giả - đốt - ra - bà - kỳ - nễ - hất - rị - đởm, tỳ - đà - dạ - xà - sân - đà - dạ - di, kê - ra - dạ - di, tỳ - rị - dương - hất - rị - tri, nan - đà - kê - sa - ra - dà - noa - bác - đế, sách - hê - dạ - hất - rị - đởm, tỳ - đà - dạ - xà - sân - đà - dạ - di, kê - ra - dạ - di, na - yết - na - xá - ra - bà - noa - hất - rị -đởm, tỳ - đà - dạ - xà - sân - đà - dạ - di, kê - ra - dạ - di, Thánh, Thần, Tiên, Phật, hất - rị - đởm, tỳ - đà - dạ -xà - sân, đà - dạ - di, kê - ra - dạ - di, tỳ - đa - ra - già - hất - rị - đởm, tỳ - đà - dạ - xà - sân - đà - đạ - di, kê - ra - dạ - di - bạc - xà - ra - ba - nể, cu - hê - dạ - ca - địa - bát - đế - hất - rị - đởm, tỳ - đà - dạ - xà - sân - đà - dạ - di, kê - ra - dạ - di, ra - xoa - võng - bà - già - phạm, ấn - thố - na - mạ - tỏa.

Trong khắp bảy hư không vũ trụ những linh hồn điên đảo, ma chướng sâu dày thất tình lục dục làm hại, điên loạn thần hồn, mất trí khôn, điên đảo, ngược ngã, thất điên bát đảo, điên dại, rồ dại, hóa dại, nhất là điên loạn về tình yêu, ái ố hỉ nộ, mê dại say đắm điên cuồng, điên khùng nổi điên, dẫn đến yêu đương ái, ố, hỉ, nộ, điên rồ, không còn làm chủ hay biết đến sự điên của mình nữa, điên tiết dẫn đến tự sát, ác điên ác loạn, khốn khổ mãi không dứt được, nay bỗng nghe được Đệ Tam Ấn Chú uy lực vô biên, linh hồn liền hiết điên đảo, thất tình, lục dục, không làm hại được nữa, tinh thần ổn định, hồi phục trí nhớ, phân biệt trắng đen khổ vui, ái, ố, hỉ, nộ, chỉ là thường tình trong cuộc sống, thất tình lục dục, yêu, ghét, giận, hờn, cũng chỉ là lẽ thường tình ở đời, không có gì là ghê gớm lắm, nhờ uy lực vô biên của Ấn Chú đã làm tan chảy thất tình lục dục, hỉ, nộ, ái, ố, yêu, ghét, giận, hờn, thương, buồn, si, đắm, quá mức dẫn đến đóng băng, chúng bị Ấn Chú phá tan làm cho tâm hồn định tỉnh trở lại, phản hồi trực giác, nhận thức ra chân tánh giã tánh.

Tánh hỉ, tánh nộ, tánh ái, tánh ố, tánh yêu, tánh ghét, tánh giận, tánh hờn, tánh thương, tánh nhớ, tánh buồn, tánh mê, tánh si, không phải thật tánh chân tánh của mình, mà chỉ là giả tánh do phân biệt mê vọng tạo ra mà thôi, nên tất cả linh hồn điên loạn khốn khổ ấy, nương nhờ thần lực Cha Trời nghe qua Ấn Chú, mật ấn Cha Trời, cộng với uy lực vô biên hằng hà sa số Thiên Ấn Kim Cang, làm tan chảy, phiền não, điên loạn đã đóng băng trải qua vô số kiếp, điên cuồng khốn khổ, bỗng chốc giải thoát địa ngục tâm linh điên loạn điên cuồng, trở thành, Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, vô số vô biên, rốt sau thành Chánh Đẳng Chánh Giác.

Hằng hà sa số Thiên Ấn Kim Cang từ quá khứ hư không vũ trụ lần lượt xuất hiện, đến chầu CHA TRỜI, nói kệ rằng:

Chúng con từ thuở lâu xa

Chúng con không đi không đến

Chúng con là Thiên Ấn

Chúng con là đầu lông của Cha

Ý Cha là ý Chúng Con

Cha hiện thời Chúng Con hiện

Cha không thời Chúng Con không

Cha là đấng Cha Ông

Cha là đấng Hư Không

Cha muốn cứu Cháu Con

Cha thị hiện thần thông

Cha thị hiện đầu lông

Phá tan ngục phiền não,

Phá tan tánh hư ảo

Phá tan tánh điên đảo

Phá tan chấp mê chấp

Thành chánh đẳng chánh giác,

Tự tại mãi an vui

Chúng con là Đệ Tứ, Ấn Chú uy lực vô biên

ĐỆ TỨ ẤN CHÚ

Bà - già - phạm, tát - đát - đa - tát - đát - ra, nam - mô - tý - đô - đế, a - tất - đa - na - ra - lặc - ca, ba - ra - bà - tất - phổ - tra, tỳ - ca - tát - đát - đa - bát - đế - rị, Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, Phật, Thánh, Tiên, đà - ra, Phật, Thánh, Tiên, giác - tha, đà - ra - dà - ra, tần - đà - ra, tần - đà - ra, sân - đà - sân - đà, hổ - hồng - hổ - hồng, phấn - tra, phấn - tra, phấn - tra, phấn - tra - ta - ha, hê - hê - phấn - a - mâu - ca - da - phấn, a - ba - ra - đề - ha - da - phấn, ba - ra - ba - ra - dà - phấn, a - tố - ra - tỳ - đà - ra - ba - ca - phấn, tát - bà - đề - bệ - tệ - phấn, tát - bà - na - già - tệ - phấn, tát - bà - dược - xoa - tệ - phấn, tát - bà - kiền - thát - bà - tệ - phấn, tát - bà - bổ - đơn - na - tệ - phấn, ca - tra - bổ - đơn - na - tệ - phấn, tát - bà - đột - lang - chỉ - đế - tệ - phấn, tát - bà - đột - sáp - tỷ - lê - hất - sắc - đế - lệ - phấn - tát - bà - thập - bà - lê - tệ - phấn, tát - bà - xá - ra - bà - noa - tệ - phấn, tát - bà - địa - đế - kê - tệ - phấn, tát - bà - đát  - ma - đà - kệ - tệ - phấn, tát - bà - tỳ - đà - da - ra - thệ -giá, lê - tệ - phấn, xà - dạ - yết - ra - ma - độ - yết - ra, tát - bà - dạ - tha - ta - đà - kê - tệ - phấn, tỳ - địa - dạ - giá - lê - tệ - phấn, giả - đô - ra - phược - kỳ - nể - tệ - phấn, bạt - xà - ra - cu - ma - rị, tỳ - đà - dạ - ra - thệ - tệ - phấn, ma - ha - ba - ra - dinh - dương - xoa - kỳ - rị - tệ - phấn, bạt - xà - ra - thương - yết - ra - dạ, ba - ra - trượng - kỳ - ra - dà - da - phấn, ma - ha - ca - ra -dạ, ma - ha - mạt - đát - rị - ca - noa, nam - mô - ta - yết - rị - đa - dạ - phấn, tỷ - sắc - noa - tỳ - duệ - phấn, bột - ra - ha - mâu - ni - duệ - phấn, a - kỳ - ni - duệ - phấn, ma - ha - yết - rị - duệ - phấn, yết - ra - đàm - tri - duệ - phấn, miệt - đát - rị - duệ - phấn, lao - đát - rị - duệ - phấn, giá - văn - trà - duệ - phấn, yết - la - ra - đát - rị - duệ - phấn, ca - bát - rị - duệ - phấn, a - địa - mục - chất - đa - ca - thi - ma - xá - na, bà - tư - nể - duệ - phấn, diễn - kết - chất, tát - đỏa - bà - tỏa - mạ - mạ - ấn - thố - na - mạ - mạ - tỏa.

Vô lượng vô biên linh căn linh hồn, linh hồn chúng sanh, linh hồn Quỷ, linh hồn Ma, linh hồn Địa Ngục, linh hồn Dạ Xoa, linh hồn Thần Vật, linh hồn Quỷ Vật, linh hồn A Tu La, khắp cả bảy hư không vũ trụ, nương theo thần lực của Đức Cha Trời, nghe Đệ Tứ Ấn Chú, do vô lượng vô biên Thiên Ấn Kim Cang nói ra, uy lực vô biên, làm tan chảy mộng tưởng đảo điên, mê chấp các tướng, các pháp, các tánh, các ý, không thực có, do mê chấp hư vọng tạo ra, tánh giả, pháp giả, thân giả, không thật có, do nhân duyên nhóm hợp sanh ra, như hoa đốm hư không, dối trá lừa dối lẫn nhau, tất cả sống trong cảnh giới mê không thật, cảnh già khú đế, lụ khụ gớm ghiếc, đờm đởm ớn nhợn, che đậy phấn da, sắc ma chất đa, làm sa đọa linh hồn, linh thức chân như vốn vô vi trong sạch không cấu nhiễm, dù trải qua vô lượng vô biên kiếp như hoa sen gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn, nhờ thần lực của Đức Cha Trời, nhờ uy lực vô lượng vô biên Thiên Ấn Kim Cang, và sự huyền diệu công phá của Ấn Chú, làm tan chảy sự mê chấp, nhàm chán sanh, lão, bệnh, tử, chán ngán lầm lẫn giả cứ nghĩ là chân, chán chê không còn ưa thích nữa, chán chường không còn mê chấp luyến tiếc nữa, chán ngấy phát ớn, vì do mê lầm sa đọa vô lượng ức kiếp, bỗng chốc hóa tiêu tan, phản hồi trực giác, thanh tịnh trí, thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, làm chủ chân tâm chân tánh, làm chủ cả chân lẫn giả, thành Chánh Đẳng Chánh Giác, tự tại vô ngại.

Lại hằng hà sa số Thiên Ấn Kim Cang từ hư không quá khứ xuất hiện hào quang trùng trùng trăm ức vạn nghìn châu báu đồng loạt bay tới đảnh lễ chầu ĐỨC CHA TRỜI, nói kệ rằng:

Chúng con là Thiên Ấn

Số lượng hà hà sa

Cha Trời khởi sanh ra

Nói Pháp Ấn Ấn Chú

Diệt trừ ma tâm ma

Phá tan giặc phiền não

Trở về Cội Ông Cha

Chúng Con là Đệ Ngũ

Ấn Chú nói nói ra

ĐỆ NGŨ ẤN CHÚ

Đột - sắc - tra - chất - đa, a - mạt - đát - rị - chất - đa, ô - xà - ha - ra, già - bà - ha - ra, già - bà - ha - ra, lô - địa - ra - ha - ra, bà - ta - ha - ra, ma - xà - ha - ra, xà - đa - ha - ra, thi - tỷ - đa - ha - ra, bạc - lược - dạ - ha - ra, kiền - đà - ha - ra, bố - sử - ba - ha - ra, phả - ra - ha - ra, bà - tỏa - ha - ra, bác - ba - chất - đa, đột - sắc - tra - chất - đa, lao - đà - ra - chất - đa, dược - xoa - yết - ra - ha, ra - sắt - ta - yết - ra - ha, bế - lệ - đa - yết - ra - ha, tỳ - xá - giá - yết - ra - ha, bộ - đa - yết - ra - ha, cưu - bàn - trà - yết - ra - ha, tất - kiền - đà - yết - ra - ha, ô - đát - ma - đà - yết - ra - ha, xa - dạ - yết - ra - yết - ra - ha, a - bát - tát - ma - ra - yết - ra - ha, trạch - khê - cách - trà - kỳ - ni - yết - ra - ha, Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, đế - yết - ra - ha, xà - di - ca - yết - ra - ha, xá - cu - ni - yết - ra - ha, mộ - đà - ra - nan - địa, ca - yết - ra - ha, a - lam - bà - yết - ra - ha, kiền - độ - ma - ni - yết - ra - ha, mười - phương - chư - Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, thập - yên - ca - hê - ca, trị - đế - dược - ca, đát - lệ - để - dược - ca, giả - bột - thát - ca - ni - để - thập - phạt - ra, tỷ - sam - ma - thập - phạt - ra, bạc - để - ca, tỷ - để - ca, thất - lệ - sắc - mật - ca, ta - nể - bác - để - ca, tát - bà - thập - phạt - ra, thất - lô - kiết - đế, mạt - đà - bệ - đạt - lô - chế - kiếm, a - ỷ - lô - kiềm, mục - khê - lô - kiềm, yết - rị - đột - lô - kìm, yết - ra - ha - yết - lam, yết - noa - du - lam, đản - da - du - lam, hất - rị - dạ - du - lam, mạt - mạ - du - lam, bạt - rị - thất - bà - du - lam, tỷ - lật - sắc - tra - du - lam, ô - đà - ra - du - lam, yết - tri - du - lam, bạt - tất - đế - du - lam, ô - lô - du - lam, thường - già - du - lam, hắc - tất - đa - du - lam, bạt - đà - du - lam, ta - phòng - án - già - bác - ra - trượng - già - du - lam, bộ - đa - tỷ - đa - trà - trà - kỳ - ni - thập - bà - ra, đà - bột - lô - ca - kiến, đốt - lô - kiết - tri, bà - lộ - da - tỳ, tát - bát - lô - ha - lăng - già, du - sa - đát - ra, ta - na - yết - ra - tỳ - sa - dụ - ca, a - kỳ - ni - ô - đà - ca, mạt - ra - bệ - ca - kiến - đa - ra, a - ca - ra - mật - rị, đốt - đát - liểm - bộ - ca, địa - lật - lặc - ca, tỷ - rị - sắc - chất - ca, tát - bà - na - cu - ra, tứ - dẫn - già - tệ - yết - ra - rị - dược - xoa, đác - ra - sô, mạt - ra - thị - phệ, đế - sam - ta - bệ - sam, tất - đát - da - bác - đát - ra, ma - ha - bạc - xà - lô - sắc - ni - sam, ma - ha - bác - lặc - trượng - kỳ - lam, dạ - ba - đột - bà - xá - du - xà - na, biện - đát - lệ - noa, tỳ - đà - da - bàn, đàm - ca - lô - di,đế - thù - bàn - đàm - ca - lô - di, bát - ra - tỳ - đà, bàn - đàm - ca - lô - di - đát - diệt - tha, án - a - na - lệ, tỳ - xá - đề - bệ - ra - bạc - xà - ra - đà - rị, bàn - đà - bàn - đà - nể, bạt - xà - ra - bàn - ni - phấn, hổ - hồng - đô - lô - ung - phấn, ta - bà - ha.

Nhờ thần lực Cha Trời, nhờ uy lực vô biên của Ấn Chú, nhờ sức mạnh tập thể vô lượng vô biên, Thiên Ấn mật tạng kim cang, đã phá tan địa ngục tâm linh, làm tan biến vô minh, phiền não giải thoát vô lượng vô biên, phàm phu, chúng sanh, quỷ, thần, linh hồn địa ngục, linh hồn linh vật, linh hồn quỷ vật, nhàm chán cảnh luân hồi sanh tử, ưa thích Thiên Đàng Cực Lạc, hội nhập Cội Nguồn, làm chủ chân tâm chân tánh, xa lìa mộng tưởng mê chấp đảo điên, VÔ MINH DIỆT, VÔ MINH TẬN tất cả linh căn điều hướng về Cội Nguồn. Hội ngộ Tánh Không, chính là chân tánh, tánh toàn năng toàn giác, tánh viên mãn, thường trụ, thường chiếu khắp hư không. Hội ngộ Tâm Không chính là chân tâm vô vi, không cấu nhiễm, dù trải qua vô lượng vô biên số kiếp sanh tử trong vật chất, như hoa sen gần bùn mà chẳng nhiễm bùn. Hội ngộ Không Pháp, chính là Cội Nguồn của tất cả pháp, biến sanh vô tướng pháp, có tướng pháp, sắc pháp, không sắc pháp, khắp pháp giới hư không nhưng không có sự ngăn ngại lẫn nhau, như ánh sáng chồng lên ánh sáng ngang dọc, trùng trùng lớp lớp như sóng điện chồng chất, nhưng không có sự ngăn ngại lẫn nhau, hội ngộ Linh Giác, nhận biết Linh Thức, trở thành viên giác, an trụ chân tâm chân tánh, chân như, huấn tập vô minh vì thế vô minh diệt, vô minh tận thấy rõ diệu dụng chân tâm chân tánh linh minh diệu giác không thể nghĩ bàn.

Từ hồi nào đến giờ Linh Giác CHÂN NHƯ, Linh Giác VÔ MINH cũng chỉ là một, chỉ ở hai cảnh giới thức và ngủ, Mê và Ngộ chánh giác và bất giác, ở cảnh giới thức CHÁNH GIÁC, CHÂN NHƯ, thời Tổ Tiên Khai Hóa, khai lập hư không vũ trụ, ở cảnh giới ngủ BẤT GIÁC, VÔ MINH thì khởi sanh ra Linh Thức vô minh, trùng trùng lúc nhúc linh thức, rồi trở thành Linh Căn, tiến hóa lên cao hơn nữa trở thành Linh Hồn muôn loài vạn vật.

Từ hồi nào đến giờ Linh Thức, Linh Hồn vô minh, vẫn bất tử sống mãi, chỉ vì lạc Cội lạc Nguồn mê chấp sanh ra đủ thứ phiền não, trôi lăng trong sanh tử muôn nghìn vạn ức kiếp, nay nhờ thần lực của Đức Cha Trời hiển hiện thần thông. Ấn Chú Kim Cang đánh tan phiền não. Làm cho tỉnh ngộ hiểu rõ vô minh, hiểu rõ chân tâm chân tánh của mình, nhàm chán cảnh khổ sanh tử, phiền não kết tập khó mong tiêu trừ, nhanh chóng hết được, nên vô lượng vô biên Thiên Ấn Kim Cang, xuất hiện nói ra Ấn Pháp làm tan hoại phiền não, chứng ngộ chân tâm chân tánh, thành chánh đẳng chánh giác, rút ngắn thời gian trải qua vô lượng vô biên số kiếp vi trần tu luyện mau chóng hội ngộ chân tâm chân tánh, hội nhập Cội Nguồn.

--------------------------------------------------

Kính mời Quý độc giả đón đọc các bộ

SỬ KINH VĂN HÓA CỘI NGUỒN:

1. KINH NHƠN LUÂN HIẾU NGHĨA

2. KINH LONG HOA ĐẠI CƯƠNG

3. KINH LONG HOA THIÊN TẠNG

4. KINH LONG HOA PHÁP TẠNG

5. KINH LONG HOA LUẬT TẠNG

6. KINH LONG HOA MẬT TẠNG

7. KINH LONG HOA GIỚI ĐỨC

8. LONG HOA PHÁP TẠNG KINH SAU THỜI HẬU ĐẾ

9. LONG HOA LƯỢC TRUYỆN

10. SỬ TRUYỆN: VĂN LANG CHIẾN SỰ 1

11. SỬ TRUYỆN: VĂN LANG CHIẾN SỰ 2

12. SỬ TRUYỆN: VĂN LANG CHIẾN SỰ 3

13. LONG HOA THI TẬP LỬA THIÊN

14. LONG HOA THI TẬP THỜI ĐẠI

15. LONG HOA THI TẬP HỮU ÍCH

16. LONG HOA THI TẬP PHỔ ĐỘ

17. LONG HOA THI TẬP CA NHẠC

18. LONG HOA THI TẬP SẤM KINH

19. LONG HOA THI TẬP HÁT XƯA

20. LONG PHỤNG HIỆP NGHĨA

21. CÂU CHUYỆN HỒNG TRẦN

22. VĂN HỌC NGHỊ LUẬN - 108 chuyên đề.

Với mục đích hướng về Cội Nguồn và góp phần nâng cao nét đẹp, truyền thống văn hóa anh linh của Dân Tộc. Thầy rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của Quý Độc Giả, Quý Đồng Bào trong và ngoài nước.

--------------------------------------------------

SƠ LƯỢC VỀ TÁC GIẢ

D:\SEN\VHCN\KINH CHÚ\Kinh Sách Đã Chỉnh\2 - Bìa Kinh\Website\Logo Website\LOGO FACEBOOK + YOUTUBE\LOGO FILE GỐC\BANER + LOGO GỐC (HÌNH QT HIỆN TẠI)\1- Tiến sĩ Cao Đức Toàn(sáng).jpg

Giáo sư, Tiến sĩ Cao Đức Toàn, sinh năm: 1980, quê quán: Đức Phổ, Quảng Ngãi, Việt Nam. Tôi sinh ra và lớn lên là một người con của quê hương Quảng Ngãi, Việt Nam.

Hiện tại, Tôi là giảng viên (Assistant Professor) tại Học Viện Công Nghệ Rochester, New York, USA.

Tôi đã hoàn thành 2 bằng đại học tại Việt Nam (Đại Học Kinh Tế TPHCM và Đại Học Bách Khoa TPHCM) trước khi sang Âu Châu du học ở cấp độ Thạc sĩ (University of Liege, Belgium) và Tiến sĩ (Catholic University of Portugal, Portugal) về ngành khoa học kỹ sư dân dụng, bằng học bổng của Châu Âu. Sau khi hoàn thành các cấp độ học tập của mình, tôi tiếp tục làm việc tại các trường đại học hàng đầu ở Châu Âu (University of Padua, Italy; Technical University of Darmstadt, Germany) và sau đó tôi lên đường tiếp tục sự nghiệp giáo dục và nghiên cứu tại các trường đại học tại Mỹ nằm trong thứ hạng 50 đến 100 của nền giáo dục Mỹ (Texas Tech University; Mississippi State University; University of Alabama; Rochester Institute of Technology).

Năm 1985 (lên 5 tuổi), tôi theo Đức Thầy Hư Không Tạng Diệu Không tu thiền và học về đạo đức làm người từ cuốn sách về Nhân Luân Hiếu Nghĩa do Thầy của tôi viết tay từ những tờ giấy góp nhặt đóng thành sách.

Từ năm 9 tuổi đến năm 18 tuổi: tôi tu thiền, học đạo và ăn chay trường. Sau đó, tôi rời gia đình ở Quảng Ngãi để đi học một lúc hai trường Đại Học danh tiếng ở Sài Gòn.

Trong suốt những năm học Đạo, tôi được Thầy của tôi đặt cho pháp danh là Nhân Thập. Thầy tôi giải thích rằng: “Nhân” chính là Tâm. “Thập” chính là Toàn. Ý nói tâm của con người chính là Tâm Toàn Giác của Linh Giác Vũ Trụ (chính là Lương Tâm của mỗi con người). Tâm Toàn Giác chính là sự giác ngộ chánh đẳng chánh giác của con người. Nhân loại con người đều giống nhau, ai cũng như ai. Họ điều có Tâm Toàn Giác của mình, nó không thêm cũng không bớt như như thường còn, bất diệt, luôn quang minh, giác ngộ và trí tuệ. Nhưng chỉ khác là người ta có nhận thấy nó hay không, nó luôn bị những vòng xoáy cuộc đời che mờ. Ví như mặt trời bị các đám mây che mất vậy. Nếu không có đám mây che mờ thì Lương Tâm ai cũng giống như nhau.

Kính mến,

NHÂN THẬP ĐẠI CƯ SĨ

GIÁO SƯ, TIẾN SĨ CAO ĐỨC TOÀN

([email protected])