PHÁP ĐỘ
NGHI LỄ THỜ CÚNG
TỔ TIÊN
(Tái bản lần 2)
VĂN HÓA CỘI NGUỒN
Quyển 2
-------------------------------------
Trọn Bộ 2 Quyển
Nhân Thập Đại Cư sĩ,
Giáo sư, Tiến sĩ Cao Đức Toàn
-------------O-------------
C - MỘT SỐ ẢNH THỜ TỰ MẪU TRONG VĂN HÓA CỘI NGUỒN
D - CÂU ĐỐI THỜ TỰ TRONG VĂN HÓA CỘI NGUỒN
1 - NỘI DUNG KHAI MỞ THỜ TỰ TRONG GIA ĐÌNH DÒNG HỌ
2 - NỘI DUNG KHAI MỞ THỜ TỰ TRONG CÁC CƠ QUAN, DOANH NGHIỆP, TRƯỜNG HỌC, CƠ SỞ THỜ TỰ
3 - HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH NGHI LỄ
CHƯƠNG II - QUỐC BẢO KHAI KINH
2 - KHAI KINH SỐ 2 GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG
5 - KHAI KINH SỐ 5 NGHI THỨC KHAI KINH NHẬP ĐẠO
6 - KHAI KINH SỐ 6 NGHI THỨC PHONG THÁNH THEO NGHI THỨC VẠN ĐẠI
LỄ PHONG ẤN DO HỘI ĐỒNG THÁNH ĐỨC TRUYỀN TRAO VÀ LỜI TUYÊN THỆ NHỮNG NGƯỜI ĐƯỢC PHONG ẤN
7 - KHAI KINH SỐ 7 ĐỌC TỤNG NHÂN LUÂN HIẾU NGHĨA
8 - KHAI KINH SỐ 8 NGHI THỨC KHAI KINH CẦU SIÊU CŨNG NHƯ NGHI THỨC CẦU SIÊU
9 - KHAI KINH SỐ 9 NGHI THỨC TANG LỄ CƯ GIA
BÀI SÁM TÁNG Đưa Tang Hay Tụng Kinh siêu độ hồn linh
10 - KHAI KINH SỐ 10 NGHI THỨC CẦU AN LỄ THÀNH HÔN
CHƯƠNG III - VĂN KHẤN Ở BÀN THỜ TẠI GIA
(B) MỘT SỐ BÀI VĂN KHẤN VÀO CÁC NGÀY LỄ TẾT TRONG NĂM
1 - VĂN KHẤN MÙNG 1 TẾT NGUYÊN ĐÁN
2 - VĂN KHẤN MÙNG 2 TẾT NGUYÊN ĐÁN
3 - VĂN KHẤN MÙNG 3 TẾT NGUYÊN ĐÁN
4 - CÚNG DÂNG SAO NGÀY RẰM THÁNG GIÊNG
5 - VĂN KHẤN GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG (10/ 03 ÂM LỊCH). TẠI BÀN THỜ GIA TIÊN
6 - VĂN KHẤN 5 THÁNG 5 NGÀY 100 ÔNG BÀ TỔ TỔ TỔ RA ĐỜI
7 - VĂN KHẤN RẰM THÁNG 7 TRONG NHÀ
8 - VĂN KHẤN NGÀY RẰM THÁNG 7 CÚNG CÔ HỒN NGOÀI TRỜI
9 - VĂN KHẤN NGÀY 23 THÁNG CHẠP
10 - VĂN KHẤN ĐÊM GIAO THỪA TRONG NHÀ
11 - VĂN KHẤN ĐÊM GIAO THỪA NGOÀI TRỜI
CHƯƠNG IV - SỰ RA ĐỜI CỦA CON NGƯỜI
LỜI TRUYỀN DẠY CỦA ĐỨC CHA TRỜI
CHƯƠNG V - THẦN CHÚ, ẤN CHÚ CỘI NGUỒN
1 - LONG HOA VÔ NGẠI ĐẠI BI THẦN CHÚ
3 - LONG HOA THIÊN ẤN MẬT TẠNG KIM CANG CHÚ
“Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng 10 tháng 3.”
Quốc Tổ Anh Linh khó nghĩ bàn
Xuống trần khai Đạo cứu thế gian
Nay con thành kính xưng danh tụng
Phổ hóa lời kinh Quốc Đạo Tràng
Trước ảnh tượng Tiên Rồng soi sáng
Lạc Long Quân cùng với Âu Cơ
Cha Trời Địa Mẫu Tối Cao
Uy linh tột đỉnh trùm bao uy quyền
Với lòng dạ chí thành cung kính
Xin Trời Cha chứng giám công lao
Thành tâm lễ bái công ơn
Sanh thành dưỡng dục tạo lên muôn loài
Ngày đại lễ vang lừng Giỗ Tổ
Khắp cháu con hoa quả dâng lên
Một lòng nhớ đến công ơn
Khai cơ dựng nước dựng lên sơn hà
Ơn Quốc Tổ không gì sánh được
Truyền chân kinh tận độ chúng dân
Lập lên đất nước Văn Lang
Văn Minh hùng mạnh thế gian ai bì
Ơn Quốc Tổ thấm nhuần con cháu
Năm nghìn năm Văn Hiến vinh quang
Văn Lang Bách Việt chúng dân
Đời đời ghi nhớ công ơn của Người.
2 - Văn Hóa Cội Nguồn nền Văn Hiến Quốc Đạo Tiên Rồng hay chính là Đại Đạo tối cao vũ trụ.
“Uống nước nhớ Nguồn”
“Ăn quả nhớ kẻ trông cây”
Hay: “Con chim có Tổ con người có Tông”
Kính mến!
NHÂN THẬP ĐẠI CƯ SĨ,
GIÁO SƯ, TIẾN SĨ CAO ĐỨC TOÀN
--------------------------------------------------
C - MỘT SỐ ẢNH THỜ TỰ MẪU TRONG VĂN HÓA CỘI NGUỒN






D - CÂU ĐỐI THỜ TỰ TRONG VĂN HÓA CỘI NGUỒN
GỐC ĐẠO ĐỨC NGÀN NĂM TIÊN TỔ LẬP |
| ĐẠO NGHĨA NHÂN VẠN THUỞ TỬ TÔN GÌN |
* Lưu ý:
+ Điều quan trọng là bàn thờ luôn trang nghiêm, sạch sẽ, thanh tịnh.
* * *
1 - NỘI DUNG KHAI MỞ THỜ TỰ TRONG GIA ĐÌNH/ DÒNG HỌ
(Nếu chúng ta thờ thêm Ông Bà Tiên Tổ - những vị con Trời nào thì khấn thêm vào đây, rồi đọc tiếp).
Hiện Thân Hai Đấng Cửu Huyền Tối Cao
Sanh Ra Nhân Loại Con Người
Ông Bà, Cha Mẹ, Đến Thời Chúng Con
A Men
NAM MÔ A MEN
b) TIẾP ĐẾN, CHỦ LỄ ĐỌC PHẦN VĂN KHẤN SAU:
CON THÀNH TÂM KÍNH LẠY 100 ÔNG BÀ TIÊN TỔ, CHƯ HƯƠNG LINH GIA TIÊN TIỀN TỔ NỘI NGOẠI/ DÒNG HỌ… (lạy)
CON THÀNH TÂM KÍNH BÁI PHẬT THÁNH TIÊN THẦN CHÚA KHẮP PHÁP GIỚI MƯỜI PHƯƠNG (bái).
Gia đình chúng con nay biết quy hướng về Nguồn Cội, Tổ Tiên, Cha Trời, Mẹ Trời, Quốc Tổ,… và hiểu rằng thờ tự trong Văn Hóa Cội Nguồn là tối đại linh thiêng, phước đức vô tận không thể nghĩ bàn, nên đã dựng lập bàn thờ theo Văn Hóa Cội Nguồn.
Ở tại địa chỉ:
Xóm/ Đường:..... Thôn/ Tổ dân phố:..... Xã/ Phường:..... Quận/ Huyện:..... Tỉnh/ Thành phố:..... Nước Việt Nam.
+ Long Hoa Giáo Chủ, Di Lặc, Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương, 100 Ông Bà Tiên Tổ.
+ Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới mười phương. Ba thời, quá khứ, hiện tại, vị lai. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ.
* * *
NAM MÔ A MEN (lạy 4 lạy, bái 4 bái)
* * *
KHAI KINH KỆ
Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu
Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu
Nay con gặp đặng chuyên trì tụng
Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu.
* * *
TỤNG ĐỌC LONG HOA VÔ NGẠI ĐẠI BI THẦN CHÚ
(trang số: 254 - 273)
TỤNG ĐỌC LONG HOA BÁT NHÃ TÂM KINH.
(trang số: 274 - 281)
(Bái xá 4 bái)
KẾT THÚC NGHI LỄ
* * *
2 - NỘI DUNG KHAI MỞ THỜ TỰ TRONG CÁC CƠ QUAN, DOANH NGHIỆP, TRƯỜNG HỌC, CƠ SỞ THỜ TỰ
Hiện Thân Hai Đấng Cửu Huyền Tối Cao
Sanh Ra Nhân Loại Con Người
Ông Bà, Cha Mẹ, Đến Thời Chúng Con
A Men
NAM MÔ A MEN
b) TIẾP ĐẾN, CHỦ LỄ ĐỌC PHẦN VĂN KHẤN SAU:
CON THÀNH TÂM KÍNH LẠY 100 ÔNG BÀ TIÊN TỔ. (lạy)
CON THÀNH TÂM KÍNH BÁI PHẬT THÁNH TIÊN THẦN CHÚA KHẮP PHÁP GIỚI MƯỜI PHƯƠNG (bái).
Họ tên con là:..... sinh năm:.....
Chức vụ:.....
Tên cơ quan/ doanh nghiệp/ trường học/ cơ sở thờ tự:.....
Địa chỉ:.....
Chúng con đem lòng thành khẩn, thành kính, thành tâm dâng lên: nhang, đèn, hương, hoa, nước, trà, quả, vật thực thanh tịnh cúng dường.
+ Long Hoa Giáo Chủ, Di Lặc, Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương, 100 Ông Bà Tiên Tổ.
+ Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới mười phương. Ba thời, quá khứ, hiện tại, vị lai. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ.
Chúng con nguyện đời đời, kiếp kiếp, tột cùng vị lai, tôn thờ Tổ Tiên, Cha Trời, Mẹ Trời, ba ngôi Tối Cao Vũ Trụ. (quý vị phát nguyện tùy ý).
NAM MÔ A MEN (lạy 3 lạy, bái 4 bái)
* * *
KHAI KINH KỆ
Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu
Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu
Nay con gặp đặng chuyên trì tụng
Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu.
* * *
TỤNG ĐỌC LONG HOA VÔ NGẠI ĐẠI BI THẦN CHÚ
(trang số: 254 - 273)
TỤNG ĐỌC LONG HOA BÁT NHÃ TÂM KINH.
(trang số: 274 - 281)
(Bái xá 4 bái)
KẾT THÚC NGHI LỄ
* * *
3 - HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH NGHI LỄ

--------------------------------------------------
ĐẠI THỪA QUỐC BẢO KHAI KINH
Sử dụng ở những địa điểm thờ tự lớn, như trong Cơ quan, Doanh nghiệp, Công ty, Trường học, Am, Thất, Đền, Chùa… hoặc tại gia (khi có Chủ Lễ).
--------------------------------------------------
Chuông đánh ba hồi ba tiếng.
Trống đánh ba hồi ba tiếng.
Tiếp theo sau là đánh tiếng chuông, tiếng trống, 3 tiếng chuông 3 tiếng trống.
Sau cùng nhập chuông trống đánh cùng một lúc (thứ 4)
CHỦ LỄ
Đứng ngay ngắn xướng niệm
Hai bên chủ lễ Tả Hữu phía sau lắng nghe.
a1) TỊNH PHÁP GIỚI CHƠN NGÔN
Thế giới tịnh yên nhờ có Đạo
Non sông có Đạo mới bình yên
Gia đình xã hội chúng dân
Nếu không có Đạo rối ben khốn cùng
Án lam xóa ha (3 lần)
a2) TỊNH TAM NGHIỆP CHƠN NGÔN
Thân lành thường giúp thế nhân
Khẩu lành không nói hiểm sâu hại đời
Ý lành cứu giúp con người
Làm cho cuộc sống yên bình, bình yên
Án ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ
Đạt mạ ta phạ, bà phạ truật độ hám (3 lần).
Quỳ ngay thẳng: Chủ Lễ cầm 3 cây hương dâng ngang trán xướng niệm. Hai bên Tả - Hữu đứng phía sau chấp tay yên lặng chú ý lắng nghe.
Nguyện đem lòng thành kính
Gởi theo đám mây hương
Phảng phất khắp mười phương
Cúng dường ngôi Tiên Tổ
Cha Trời cùng Địa Mẫu
Long Hoa Giáo Chủ
Di Lặc. Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương
Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới mười phương. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ.
(gõ tiếng chuông đồng bái lạy)
a3) KỲ NGUYỆN:
Tại nơi: Am, Thất, Đền, Chùa.....
Nhớ đến ngày Tổ Tiên. Hiện Thân Cha Trời. Địa Mẫu. Ngày vía Long Hoa Giáo Chủ, Di Lặc, Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương.
(đánh một tiếng chuông đồng bái lạy).
a4) KHAI ẤN
CHỦ LỄ cùng hai bên chủ lễ TẢ, HỮU cùng xướng đọc
Thiên Ấn tối cao, Ấn tối linh
Chuyển vận huyền cơ cứu nhân sanh
Nhất tâm lễ bái lòng cung kính
Họa tai tan biến, thoát siêu sinh
Ấn Linh Tối Thắng khắp hư không
Chuyển hóa Linh Căn pháp đại đồng
Vi Diệu Thậm Thâm cơ ứng hóa
Cội Nguồn Đại Đạo Cội Cha Ông
(đánh tiếng chuông đồng bái lạy)
* * *
Thấy Ấn như thấy Cha Trời
Thành tâm lễ bái vãn hồi chân như
Thấy Ấn như thấy Âu Cơ
Mẹ Trời che chở bến bờ bình yên
Ấn Linh ứng hóa vô biên
Chuyển xoay tất cả cứu nguy linh hồn
Hào quang Thiên Ấn bao trùm
Anh Linh tột thế khắp cùng chuyển xoay
Thiên Ấn Tối Thắng Như Lai
Nhất tâm cung kính tội tiêu ức ngàn
Thấy Ấn như thấy Cha Trời
Cầu chi đặng nấy linh thời ứng linh
Nam Mô vô tận hư không
A Men như ý quyền năng tột cùng
(đánh tiếng chuông đồng bái lạy).
* * *
a5) KHAI BÚT
CHỦ LỄ cùng hai bên chủ lễ TẢ, HỮU đồng xướng đọc
Thiên Bút cao sâu khó nghĩ bàn
Ứng Linh xuất hiện chốn nhân gian
Cứu khổ ban vui cùng nhân loại
Vi diệu thậm thâm ức vạn ngàn.
Nam Mô Thiên Bút Đạo Tràng.
Linh Linh ứng hóa khắp cùng A Men.
(đánh tiếng chuông đồng bái lạy).
* * *
a6) CHÚ NGUYỆN
Nguyện cầu pháp giới sanh linh
Tịnh yên vô nhiễm sạch không bụi trần
Hương giới hương huệ thơm lừng
Hương nhân hương nghĩa tột cùng sáng soi
Khẩu lành tụng niệm kinh luân
Gieo mầm công đức, gieo nhân quả lành
Tịnh khẩu ác nghiệp không còn
Hương thơm lan tỏa Đạo tràn cao bay
Tam nghiệp thanh tịnh an vui
Thân cùng Khẩu, Ý đắp xây quả lành
Trì kinh tụng đọc cúng dường
Dâng lên Tiên Tổ, Cha Trời chứng tri
Nguyện cho kinh pháp chuyển luân
Khắp cùng pháp giới mười phương gieo mầm
Lời kinh tận độ khắp cùng
Làm cho tất cả không còn khổ đau
Làm cho tất cả siêu sanh
Trở về Thiên Giới an lành yên vui.
(đánh tiếng chuông)
(Lạy 3 lạy bái 4 bái)
* * *
PHẦN KHAI CƠ THÁNH ĐỨC ĐẾN ĐÂY LÀ HẾT.
TIẾP THEO SAU LÀ PHẦN KHAI KINH
Đánh tiếng chuông, tiếng mõ
Tiếng chuông tiếng mõ
Tiếng chuông tiếng mõ (3 lần).
b1) Chủ Lễ Khai Kinh Xướng Đọc
Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu
Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu
Nay con gặp đặng chuyên trì tụng
Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu.
(gõ chuông, đồng lạy)
(gõ chuông, đồng lạy)
(gõ chuông, đồng lạy)
b2) <TIẾP THEO> TỤNG CHÚ ĐẠI BI
(trang số: 254 - 273)
b3) <TIẾP THEO> TỤNG KINH LONG HOA
(trang số: 243 - 253)
(nói về Cha Trời Mẹ Trời sanh ra nhân loại con người, xem Long Hoa Mật Tạng Kinh, Long Hoa Thiên Tạng Kinh sẽ nói rõ hơn).
b4) <TIẾP THEO> TỤNG CHÚ LONG HOA BÁT NHÃ TÂM KINH 1, 2, 3
(trang số: 274 - 281)
b5) <TIẾP THEO> TAM NGUYỆN
Chủ Lễ xướng đọc
Cả ba Chủ Lễ, hai bên Tả Hữu đồng đọc
NAM MÔ A MEN
Đương Nguyện Thế Nhân. Quy Kính Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Thuận Theo Kinh Bảo. Thiên Ý Cha Trời. Thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.
(đánh tiếng chuông đồng bái lạy)
NAM MÔ A MEN
Đương Nguyện Thế Nhân. Phát Vô Thượng Tâm. Thấu Suốt Kinh Tạng Trí Huệ Như Hải.
(đánh tiếng chuông đồng bái lạy)
NAM MÔ A MEN
Đương Nguyện Thế Nhân. Phát Vô Thượng Tâm. Thống Lý Đại Chúng Không Gì Ngăn Ngại.
(đánh tiếng chuông đồng bái lạy)
Nguyện đem công đức nầy
Hồi hướng khắp tất cả
Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ
Hết khổ tự tại, an vui hạnh phúc
* * *
(Bái xá 4 bái)
Phần khai kinh cũng như phần tụng kinh cơ bản đến đây là hết. Nếu muốn trì tụng kinh rộng lớn hơn. Tiếp theo sau Chú Đại Bi, thời chọn những phần kinh, trong Nhơn Luân Hiếu Nghĩa, Long Hoa Thi Tập, Long Hoa Thiên Tạng, Long Hoa Pháp Tạng, Long Hoa Mật Tạng, Sau Thời Hậu Đế, Quốc Hồn Long Hoa Đại Cương. Và còn những Văn Kinh trong Văn Sử khác nữa, v.v...
--------------------------------------------------
NHỮNG ĐIỀU CẦN CHÚ Ý:
--------------------------------------------------
2 - KHAI KINH SỐ 2
GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG
Ba hồi chiêng - trống khai văn tế
VĂN TẾ DÂNG HOA
Chủ Tế bước tới trước một bước quỳ xuống xuống đọc Văn Tế. Hai bên Tả Hữu chủ lễ phía sau chấp tay chú ý lắng nghe.
Tinh Hoa: rực thắm sắc hương hoa
Thành tâm dâng cúng đức Ông Cha
Việt Nam con cháu lòng đóa tưởng
Công đức Vua Hùng mãi ngợi ca
(đánh tiếng chiêng tiếng trống)
(Hai bên Tả Hữu chủ lễ đồng bái lạy).
VĂN TẾ DÂNG TỬU
Tửu Vị: ấm nồng, tửu vị hương
Thành tâm dâng cúng Tổ Hùng Vương
Việt Nam con cháu lòng thành kính
Ân Đức Vua Hùng sáng hơn gương
(đánh tiếng chiêng tiếng trống)
(Hai bên Tả Hữu chủ lễ đồng bái lạy).
VĂN TẾ DÂNG TRÀ
Thảo mộc: tinh hoa mỹ vị trà
Thành tâm dâng cúng cội Ông Cha
Vua Hùng Quốc Tổ niềm chứng giám
Con cháu Tiên Rồng những thiết tha
(đánh tiếng chiêng tiếng trống)
(Hai bên Tả Hữu chủ lễ đồng bái lạy).
VĂN TẾ KHAI TRỐNG KHAI CHIÊNG
Hồi chuông: trỗi dậy chuyển âm vang
Truyền tấu càn khôn khắp thế gian
Phổ hóa Cha Ông đà ngự giá
Anh Linh truyền thống tỏa hào quang
(đánh tiếng chiêng tiếng trống)
(Hai bên Tả Hữu chủ lễ đồng bái lạy).
VĂN TẾ KHAI TRỐNG
Phúc Âm: sấm dậy chuyển âm vang
Ấn chỉ ban ra khắp thế gian
Tiếng trống phổ truyền chung thinh cáo
Giỗ Tổ Vua Hùng đại vinh quang
(đánh tiếng chiêng tiếng trống)
(Hai bên Tả Hữu chủ lễ đồng bái lạy).
VĂN TẾ TRỐNG CHIÊNG HỢP NHẤT
Âm - Dương Chiêng - Trống hiệp ban ra
Phổ hóa anh linh khắp nước nhà
Truyền tấu càn khôn thông pháp giới
Đương kim Quốc Giáo Đạo Ông Cha
(đánh chiêng trống chiêng trống 3 lần)
(đồng bái lạy)
Đi vào Văn Tế đại lễ
* * *
Chủ Lễ đọc giọng trầm hùng
MỪNG NGÀY HÔM NAY
Trống đồng chuyển thế
Non sông dậy sấm anh hùng
Trống đồng ngân lên!
Việt Nam ngút ngàn linh khí
Rồng Tiên phấp phới!
Dậy sóng đất trời chuyển rung
Toàn dân giỗ Tổ!
Nhớ đến công ơn!
Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương
Cả nước mừng vui Quốc Lễ
Trên non dưới biển
Rợp bóng người đi
Cờ xí uy nghi!
Trống Chiêng thi nhau dục dã
Trăm họ, gái, trai, già trẻ!
Hân hoan muôn dặm trùng phùng
Bừng lên Nhật Nguyệt lẫy lừng
Việt Nam con cháu Tiên Rồng uy linh
Sơn hà trỗi dậy hương thơm
Trên Trời hạt trắng, mây xanh cát tường
Địa Linh non nước diệu kỳ
Núi non trùng điệp, điệp trùng uy nghi
Biển bọc bao la!
Ruộng đồng mênh mông
Thuyền xuôi sóng vỗ!
Núi mây sừng sững công Cha
Hổ Lượn Rồng Bay!
Sông nước tràn đầy nghĩa Mẹ
CÙNG NHÌN LẠI!
41 đời Hùng Vương
Bách Việt Văn Lang
Trăm bộ tộc!
Chầu về một hướng
Đạo Ông Cha muôn trượng cơ đồ
Lòng chuyên nhất triệu người như một
Cuộc mưu sinh khổ cực có nhau
Thế hệ trước tiếp nối thế hệ sau
Dù ngoại xâm!
Hay là Yêu Tinh Ma Quỷ
Tinh thần yêu nước
Vùng lên quật khởi
Dũng cảm mưu trí quật cường
Hiên ngang thay!
Bao phen từng đánh tan quân xâm lược
Thời Tiên Lang!
Khiến quân Ân khiếp nhược!
Anh Linh thay!
Phù Đổng Thiên Vương!
Một trận đánh hậu Ân tan xác
Nước Văn Lang oai hùng có khác
Vẻ vang thay 41 đời
Triều Vương Thế giới!
Nào có ai hơn!
Rực rỡ mấy nghìn năm thịnh trị
Với công lao!
Khai phá dựng nước một thời
Mà uy lực trải dài trăm thế hệ
Lòng yêu nước!
Ngút cao trên chín bệ
Đạo Hiếu Trung!
Nào phân biệt Gái, Trai
Triệu Nữ, Trưng Vương! Anh hùng cái thế
Trai dũng lược Đinh Tiên, Lý Đế
Sông Bạch Đằng!
Ngô Quyền:
Đánh tan quân Nam Hán
Gió Nam Việt rền vang Truyền Thống
Lý Thường Kiệt!
Khiếp hồn quân Tống
Hội Diên Hồng!
Rung chuyển cả trăng sao
Hưng Đạo Vương!
Trung, Hiếu, Chí, Đức cao
Ba lần đánh Nguyên Mông khiếp vía
Lở đất long trời!
Quang Trung đại phá!
Một trận đánh vùi chôn quân Sĩ Nghị
Tiên Rồng hừng hực!
Năm nghìn năm, Đại Việt Uy Linh
CHÚNG CON NAY
Khắp ba miền Trung - Nam - Bắc
Bốn phương rộng khắp!
Nam - Bắc - Đông - Tây
Trăm họ, già, trẻ, gái, trai
Kính cẩn nghiêng mình Đại Lễ
Trên Quốc Tổ linh thiêng chỉ vẽ
Dưới Hồn Thiêng cao cả phù trì
XIN CÚI NGUYỆN
Trăm con một bọc!
Đồng Bào ruột thịt!
Yêu thương nhau đùm bọc chan hòa
Một gốc trăm cành!
Gắn bó mãi như keo sơn chặt chẽ
Dựng cơ đồ Chị ngã Em nâng
Cơn hoạn nạn Bầu thương lấy Bí
Chung sức cùng gian khó xẻ chia
Vì thế hệ tương lai!
Nào kể gì sống chết
Mãi hết lòng vì Dân! Vì Nước
Noi gương Cha Ông luôn gắng sức
Tinh thần cao ngút!
Khí thế con cháu Tiên Rồng
Nhớ ơn đời đời Hùng Vương Vạn Tuế
Nhớ ơn đời đời Hùng Vương Cái Thế
Nhớ ơn đời đời trời bể Hùng Vương
* * *
Chiêng trống nổi lên rền vang đại lễ
Chiêng - Trống
Chiêng - Trống
Chiêng - Trống
Hồng Lạc Tinh Hoa năm châu bốn biển ngoại xâm khiếp vía kinh hoàng.
Chủ văn tế Lạy 9 lạy 9 bái
* * *
Phần văn tế đến đây là hết, tiếp đến phần khai Giáo.
Quốc Đạo Nền Văn Hiến Văn Lang Thời khai cơ dựng nước. Nay là Nền Văn Hiến Quốc Giáo Truyền Thống Anh Linh Việt Nam.
HỒI CHIÊNG - HỒI TRỐNG
CHIÊNG - TRỐNG
CHIÊNG - TRỐNG
CHIÊNG - TRỐNG
Chủ Lễ xướng đọc Văn Giáo.
Phụng Nguyện Thượng Sớ
Hôm nay ngày Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương.
Nhằm Ngày..... Tháng..... Năm.....
Thôn/ Tổ dân phố:..... Xã/ Phường:..... Quận/ Huyện:..... Tỉnh/ Thành phố:..... Nước Việt Nam.
(gõ chuông đồng bái lạy).
KHAI GIÁO
ĐỌC TỤNG TẬP THỂ
Việt Nam Quốc Giáo lẫy lừng
Uy Linh vạn cõi sáng bừng thập phương
Truyền Thống Cha Ông vẻ vang
Năm nghìn năm Văn Hiến vinh quang tột cùng
(gõ tiếng chuông - đồng bái lạy).
KHAI ẤN
Ấn Linh xuất hiện chuyển an bang
Vận chuyển càn khôn chuyển thế gian
Thiên Ý Cha Trời nền Thiên Luật
Duy trì Công Đạo Chiếu Linh Quang
(gõ chuông đồng bái lạy).
KHAI BÚT
Bút Linh xuất hiện chốn nhân gian
Chuyển nguy hóa giải đến bình an
Việt Nam tỏa sáng nền Quốc Giáo
Rực rỡ Sơn Hà dậy vinh quang.
(gõ chuông đồng bái lạy)
* * *
Đọc tụng tập thể.
SÁM KINH
Quốc Tổ Anh Linh khó nghĩ bàn
Xuống trần khai Đạo cứu thế gian
Nay con thành kính xưng danh tụng
Phổ hóa lời kinh Quốc Đạo Tràng
Trước ảnh tượng Tiên Rồng chóa sáng
Lạc Long Quân cùng với Âu Cơ
Cha Trời Địa Mẫu Tối Cao
Uy Linh tột đỉnh trùm bao uy quyền
Với lòng dạ chí thành cung kính
Xin Trời Cha chứng giám công lao
Thành tâm lễ bái công ơn
Sanh thành dưỡng dục tạo lên muôn loài
Ngày Đại Lễ vang lừng Giỗ Tổ
Khắp cháu con hoa quả dâng lên
Một lòng nhớ đến công ơn
Khai cơ dựng nước dựng lên sơn hà
Ơn Quốc Tổ không gì sánh được
Truyền chân kinh tận độ chúng dân
Lập lên đất nước Văn Lang
Văn Minh hùng mạnh thế gian ai bì
Ơn Quốc Tổ thấm nhuần con cháu
Năm nghìn năm Văn Hiến vinh quang
Văn Lang Bách Việt chúng dân
Đời đời ghi nhớ công ơn của Người
Ngày giỗ Tổ tựu tề đông đủ
Đèn, hương, hoa, trà, quả kính dâng
Tỏ lòng thành kính tri ân
Công lao Quốc Tổ không ai hơn Người
Nền Quốc Đạo sáng ngời chân lý
Ơn Vua Hùng truyền giáo khai kinh
Công ơn trời biển công ơn
Nói sao cho tận kể sao cho cùng
Ngày Giỗ Tổ chí thành lễ bái
Xin bề trên chứng giám công lao
Khí Thiêng sông núi khắp nơi
Hồn Thiêng dân tộc vạn đời chở che
Là dân tộc Rồng Tiên Hồng Lạc
Vốn giống dân Hồng Ngọc uy linh
Giống dân Trung Hiếu Nghĩa Nhân
Không quên Nguồn Cội không quên giống nòi
Chúng con ý thức được rằng
Như cây có Cội nở nhành nở hoa
Nước kia không cạn vì sao
Còn Nguồn còn Cội đầy sông đầy hồ
Loài Chim có Tổ trường tồn
Loài người có Cội Tiên Rồng uy linh
Dân Tộc Việt năm nghìn năm truyền thống
Trải bao đời tiếp nối đến hôm nay
Giữ gìn bồi đắp dựng xây
Cho non cho nước nở đầy nhành xuân
Nền Văn Hiến lẫy lừng con cháu
Rạng hùng anh tỏa sáng Cha Ông
Rồng Tiên phấp phới cao bay
Năm châu bốn bể đấp xây hòa bình
Nước Việt nam đại gia đình dân tộc
Thể Đồng Bào luôn đùm bọc lẫn nhau
Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng
Lá rách nương nhờ lá lành
Tinh thần đoàn kết bao đời khó phai
Anh Em như thể chân tay
Như chim liền cánh như cây liền cành
Ngày Giỗ Tổ hương trầm thơm ngát
Lời kệ kinh thấu suốt Tam Thiên
Kết thành cam lộ vô biên
Thấm nhuần hết thảy ức muôn vạn loài
Xin Tổ Tiên, Cha Trời, Địa mẫu
Cùng Vua Hùng Quốc Tổ anh linh
Hồn Thiêng sông núi chứng minh
Chứng tri công đức chúng con thọ trì
Nguyện cho đất nước an lành
Thái bình độc lập nở nhành giàu xuân.
(đánh hồi chiêng hồi trống kết thúc Khai Giáo)
(Lạy 3 lạy bái 4 bái)
* * *
Lễ khai Văn Tế, khai Kinh, khai Giáo, Giỗ Tổ đến đây là hết.
--------------------------------------------------
Chuông đánh 3 hồi 3 tiếng
Kế đến
Tiếng chuông tiếng mõ
Tiếng chuông tiếng mõ
Tiếng chuông tiếng mõ
Thắp đèn đốt hương, ban chủ lễ đứng ngay ngắn, chấp tay ngang ngực Chủ Lễ xướng tụng.
Chuông Mõ truyền đi thấu cõi Trời
Truyền rằng Trần Thế tại chúng nơi
Việt Nam tỏ rạng lời Trời dạy
Thiên Ý cam lồ thiện sinh sôi
(gõ chuông đồng bái lạy).
TỊNH PHÁP GIỚI CHƠN NGÔN
Thế giới: tịnh yên nhờ có Đạo
Non sông: có Đạo mới bình yên
Gia đình xã hội chúng dân
Nếu không có Đạo rối ben khốn cùng
Án lam xóa ha (3 lần)
(gõ chuông đồng bái lạy).
TỊNH TAM NGHIỆP CHƠN NGÔN
Thân lành thường giúp thế nhân
Khẩu lành không nói hiểm sâu hại người
Ý lành tận độ muôn loài
Làm cho hết thảy không còn khổ đau
Án ta phạ bà phạ, Truật đà ta phạ
Đạt mạ ta phạ, bà phạ truật độ hám (3 lần)
(gõ chuông đồng bái lạy).
Chủ Lễ bước tới trước một bước. Quỳ ngay thẳng.
Tả Hữu hai bên chấp tay lắng nghe.
Chủ Lễ cầm 3 cây hương dâng ngang trán xướng đọc.
CẦU NGUYỆN:
Tên Là:.....
Hôm nay nhằm Ngày..... Tháng..... Năm..... Tổ dân phố/ Thôn:..... Xã/ Phường:..... Quận/ Huyện:..... Tỉnh/ Thành phố:..... Nước Việt Nam.
Tổ Tiên, Địa Mẫu, Cha Trời chứng tri.
Nam Mô - A Men.
(gõ chuông đồng lễ lạy)
Chủ Lễ cùng Tả Hữu hai bên đồng xướng đọc:
KỆ CÚNG HƯƠNG
Đốt nén tâm hương đến Cha Trời
Linh Căn dâng trọn dưới chân Người
Cầu xin bảo bọc cùng che chở
Họa kiếp tai ương dứt tiêu trừ
Đốt nén tâm hương đến Mẹ Trời
Cầu cho nhân thế sống trên đời
Họa tai tan biến tâm an lạc
Gia Đình Xã Hội sống thảnh thơi
Đốt nén tâm hương dứt lòng tà
Nhớ lời truyền dạy Đức Trời Cha
Sống theo Thiên Ý thông đạt giáo
Trở về Thiên Giới sống âu ca
(gõ chuông đồng bái lạy).
* * *
TÁN DƯƠNG
Cha Trời pháp thuật vô biên
Thần thông quảng đại Tam Thiên cúi chầu
Mẹ Trời pháp thuật cao sâu
Tam Thiên cuộc sống Mẹ hầu chở che
Chúng con thành kính lắng nghe
Cúi xin Cha Mẹ chuyển xoay yên bình
Nam Mô cuộc sống an lành
A Men như ý không còn khổ đau
Chú pháp Cha Mẹ ban cho
Linh thiêng mầu nhiệm họa tai chẳng còn
Chú pháp đem lại cát tường
Thiên La, Địa Pháp hiệp cùng ứng linh
Thiên La Thần, Địa La Thần
Thân ly nạn, Nạn ly thân
Nhất thiết tai ương hóa vi trần
Nam Mô cung thỉnh nguyện cầu
A Men linh ứng nhiệm mầu ứng linh
(gõ chuông đồng bái lạy).
* * *
TÁN DƯƠNG
Lời kinh thấu đến Cha Trời
Đức lành ngào ngạt khắp thời Tam Thiên
Cầu cho nhân loại bình yên
Não phiền dứt sạch keo sơn hiệp hòa
Cội Nguồn truyền thống Ông Cha
Sáng soi nhân đức trổ hoa thái bình
Hiển linh, ứng ứng hiển linh
Lời kinh chuyển hóa muôn nghìn vận may
Nam Mô vô tận hư không
A Men như ý ước mong đạt thành
(gõ chuông đồng bái lạy).
* * *
SÁM GIÁC CA
Một lòng quy kính Tổ Tiên
Cha Trời, Địa Mẫu, Cửu Huyền Long Hoa
Hành thiện điều ác tránh xa
Trăm lành vạn phúc cái vui nào bằng
Hành thiện siêu sanh Thiên Đàng
Cung Trời sống mãi hết còn khổ đau
Cội Nguồn Văn Hóa cao sâu
Thậm thâm vi diệu biết bao cơ mầu
Thiên Luật, Thiên Ý Cha Trời
Chỉ cần làm được một lời cũng linh
Cha Trời hộ độ khai tâm
Phật, Tiên, Thánh, Chúa chẳng tầm đâu xa
Ngộ rồi trí huệ sáng soi
Tử sanh, sanh tử rõ thông an nhàn
Cội Nguồn kinh giáo Đạo Tràng
Như liều Thánh Dược cứu đời khốn nguy
Nghịch Thiên thời được cái chi
Muôn điều tai họa hết mong yên bình
Tai ương khắp chốn khắp cùng
Chỉ vì nghịch lại Ý Trời mà ra
Cầu lên ba đấng Ông Cha
Tối cao vũ trụ khai sinh Đất Trời
Quyền năng vô hạn tột cùng
Khai sinh tất cả vạn loài Tam Thiên
Thuận Trời muôn sự bình yên
Vạn lành muôn phúc việc chi cũng thành
Thuận Thiên tai họa tiêu trừ
Gia đình họ tộc rạng ngời danh thơm
Ông Bà Cha Mẹ siêu thăng
Cũng nhờ công đức Thuận Thiên Cha Trời
Cầu lên ba đấng cao vời
Quyền năng tột đỉnh giúp thời chúng con
Sống thời thường được bình an
Mọi điều suôn sẻ khó khăn cũng lành
Cầu xin Quốc Tổ Vua Hùng
Hiển Linh gia hộ khắp cùng chúng dân
Non sông Tổ Quốc giang sơn
Sanh sôi cuộc sống thênh thang cơ đồ
Khắp nơi phồn thịnh sang giàu
Nơi nào cũng được ngập tràn ấm no
Cầu cho Quốc Thới dân an
Nhà nhà hạnh phúc cháu con thuận hòa
Cầu cho Nam Việt nước nhà
Văn minh cuộc sống rạng ngời anh linh
Theo chân Quốc Tổ Hùng Vương
Nhân quyền dân chủ văn minh tột cùng
Dân giàu nước mạnh anh hùng
Việt Nam con cháu Tiên Rồng muôn năm
Nam Mô vạn sự bình yên
A Men như ý sám nguyền ứng linh
Nam Mô vạn sự đều nên
A Men như ý, ứng linh nhiệm mầu
Nam Mô vạn sự thỉnh cầu
A Men như ý, nguyện cầu ứng linh
Ta bà ha,
Án,
Tất điện đô mạn đà ra.
Bạt đà gia, ta bà ha.
Yết đế yết đế
Ba la tăng yết đế
Ba la tăng yết đế
Bồ đề tát bà ha
(gõ chuông tất cả đồng lễ lạy)
* * *
Chủ lễ xướng đọc
Cội nguồn Đại Đạo rất cao sâu
Tả lễ xướng đọc
Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu
Hữu lễ xướng đọc
Nay con gặp đặng chuyên trì tụng
Cả 3 hợp nhất cùng xướng đọc
Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu.
* * *
Chủ lễ xướng nguyện
Nam Mô A Men
Đương nguyện thế nhân, quy kính Tổ Tiên. Cha Trời Địa Mẫu. thuận theo kinh bảo, Thiên Ý Cha Trời. Thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.
Tả lễ xướng nguyện
Nam Mô A Men
Đương nguyện thế nhân, phát vô thượng tâm, thấu suốt kinh tạng trí huệ như hải.
Hữu lễ xướng nguyện
Nam Mô A Men
Đương nguyện thế nhân, phát vô thượng tâm, thống lý đại chúng không gì chướng ngại.
Cả 3 cùng nguyện
Nguyện cho cuộc sống bình yên
Nguyện cho nhân loại não phiền sạch không
Nguyện cho khắp cả thế nhân
Sớm mau giải thoát siêu sanh Thiên Đàng
Nguyện đem công đức tụng trì
Hướng hồi khắp cả loài người, chúng sanh
Mau thành trí huệ thậm thâm
Chân như Đại Đạo trường sanh an nhàn.
--------------------------------------------------
Bái 4 bái.
Phần khai kinh Cầu An số 3 đến đây là hết. Còn cầu an lớn đại sự. Thời phải tụng Đại Bi cùng Bát Nhã. Cũng như Chọn những phần kinh thích hợp trong Quốc Bảo Khai Kinh cho việc trì tụng tiếp theo. Hoặc chọn phần kinh trong những bộ kinh như sau: Kinh Nhân Luân. Kinh Long Hoa. Kinh Thiên Tạng. Kinh Pháp Tạng. Kinh Mật Tạng. Long Hoa Đại Cương. Long Hoa Thi Tập. Sau thời Hậu Đế, v.v...
--------------------------------------------------
Thắp đèn đốt hương xong.
Khai ba hồi chuông ba tiếng, ba hồi mõ ba tiếng.
Rồi nhập chuông mõ đánh cùng một lúc.
Chủ lễ cũng như Tả Hữu hai bên chủ lễ, đứng ngay ngắn, chấp tay trước ngực.
Chủ lễ bước lên trên một bước, xướng niệm đọc.
TỊNH PHÁP GIỚI CHƠN NGÔN
Thế giới tịnh yên nhờ có Đạo
Non sông có Đạo mới bình yên
Gia đình, xã hội, chúng dân
Nếu không có Đạo rối ben khốn cùng
Án lam xóa ha (3 lần)
(gõ chuông đồng bái lạy).
* * *
TỊNH TAM NGHIỆP CHƠN NGÔN
Thân lành thường giúp thế nhân
Khẩu lành không nói hiểm sâu hại người
Ý lành truyền dạy Đạo Trời
Làm cho cuộc sống không còn khổ đau
Án ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ.
Đạt mạ ta phạ, bà phạ, truật độ hám (3 lần)
(gõ chuông đồng bái lạy).
* * *
Cả ba đồng xướng
Nguyện thắp nén hương lòng
Bay lên khắp tầng Trời
Cúng dường ngôi Tiên Tổ
Cha Trời cùng Địa Mẫu
Quốc Vương Thủy Tổ
Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa
Khắp pháp giới mười phương
Quá khứ hiện tại vị lai
Thiên Đàng Trần Gian Địa Phủ
Ban xuống ân sâu
Cứu khổ hồn linh
Siêu sanh thiên giới
Nam Mô A Men
(gõ chuông đồng bái lạy).
* * *
Chủ lễ quỳ xuống, xướng đọc.
KỲ NGUYỆN:
Nhằm Năm..... Tháng..... Ngày..... Giờ.....
Hiện tại Nước..... Tỉnh/ Thành phố:..... Quận/ Huyện:..... Xã/ phường:..... Thôn/ tổ dân phố:..... Xóm/ Đường:.....
(gõ chuông đồng bái lạy).
* * *
Cả ba chủ lễ
XƯỚNG KỆ TRIỆU HỒN
Thiên Cơ chuyển đến thời đến lúc
Hồn mau mau về đến nghe kinh
Trần Gian bể khổ mông mênh
Mau mau hướng thiện siêu lên cõi Trời
Thiện - Ác đáo đầu chung hữu báo
Nhân nào quả nấy có sai chi
Theo Trời, Trời chuyển, Trời xoay
Tiêu tan tai họa, siêu sanh Thiên Đàng
Phật với Ma, tự mình khai tạo
Nào khó chi, Ác - Thiện rõ thông
Rõ rồi thời phải gieo nhân
Hương Linh thành kính quy y Cội Nguồn
Bể trần khổ khốn, cùng sanh tử
Nào tai ương họa dữ chiến chinh
Mau theo Nguồn Cội Tổ Tiên
Cha Trời, Địa Mẫu anh linh tột cùng
Về Thiên Giới an nhàn vui thú
Cõi Thiên Tiên châu báu giàu sang
Đâu như cõi tạm trần gian
Sanh già bệnh tử, biết bao khốn cùng
Lời Trời dạy phước phần cam lộ
Khi uống vào dứt sạch khổ đau
Mau mau hồn hãy mau mau
Thành tâm lễ lạy quy y Cội Nguồn
Thất Phật diệt tội xong rồi
Hồn Linh siêu thoát về Trời an vui
Ly bà ly bà đế, cầu ha cầu ha đế
Đa ra ni đế, ni ha ra đế, tỳ lê nể đế
Ma ha già đế, chơn lăng càng đế
Ta Bà Ha.
Gõ một tiếng chuông.
* * *
TUYÊN SỚ:
Cúi đầu đảnh lễ đấng Cha Ông
Cầu mong giải thoát cứu Hương Linh
Vô Biên khổ ải không còn nữa
Thiên Đàng sống mãi dứt tử sinh.
ĐỌC SỚ:
PHỤC DĨ:
BÀI SỚ VỊ:
Phụng sự trì chú tụng kinh (thiên cửu...... (tên người mất), húy kỵ) khai kinh chi lễ, báo đáp thù ân kỳ siêu độ sự.
Kim cư gia: Tang Chủ.
Đồng gia môn hiếu quyến. Nam Nữ. Nội, Ngoại. Đại tiểu đẳng. Duy nhật bái can. Mong ơn trên Tổ Tiên, Cha Trời, Địa mẫu tiếp độ.
THỐNG NIỆM:
(Dịch nghĩa: Phụng vị/ báo..... (tên)..... Hương Linh, tuổi, quê quán, chức vụ lúc còn sống)
TRƯỢNG THỪA:
Cội Nguồn Đại Đạo dĩ siêu thăng. Toàn lại kinh văn nhi giải thoát tư lâm.
Khai Kinh chủ lễ, kiền trượng thiền hòa (Đạo Tràng) chi niệm phúng tụng. Đại Thừa Thiên Ý Văn Kinh.
Tôn kính gia trì: Vãng Sanh Tịnh Độ Thần Chú:
Nam mô a di đa bà dạ. Đá tha già đa dạ. Đá địa dạ tha. A di rị đô bà tỳ. A di rị đá. Tất đam bà tỳ. A đi rị Đá, tỳ ca lan đế. A di rị đá. Tỳ ca lan đa. Già di nị. Già già na. Chỉ đa ca lệ. Ta bà ha.
• Nếu không sớ thì đọc:
• Kim tắc (1) cung bạch Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Dung nguyện từ bi phủ thì tiếp độ.
• Phụng vị tên..... Hương Linh. Chi Hương nương theo hào quang Thiên Ý dĩ siêu thăng. Toàn kinh văn nhi giải thoát. Khuông phò tín chủ dĩ bình an. Tỷ hộ toàn gia nhi khương thái. Thiệt lại Tổ Tiên Cha Trời Địa Mẫu ấn chứng minh. Cẩn bạch.
(gõ chuông đồng bái lạy)
* * *
Tam chủ lễ
Đồng xướng kệ
Hương Linh vốn khốn khổ
Do lạc Cội mà ra
Hương linh mãi đọa sa
Là do:
Thân khẩu ý gieo nghiệp dữ
Hương Linh nay lìa bỏ
Hướng thiện mãi làm lành
Hương Linh quy Cội Nguồn
Hương Linh:
Thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa
Nam Mô - A Men.
(gõ chuông đồng bái xá).
Phần khai kinh cầu siêu Thánh Tử đến đây là hết.
Tiếp theo là phần khai kinh tụng kinh trì chú Đức Thầy, Thiện Nam Tín Nữ.
KHAI KINH KỆ
Đức Thầy Xướng đọc
Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu
Trăm nghìn ức kiếp khó tìm cầu
Nay con gặp đặng chuyên trì tụng
Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu
(gõ chuông đồng bái lạy).
* * *
• Tiếp Tiếp: Trì tụng Long Hoa Đại Bi Thần Chú.
(trang số: 254 - 273)
• Tiếp theo: Trì Tụng Kinh Long Hoa.
(trang số: 243 - 253)
(Phần kinh nói về Cha Trời Mẹ Trời sanh ra nhân loại con người. Nằm trong các bộ kinh. Như kinh Long Hoa Thiên Tạng. Kinh Long Hoa Mật Tạng.)
• Tiếp theo: Trì Tụng Long Hoa Bát Nhã.
(trang số: 274 - 281)
• Cuối cùng là tụng: Sám Từ Vân.
SÁM TỪ VÂN
Một lòng khổ nhọc không nài
Cầu về Thiên Giới thoát vòng trầm luân
Cha Trời, Địa Mẫu, Tổ Tiên
Cội Nguồn hết thảy ức muôn vạn loài
Lòng con quy kính Cội Nguồn
Nguyện làm Hiếu Đạo tôn thờ Mẹ Cha
Cầu mong quả Đạo thậm thâm
Cầu mong trí huệ vô biên tận cùng
Con nay chí nguyện lòng thành
Cầu mong Cha Mẹ chứng lòng độ cho
Trở về Thiên Giới an vui
Không còn khổ sở bơ vơ luân hồi
Cha Trời cùng với Mẹ Trời
Thương con thời hãy cứu thời chúng con
Trần gian khổ lắm Mẹ ơi
Biển trần lặng hụp biết bao khổ sầu
Chúng con cầu được về Trời
Thuận theo kinh giáo không còn lầm mê
Thiên Đàng đất báu hào quang
Lầu đài cung điện vàng son ngọc ngà
Sống đời trẻ mãi không già
Không đau không bệnh, không là tử sanh
Nguyện rằng con nguyện theo chân
Cha Trời, Địa Mẫu, Tổ Tiên, Cội Nguồn
Phát tâm thương hết muôn loài
Cầu cho nhân loại đồng là siêu sanh
Trở về Cực Lạc quê Tiên
Xa lìa mộng tưởng đảo điên luân hồi
Nam Mô cứu khổ Cha Trời
A Men Đức Mẹ độ thời chúng con
(gõ chuông đồng bái lạy).
* * *
TAM NGUYỆN:
Nam Mô A Men:
Đương nguyện thế nhân, quy kính Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Thuận theo Kinh Bảo Thiên Ý Cha Trời. Thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.
(gõ chuông bái lạy)
Nam Mô A Men:
Đương nguyện thế nhân, phát vô thượng tâm. Thấu suốt kinh tạng trí huệ như hải.
(gõ chuông bái lạy)
Nam Mô A Men:
Đương nguyện thế nhân, phát vô thượng tâm, thống lý đại chúng không gì chướng ngại.
(gõ chuông bái lạy)
* * *
Chú Nguyện:
Nguyện đem công đức nầy
Hướng về khắp tất cả
Giải thoát muôn sự khổ
Siêu sanh và an vui
Nam Mô A Men
(bái xá)
--------------------------------------------------
Lễ khai kinh số 4 cũng như phần tụng kinh trì chú đến đây là hết.
Nếu muốn tụng thêm thời chọn những phần kinh thích hợp trong Quốc Bảo khai kinh, cho việc trì tụng tiếp theo. Cũng như chọn những phần kinh trong những bộ kinh sau đây cho việc trì tụng tiếp theo: Kinh Nhân Luân. Kinh Long Hoa. Kinh Long Hoa Thiên Tạng. Long Hoa Pháp Tạng. Long Hoa Mật Tạng. Long Hoa Đại Cương. Long Hoa Thi Tập. Sau Thời Hậu Đế, v.v…
--------------------------------------------------
5 - KHAI KINH SỐ 5
NGHI THỨC KHAI KINH NHẬP ĐẠO
Con Cháu, Đệ Tử Thiện Nam Tín Nữ. Khi nghe hồi chuông. Tập trung vào chánh điện.
Hội Đồng Thánh Đức Áo Tràng nghiêm chỉnh. Tất cả chấp tay hướng về Thiên Ấn. Tổ Tiên. Cha Trời, Địa Mẫu.
Lắng tâm nghe một hồi Chiêng Trống. Chuông Kim Cang. Trống Bát Nhã. Chuông Mõ khai lễ.
Rồi tất cả điều quỳ xuống nghe Hội Đồng Thánh Đức dâng lên lời phụng báo lên ba đấng tối cao. Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Đại diện cho Hội Đồng Thánh Đức. Ban Chủ Lễ gồm 3 vị bước lên trên đại chúng, tới trước anh linh Thiên Ấn, anh linh Cha Trời Địa mẫu đọc văn bút phụng báo như sau.
Ban Chủ Lễ 3 vị
Quỳ ngay thẳng
Chánh Chủ Lễ Đọc Văn Sớ
Còn hai bên Tả, Hữu chủ lễ
Tịnh tâm lắng nghe
Chủ Lễ Xướng kệ sớ như sau
Thành tâm cung kính lạy
Dâng lên lời phụng sự
Kính báo Đấng Cha Ông
Nay dân sứ tâu lên
Tổ Tiên, Cha Trời Địa Mẫu
Long Hoa Giáo Chủ
Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương
Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa
Khắp pháp giới hư không
Quá khứ, hiện tại, vị lai
Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ
Chứng tri lễ nhập đạo sanh khai
(đánh tiếng Chiêng, tiếng trống)
Chủ Lễ vẫn quỳ ngay ngắn
Hai bên Tả Hữu chủ lễ Lạy 1 lạy
Chủ Lễ Xướng đọc tiếp
Kỳ Nguyện:
Hôm nay nhằm ngày..... tháng..... năm.....
Tổ dân phố/ Thôn:..... Xã/ phường:..... Quận/ Huyện:..... Tỉnh/ Thành phố:..... Nước Việt Nam.
Tại nơi: Am, Thất, Đình, Đền, Chùa. Cầu thỉnh Hội Đồng Thánh Đức, Tác lễ chứng nhận hội nhập thành viên vào Thiên Ý Đại Đạo.
(đánh tiếng Chiêng, tiếng Trống)
Ba Vị Chủ Lễ phụng báo đứng dậy lui qua một bên
Vị Chủ Lễ khai nhập Đạo
Bước ra trước tượng Cha Mẹ Trời lễ lạy
Tuyên đọc uy danh những vị hội nhập Đại Đạo
Đọc xong
(đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)
Vị Chủ Lễ khai nhập Đạo lui về một bên
Tiếp đến ba vị chủ lễ phụng báo.
Bước ra trước tượng Cha Mẹ Trời. Quỳ xuống.
Chủ Lễ Xướng đọc tiếp
(đánh tiếng Chiêng, tiếng Trống)
ban chủ lễ lui qua một bên.
Tiếp đến là lễ hội nhập Thiên Ý Đại Đạo Hết sức trang nghiêm
Xong đâu vào đấy Tam Chủ Lễ Đồng Xướng đọc kệ rằng:
(Kèm theo nhạc cụ: Kèn, đàn, sáo đệm theo)
Đức Tổ Tiên bao trùm rỗng lặng
Mẹ, Cha Trời vô tận hư không
Quyền năng vô hạn vô biên
Chuyển xoay vũ trụ, ức muôn vạn loài
Trước Cha Trời tâm con chí nguyện
Cúi đầu xin thệ nguyện quy y
Từ đây giới luật tinh nghiêm
Thừa hành di chí Tổ Tiên, Cha Trời
Lòng Trung Hiếu sáng ngời muôn thuở
Luôn hành theo dạy bảo Trời Cha
Làm cho nhân loại âu ca
Chung hòa hạnh phúc siêu lên cõi Trời
Nam Mô Đại Đạo cao vời
A Men như ý đạt thành ước mong
(đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)
Cả ba Chủ Lễ đồng bái lạy
Sau đây là: Hội Viên. Đạo Viên đồng xướng kệ rằng:
Hôm nay ngày nhập Đạo
Ngày trở về Nguồn Cội
Khôi phục lại linh căn
Vào ngôi!
Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa
Bao lầm mê tội lỗi
Gieo ra từ vô thỉ
Lạc loài trong ác đạo
Xoay vần trong ác nghiệp
Ngược lại ý Trời Cha
Mãi luân hồi đọa sa
Tai ương không kể xiết
Trải qua vô số kiếp
Khốn khổ mãi khôn cùng
Trăm ức muôn vạn nghìn
Đọa lạc thảm thảm thê
Nay dứt sạch lầm mê
Trở về nơi bờ giác
Một lòng thành kính quy y
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu
Long Hoa Giáo Chủ
Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương
Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa
Khắp pháp giới mười phương
Chứng tri tấm lòng biết ơn
Hết lòng ra công dạy bảo
Xót thương phù trì che chở
Khai tâm mở trí
Tuệ quang sáng láng
Trí huệ như hải
Chúng con mãi mãi
Nỗ lực làm lành
Nguyện tận độ linh hồn
Chuyển hóa những khổ đau
Chuyển hóa những họa tai
Tiêu tan không còn nữa
Theo di chí!
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu
Sống cuộc sống bình đẳng
Lòng đại nghĩa từ bi
Vì nhân loại anh em
Vì giải thoát khổ đau
Luôn hết lòng tận tuỵ
Nam Mô vô tận Cha Ông
A Men cứu khổ dứt đi đọa đày
(Gõ tiếng chuông tiếng mõ)
Nhạc cụ nổi lên hòa theo Lời xướng tụng sau đây:
Trước Ấn linh, Cha Trời Địa Mẫu
Cúi đầu xin tội lỗi tiêu tan
Linh linh ứng hóa vô biên
Chuyển xoay vận mệnh thoát siêu an nhàn
Nay con đã bước vào Đại Đạo
Thời tâm con thành nguyện nghe theo
Cầu cho ác nghiệp tan tiêu
Mau thành chánh quả vào ngôi Thánh Hiền
Lời Trời dạy không gì hơn được
Cao ngút ngàn vi diệu thậm thâm
Nay con nghe thấy nguyền tu học
Nguyện rõ lời Cha lý đạt thông
Lời trì tụng ứng linh cùng khắp
Thân khiêm cung nguyện thoát tai ương
Ý thuần phục nguyện lòng tỏa sáng
Dẫu cho tạo tội to hơn núi
Cũng nguyện tiêu tan, sạch chẳng còn
Nam Mô quy kính Cội Nguồn
A Men Đại Đạo nguyện thành A Men
(đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)
(đồng bái lạy)
Tiếp theo: Hội Đồng Thánh Đức:
Thuyết giảng về ý nghĩa quy y nhập đạo
Thưa Đạo Hội:
Quy Y nhập Đạo là gì?
Quy: Có nghĩa là trở về nương tựa vào ba ngôi Tối Cao Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu.
Y: Có nghĩa là không thay đổi, trước sao sau vậy. Trọn lòng tôn thờ hiếu kính đối với Tổ Tiên, Cha Trời, Mẹ Trời.
Tổ Tiên là gì? Mà chúng ta thành tâm quy y.
Cha Trời, Địa Mẫu là ai? Mà chúng ta thành kính quy y.
Tóm lại:
Chúng ta trở về với Cội Nguồn là chúng ta muốn gì được nấy, muốn được giàu có như ý, quyền năng như ý, hạnh phúc như ý thời chúng ta phải biết nghe lời Cha Trời dạy bảo, tùy làm theo lời dạy bảo Cha Trời nhiều hay ít mà hưởng phước Trời lớn hay nhỏ. Công lớn thời làm vua Trời. Công nhỏ thời làm dân Trời. Nói chung làm theo lời Trời dạy đều được lợi ích. Nhất là lợi ích siêu sanh về Thiên Giới sanh sống, không còn sa đọa khốn khổ nữa. Tổ Tiên, Cha Trời Địa mẫu là ba ngôi Tối Cao vũ trụ, không ai cao hơn Tổ Tiên, Cha Trời, Mẹ Trời. Ba ngôi vô thượng Tối Cao nầy. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, cũng chỉ là con cái, con cháu của Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu mà thôi. Ba ngôi Tối Cao nầy quyền năng vô hạn quyền phép vô biên. Sanh vũ trụ, tận diệt vũ trụ theo ý muốn của mình. Ba ngôi hóa công của Tạo Hóa. Có đủ quyền năng ban phước cho những ai làm lành hướng thiện không nghịch lại Thiên Ý Cha Trời. Giáng họa cho những ai hành ác đi ngược lại Thiên Ý Cha Trời.
Hội Đồng Thánh Đức thuyết giáo xong, đồng phất nước trong cam lộ về phía đại chúng bắt ấn Tí, bắt ấn Ngọ làm phép.
Nguyện rằng:
Cơ Trời ứng hóa
Thuận theo Thiên Ý
Đương nguyện nhơn sanh trở về Nguồn Cội, thấu suốt Đại Đạo. Phát vô thượng tâm.
Cơ Trời ứng hóa
Thuận theo Thiên Ý
Đương nguyện nhơn sanh, thâm nhập chánh kinh, thấu suốt Thiên Ý cha Trời, hành trì Thiên Luật, trí huệ như hải.
Cơ Trời ứng hóa
Thuận theo Thiên Ý
Đương nguyện nhơn sanh, theo bước Cha ông. Thừa hành di chí, thống lý đại chúng nhất thiết vô ngại.
* * *
Lễ khai kinh nhập Hội, nhập Đạo đến đây là hết. Đại chúng bái lạy ấn xá rồi lui ra. Nếu lễ lớn thời Chiêng, Trống, Nhạc. Khai lễ cũng như Bế Mạc long trọng hơn nữa.
--------------------------------------------------
Những điều cần chú ý:
Quốc Bảo khai kinh là những Văn Kinh cơ bản. Còn muốn thêm hay bớt Văn Kinh. Cho phù hợp hành lễ. NGỘ BIẾN, TÙNG QUYỀN. Thời ban tổ chức khai kinh. Hay người khai kinh, không cần phải khuôn rập theo Văn Kinh. Tuỳ Nghi thêm hoặc bớt Văn Kinh, cho phù hợp nơi hành lễ.
--------------------------------------------------
6 - KHAI KINH SỐ 6
NGHI THỨC PHONG THÁNH
THEO NGHI THỨC VẠN ĐẠI
Nghi Thức: giới thiệu thành phần tham dự
Thành phần cao cấp, cũng như chức sắc cao cấp
Nghi Thức: giới thiệu thành phần tài trợ
Nghi thức đi vào đại lễ:
Chuông kim cang. Trống bát nhã hiệp nhau đánh 3 hồi 3 tiếng.
Chủ lễ văn tế 3 vị, tới trước bàn thờ tam cấp. Tổ Tiên Thiên Ấn. Cha Trời, Mẹ Trời. Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương Uy Nghi Trang Nghiêm. Thắp đèn, đốt hương, đứng ngay ngắn trước bàn thờ.
Chủ lễ bước tới một bước, quỳ xuống xướng đọc văn tế.
Hai bên Tả Hữu chủ lễ phía sau lắng nghe.
VĂN TẾ DÂNG HOA
Chủ lễ xướng đọc
Hai bên Tả Hữu chủ lễ lắng nghe
Tinh Hoa rực thắm sắc hương hoa
Thành tâm dâng hiến Cội! Ông Cha
Thuận Hiếu! Chúng con lòng đóa tưởng
Cha Trời, Địa Mẫu mãi ngợi ca
Khấu bái
(đánh tiếng Chiêng, tiếng Trống)
Hai bên Tả Hữu chủ lễ lạy xuống
* * *
VĂN TẾ TỬU
Chủ lễ xướng đọc
Hai bên Tả Hữu chủ lễ lắng nghe
Tửu Vị ấm nồng tửu vị hương
Thành tâm dâng hiến Đức Tổ Tiên
Cha Trời, Địa Mẫu lòng thương tưởng
Chúng con thành kính nguyện náo nương
Khấu bái
(đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)
Hai bên Tả Hữu chủ lễ lạy xuống
* * *
VĂN TẾ DÂNG TRÀ
Chủ lễ xướng đọc
Hai bên Tả Hữu chủ lễ lắng nghe
Thảo Mộc tinh hoa mỹ vị trà
Thành tâm dâng hiến Cội! Ông Cha
Cầu mong Đại Đạo nguồn Thiên Ý
Thiên Luật bao trùm Đạo Tinh Hoa
Khấu bái
(đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)
Hai bên Tả Hữu chủ lễ lạy xuống
* * *
VĂN TẾ KHAI
CHIÊNG - CHUÔNG
Chủ lễ xướng đọc
Hai bên Tả Hữu chủ lễ lắng nghe
Kim Cang Chuông kệ chuyển âm vang
Truyền tấu càn khôn khắp hư không
Nay ngày Phong Thánh Ngôi Thiên Ý
Thừa hành di chí Đạo khai thông
Khấu bái
(đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)
Hai bên Tả Hữu chủ lễ lạy xuống
* * *
VĂN TẾ KHAI TRỐNG
Chủ lễ xướng đọc
Hai bên Tả Hữu chủ lễ lắng nghe
Phúc Thiên Âm Pháp Trống dậy vang
Ấn truyền Đại Đạo khắp thế gian
Phong Thánh, Thiên Quyền ngôi Thiên Ý
Uy linh tột thế, đại vinh quang
Khấu bái
(đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)
Hai bên Tả Hữu chủ lễ lạy xuống
* * *
VĂN TẾ CHIÊNG - TRỐNG
HỢP NHẤT
Chủ lễ xướng đọc
Hai bên Tả Hữu chủ lễ lắng nghe
Âm Dương Chiêng Trống hiệp ban ra
Truyền tấu Ý Trời, khắp bao la
Vinh quang truyền Ấn ngày phong Thánh
Linh quang chiếu diệu khắp hà sa
Khấu bái
(đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)
Hai bên Tả Hữu chủ lễ lạy xuống
* * *
VĂN TẾ KHAI NHẠC
Chủ lễ xướng đọc
Ngày phong Thánh. Sáo, Kèn, Chiêng, Trống
Đờn hòa theo Truyền Thống Thánh Ca
Chung nhau hiệp lực ban ra
Truyền đi Thánh Lễ đăng quang lẫy lừng
(đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)
Cả 3 chủ lễ đồng lạy xuống
Tất cả lắng nghe: Đàn, kèn, sáo chiêng, trống tấu bài Thánh Lễ. Xong đâu vào đấy, ban Chủ Lễ tiếp tục xướng đọc Văn Tế, Diễn Văn với giọng trầm hùng:
* * *
VĂN TẾ
ĐỌC DIỄN VĂN
Ban chủ lễ quỳ ngay thẳng
Hai bên Tả Hữu chủ lễ chấp tay trước ngực lắng nghe
Chủ lễ xướng đọc văn tế với giọng buồn bi ai
Có đờn bầu cùng các nhạc cụ khác hòa theo
Khổ thay:
Sống ở đời mấy ai là yên ổn
Trần Gian bể khổ!
Chỉ là nơi cõi tạm!
Thế mà hoạn nạn, tai ương, bệnh tật, tử sanh
Một cuộc sống bể dâu!
Lênh đênh ba chìm bảy nổi
Họa vô đơn chí lòng lo mãi
Kiếp con người trần tục
Mấy ai không khổ ải
Nhọc nhằn bươn chải
Nhưng kết quả ra đi, cũng trắng tay
Khéo thương thay
Cuộc sống trần gian
Mãi bám lấy tai ương quanh quẩn
Khổ ơi là khổ
Biết bao thảm cảnh trên đời
Ngậm ngùi rơi lệ kiếp người Trần Gian
(đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)
Chủ lễ xướng đọc tiếp với giọng kể lể
Đờn tranh sáo trúc hòa theo
Một tấm lòng thương
Một cuộc hi sinh
Xả thân vì đời, vì nhân loại anh em
Nào đợi tập rèn, tài trí siêu nhân
Nào đợi giàu sang, tài ba xuất chúng
Chỉ vì người
Một manh áo vải
Lao vào bể khổ cứu vớt nhân loại anh em
Chỉ một nắm rau ranh
Cũng thấy đà ngon miệng
Màng chi cao lương mỹ vị
Khắp Đông - Tây vạn dặm cứu người
Thời vận may
Gặp Cội gặp Nguồn
Rèn chí lớn trong ngôi nhà Đạo Đức
Gươm nghĩa nhân đầy dũng khí tự tin
Kể chi hiểm nguy
Kể chi bản thân
Kể chi nhọc nhằn gian khổ
Kể chi ngăn cản yêu ma
Chí đại hùng thúc dục
Lòng đại bi nhẫn nhục vượt qua
(đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)
Với giọng hào khí cao ngút chủ lễ xướng đọc
Nào sợ chi
Tù ngục đao to búa lớn
Liều mình như chẳng có
Làm cho
Yêu Tinh, Quỷ Dữ kinh hồn bạc vía
Gươm trí huệ
Tuy chưa mài
Nhưng vô cùng sắc bén
Bước dọc ngang theo khí thế Ông Cha
Chữ Đức chuyển xoay
Chữ Tài ẩn nhẫn
Trước mắt là biển khổ
Sau lưng là phiền não, nghiệp dữ hoành hành
Nhưng luôn vững chí
Tận độ dân tình
Chốn trần đời
Bao trùm u minh Địa Ngục
Khắp nhân sanh tuôn lệ vạn nghìn sầu
Nhìn thế sự lạc vào vinh nhục
Mà quên đi Nguồn Cội Ông Cha
Hỡi mấy ai
Ngược dòng trần thế
Nằm sương gối tuyết
Tắm mưa gội gió
Kể gì thân xác
Vì đại nghĩa
Vượt qua nguy khốn cứu dân
Thà thác mà linh hồn hiển Thánh
Còn hơn sống mà chỉ biết cái ta
Chết đi thành Quỷ thành Ma
Luân hồi sanh tử còn chi Linh Hồn
Phải ra sức!
Ngăn đường Địa Phủ
Thiên Đàng mở cửa khai ra
Chí cứu dân, lòng người Trời tỏ
Trên Ân Thiên nâng đỡ hiển vinh
(đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)
Chủ lễ xướng đọc giọng trầm hùng cao vút
Nhạc lễ Kèn, trống, chiêng, đàn, sáo hòa theo
Mừng ngày hôm nay!
Ngày anh linh Phong Thánh
Đại lễ bừng lên
Vũ trụ ngút ngàn tỏa sáng
Nổi lên chiêng trống
Đất Trời dậy sóng chuyển rung
Nhạc lễ hòa theo
Đất Trời anh linh tỏa sáng
Tiếp nối di chí.
Cha Ông năm nghìn năm Văn Hiến
Truyền trao Ấn Bút
Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa đồng vui
Tột thế uy linh.
Nhang đèn khói hương cờ xí
Lời ca tiếng hát, cao ngút trời xanh
Khí thế bừng lên
Truyền thống Cha Ông vang lừng vạn cõi
Anh Linh Quốc Tổ
Sơn hà rực rỡ trổi xuân
Đất Trời chuyển giao
Non sông Rồng Tiên phấp phới
Bừng lên Quốc Giáo
Trổi dậy Hồn Thiêng sông núi
Khí thế oai linh
Hổ dậy, Rồng bay Phụng múa
Nhân loại hướng về một mối
Đạo cao tột thế
Cơ đồ Thánh Đức Ông Cha
Nối chí Hùng Vương
Sừng sững công ơn Quốc Tổ
Nhớ thuở xưa!
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu
Khai sanh tất cả!
Vũ trụ, tam thiên, ba cõi
Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ
Nhật, Nguyệt, Tinh Tú
Thiên Địa Càn Khôn
Muôn loài vạn vật sanh linh
Công lao gian nan vất vả
Để lại cháu con thừa hưởng
(đánh tiếng Chiêng tiếng Trống)
Chủ lễ xướng đọc với giọng khoan thai, ngân nga.
Đẹp thay!
Những ai có tấm lòng nhớ tưởng
Vẻ vang thay! Rực rỡ thay!
Những ai bước vào ngôi Thánh Đức
Tiếp nối mặt trời Thiên Ấn
Mãi sáng bừng 84 triệu năm
Chí công lao một thời khó khăn
Mà trải dài muôn ức vạn nghìn thế hệ
Cội Tiên Rồng trên ngôi cao chín bệ
Năm màu da đồng loại anh em
Xin cúi nguyện!
Tình đồng loại, nghĩa Đồng Bào
Mãi thương yêu đùm bọc chan hòa
Một Cội năm nhành!
Năm màu da luôn đoàn kết keo sơn
Nền Thiên Luật Cha Ông, luôn rộng mở
Dựng cơ đồ theo di chí Quốc Tổ Hùng Vương
Hết dạ vì dân
Tiếp Ấn Trời Cha không gì lay chuyển
Hùng khí Cha Ông vạn tuế muôn năm
Sơn Hà trỗi dậy ứng linh
Non Sông Tổ Quốc chuyển mình cao bay
* * *
TIẾP THEO:
LỄ PHONG ẤN
DO HỘI ĐỒNG THÁNH ĐỨC TRUYỀN TRAO
VÀ LỜI TUYÊN THỆ NHỮNG NGƯỜI ĐƯỢC PHONG ẤN
LỜI THỀ QUYẾT ĐỊNH
NHỮNG VỊ ĐƯỢC PHONG THÁNH
ĐỒNG TỤNG BÀI KỆ TÁN THÁN UY LINH TỔ TIÊN CHA TRỜI MẸ TRỜI
(có nhạc kèm theo)
Đấng Cha Ông Vô Thượng
Ba cõi chẳng ai bằng
Tổ Tiên khắp Trời Người
Nay con nguyện nương về
Dâng lên lời ca ngợi
Ức kiếp không cùng tận
Cội Cha Ông như như rỗng lặng
Cảm ứng linh chẳng thể nghĩ bàn
Pháp Thân vi diệu đạo tràng
Ứng linh, linh ứng khắp cùng ứng linh
Chúng con thệ nguyện quy y
Hành trì Thiên Ý rộng gieo đức lành
Nam Mô vô tận Cội Nguồn
A Men như ý nguyện thành A Men
(đánh hồi Chiêng hồi Trống bế mạc kết thúc)
Các vị Thánh lễ bái rồi lui ra
Lễ phong Ấn, phong Thánh đến đây là hết.
--------------------------------------------------
Những điều cần chú ý:
Quốc Bảo khai kinh là những phần Văn Kinh cơ bản. Còn muốn thêm hay bớt. Cho phù hợp tình thế, NGỘ BIẾN, TÙNG QUYỀN. Thời ban tổ chức khai kinh. Cũng như cá nhân có trách nhiệm đứng ra tổ chức khai kinh. Không cần phải khuôn rập theo Văn Kinh. Mà tùy nghi thêm, hoặc bớt Văn Kinh. Cho phù hợp nơi tổ chức hành lễ. Không làm trở ngại cho việc hành lễ.
--------------------------------------------------
7 - KHAI KINH SỐ 7
ĐỌC TỤNG NHÂN LUÂN
HIẾU NGHĨA
Chuông đánh ba hồi 3 tiếng, thắp đèn đốt hương
Chấp tay ngang ngực niệm
Án Lam xóa ha (3 lần)
Đánh tiếng chuông niệm tiếp
Án Ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ.
Đạt mạ ta phạ, bà phạ truật độ hám (3 lần)
Tiếp theo: Lạy 3 lạy quỳ ngay thẳng cầm ba cây hương ngang trán niệm.
Nguyện đem lòng thành kính
Cầu lên Đức Tổ Tiên
Cha Trời cùng Địa Mẫu
Cứu khổ chúng chúng con
Tai họa biến tiêu tan
Sống bình yên an lạc
CẦU NGUYỆN:
Nay có Con, Cháu, Đệ Tử tên là:..... ở tại Thôn/ Tổ dân phố:..... Xã/ phường:..... Quận/ Huyện:..... Tỉnh/ Thành phố:..... Nước Việt Nam
Tại nơi Cư Gia, Am, Thất, Miếu, Đình, Đền, Chùa. Tụng kinh trì chú. Nhơn Luân Hiếu Nghĩa. Xả bỏ mê đồ. Siêu sanh thiên giới. Gia đình hạnh phúc, gia đạo yên vui. Nguyện Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu ứng linh chứng giám.
Nam Mô - A Men.
(gõ tiếng chuông đồng bái lạy)
(gõ tiếng chuông đồng bái lạy)
(gõ tiếng chuông đồng bái lạy)
* * *
KHAI KINH
Gõ 5 tiếng Chuông xong.
Gõ 4 tiếng Mõ rời từng tiếng một, nghỉ hai nhịp.
Tiếp theo gõ hai tiếng Mõ liền nhau, rồi nghỉ một nhịp gõ tiếng Mõ cuối cùng, tổng cộng là 7 tiếng Mõ.
Sau đó Chuông - Mõ hòa nhau như sau.
Chuông một tiếng, Mõ một tiếng.
Chuông đủ 3 tiếng, thời ngưng chờ Mõ đánh thêm một tiếng nữa, tiếng thứ 4, thứ 5, thứ 6 liền nhau rồi Chuông gõ cùng lúc với tiếng Mõ thứ 7.
Tiếp theo là xướng kệ, tụng kinh.
Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu
Trăm nghìn ức kiếp khó tìm cầu
Nay con gặp đặng chuyên trì tụng
Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu
(gõ tiếng chuông đồng bái lạy)
Tụng kinh công đức thù thắng hạnh
Tiêu tan tai họa chuyển siêu sanh
Phổ nguyện Cha Trời Thiên Ý Luật
Về Trời hưởng phước rạng uy danh
(gõ chuông đồng bái lạy)
Nguyện theo Truyền Thống chí Cha Ông
Phổ hóa Chân Như Cội đại đồng
Tiêu tan nghiệp chướng vô ức kiếp
Diệt trừ phiền não huệ linh thông
(gõ tiếng chuông đồng bái lạy)
Nguyện theo Nguồn Cội Đức Trời Cha
Thành Phật, Thánh, Tiên khắp hà sa
Cứu khổ ban vui cùng nhân loại
Từ Bi mở rộng huệ nở hoa
Cha Trời, Địa Mẫu sáng soi
Chứng tri công đức chúng con hành trì
Lời kinh chuyển khắp, Hữu, Vô vi
Gieo nền Chánh Giáo sanh sôi nẩy mầm
Lời kinh tận độ khắp cùng
Xóa tan khốn khổ trở về Thiên Ban
Nam Mô vô tận hư không
A Men như ý ước mong đạt thành
(gõ tiếng chuông đồng bái lạy)
Phần khai kinh đến đây là hết
Tiếp theo là phần tụng kinh. Chọn lấy những phần kinh trong Kinh Nhân Luân, Hiếu Nghĩa. Trì Tụng.
* * *
Tụng kinh Nhân Luân Hiếu Nghĩa xong
Thời xướng tụng đọc tam nguyện.
Nam Mô A Men:
Đương nguyện Thế Nhân, quy kính Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Thuận Theo Kinh Bảo Thiên Ý Cha Trời. Thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.
(gõ tiếng chuông đồng bái lạy)
Nam Mô A Men:
Đương nguyện Thế Nhân, phát vô thượng tâm thấu suốt kinh tạng trí huệ như hải.
(gõ tiếng chuông đồng bái lạy)
Nam Mô A Men:
Đương nguyện Thế Nhân, phát vô thượng tâm, thống lý đại chúng không gì chướng ngại.
(gõ tiếng chuông đồng bái lạy)
Ban hộ niệm cũng như ban trì tụng đồng xướng kệ tụng đọc rằng.
Nguyện đem công đức nầy
Hồi hướng đến khắp cùng
Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ
Hết khổ sống hạnh phúc an vui
* * *
Phần khai kinh, cũng như tụng kinh Nhân Luân Hiếu Nghĩa đến đây là hết.
--------------------------------------------------
8 - KHAI KINH SỐ 8
NGHI THỨC KHAI KINH CẦU SIÊU
CŨNG NHƯ NGHI THỨC CẦU SIÊU
NGHI THỨC:
Đại chúng tề tựu, ban chủ lễ thắp đèn, đốt hương. Một bên Duyệt chúng (Mõ) một bên duy ma (chuông) ban chủ lễ đứng ngay ngắn chấp tay trước ngực. Nghe chuông đánh ba hồi 3 tiếng.
Chủ Lễ bước tới trước một bước mật niệm.
TỊNH PHÁP GIỚI CHƠN NGÔN
Án lam xóa ha (đọc 3 lần)
Gõ tiếng chuông niệm tiếp
* * *
TỊNH TAM NGHIỆP CHƠN NGÔN
Án ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ
Đạt mạ ta phạ, bà phạ, truật độ hám (3 lần)
Chủ Lễ lạy quỳ ngay thẳng. Cầm 3 cây hương dâng lên ngang trán xướng niệm.
Nguyện đem lòng thành kính
Dâng lên Đấng Tổ Tiên
Đấng Tối Cao thiêng liêng
Cùng Cha Trời, Địa Mẫu
Phật, Thánh, Tiên, cao cả
Khắp pháp giới mười phương
Nguyện Tối Cao ân trên
Cảm ứng linh gia hộ
Cảm ứng linh tận độ
Xa biển khổ nguồn mê
Chóng quay về bờ giác
KỲ NGUYỆN:
Kim (Nay) có đệ tử chúng con tên là:.....
Niên..... nguyệt..... nhật.....
Kim cứ (Tại) Cư Gia, Chùa, Đình, Đền, Thất,
Thôn/ tổ dân phố:..... Phường/ Xã:..... Quận/ Huyện:..... Tỉnh/ Thành phố:..... Nước Việt Nam.
Gia Đường: Kiến đàn cung phụng Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Tu hương phúng kinh..... (phục hồn) Tiên Linh húy kỵ..... cầu siêu độ sự.
Kim (nay) tên gia chủ..... phụng vị.....
Tên hương linh. Dứt sạch nghiệp chướng, tốc xả mê đồ siêu sanh Thiên Giới. Cung kính Cha Trời Mẹ Trời. Duy nguyện phù thùy chứng giám.
TÁN DƯƠNG
Đấng Cha Ông Tối Thượng
Vũ Trụ chẳng ai bằng
Cội Nguồn của muôn loài
Cha Trời luôn truyền dạy
Quy Y về Nguồn Cội
Dứt sạch nghiệp ba kỳ
Siêu sanh trở về Trời
Hưởng phước vô cùng tận.
QUÁN TƯỞNG
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu
Cảm ứng linh không thể nghĩ bàn
Pháp thân vi diệu Đạo Tràng
Linh linh ứng ứng khắp cùng ứng linh
Cội Nguồn cung kính quy y
Về Trời sống mãi không gì vui hơn.
KÍNH LỄ:
Nhất tâm cung kính:
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Tối Cao Tam Bảo. Cội Nguồn tất cả. Khắp pháp giới hư không. Bao trùm Trần Gian, Thiên Đàng Địa Phủ. Quá khứ, hiện tại, vị lai.
(gõ tiếng chuông đồng bái lạy)
Nhất tâm cung kính:
Chí Tôn Thiên Đế. Long Hoa Giáo Chủ. Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới hư không. Quá khứ, hiện tại, vị lai. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ.
(gõ tiếng chuông đồng bái lạy)
Nhất tâm cung kính:
Long Hoa Giáo Chủ, Quốc Vương Thủy Tổ. Pháp thân phân hóa mười phương. Chuyển đại pháp luân. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ. Cứu khổ khắp Ta Bà thế giới sanh linh.
(gõ tiếng chuông đồng bái lạy)
LONG HOA ĐẠI BI ở trang số: 254 - 273
TÁC BẠCH TIÊN SỚ:
Kế thủ ứng linh Đấng Cha Ông
Cảm tương phước đức khấc từ ân
Vô biên khổ ải, vô biên dứt
Ngũ thể đầu thành tịnh lục căn.
PHỤC DĨ:
BÀI VỊ SỚ:
DUY NHẬT BÁI CAN:
THỐNG NIỆM:
(Dịch nghĩa: Phụng vị/ báo..... (tên)..... Hương Linh, tuổi, quê quán, chức vụ lúc còn sống)
TRƯỢNG THỪA:
ĐẢNH LỄ:
Nam Mô A Men
Nam Mô A Men
CUNG PHỤNG:
PHỤC NGUYỆN:
NGƯỠNG LẠI:
Tổ Tiên, Cha Trời Địa Mẫu chứng minh cẩn sớ.
Tuế thứ..... niên..... nguyệt..... nhật.
Con Cháu đệ tử chúng đẳng:
Hòa Nam Thượng Sớ.
Kim tắc (1) Cung Bạch Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu, duy nguyện từ bi phủ thùy tiếp độ:
Phụng vị..... tên hương linh..... chi hương linh. Nguyên thừa ơn trên dĩ siêu thăng, toàn lại kinh văn nhi giải thoát.
Khuông phò Tín Chủ dĩ bình an. Tỷ hộ toàn gia nhi khương thái. Thiệt Lại hồng ân Cha Trời Địa Mẫu chứng minh cẩn bạch.
LINH CHÚ DIỆT TỘI CHƠN NGÔN
Ly bà ly bà đế, cầu ha cầu ha đế
Đa ra ni đế, ni ha ra đế, tỳ lê nể đế
Ma ha già đế, chơn lăng càng đế
Ta Bà Ha.
(3 lần)
CHỦ LỄ XƯỚNG:
Thỉnh linh quy y Cội Nguồn
Thỉnh linh quy y Cội Nguồn
Thỉnh linh quy y Cội Nguồn
Đồng niệm: cho đến khi rước linh ảnh, hoặc bài vị đến trước bàn thờ Cha Trời Mẹ Trời.
Nam Mô A Men. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa linh ứng, ứng linh.
CHỦ LỄ XƯỚNG:
Trở về Cội Nguồn. Thành Tâm kính lễ
Đồng Hòa.
Tam Bái
Hữu chức xướng:
Hồ quỳ:
Hương Linh quy y Cội Nguồn
Hương Linh quy y Cha Trời
Hương Linh quy y Địa Mẫu
Hương Linh quy y Cội Nguồn. Hương Linh không còn sanh tử
Hương Linh quy y Cha Trời. Hương Linh không còn khổ não
Hương Linh quy y Mẹ trời. Hương Linh không còn sa vào ác đạo
Hương Linh trở về Cội Nguồn. Hương Linh thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.
NGUYỆN:
ĐỒNG HÒA:
CHỦ LỄ SÁM THÁN:
Tội từ tâm khởi, đem tâm sám
Tâm giác ngộ rồi, tội liền tiêu
Tội tiêu tâm tịnh, thảy đều không
Thế mới thật là chơn sám hối
Nguyện Hương Linh.
ĐỒNG HÒA
ĐỒNG TÁN:
Thiện Tài đồng tử
Ngũ phận tam tham
Siêu sanh tử độ hương hồn
Tảo vãng về trời
Nhược nhơn, nhược nhơn quy y Nguồn Cội
Bất đọa tam đồ:
Nam Mô - A Men: Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa chứng minh (3 lần)
CHỦ LỄ XƯỚNG:
ĐỒNG HÒA:
TẢ CHỨC XƯỚNG:
KHAI KINH KỆ
Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu
Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu
Nay con gặp đặng chuyên trì tụng
Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu.
ĐỒNG TỤNG:
VÃNG SANH QUYẾT ĐỊNH CHƠN NGÔN
Nam mô a di đa bà dạ. Đá tha già đa dạ. Đá địa dạ tha. A di rị đô bà tỳ. A di rị đá. Tất đam bà tỳ. A đi rị Đá, tỳ ca lan đế. A di rị đá. Tỳ ca lan đa. Già di nị. Già già na. Chỉ đa ca lệ. Ta bà ha.
HỒI HƯỚNG:
Cầu siêu công đức thù thắng hạnh
Vô biên thắng phước giai hồi hướng
Phổ nguyện pháp giới chư chúng sanh
Tốc vãng vô lượng quang siêu độ
Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não
Nguyện đắc trí huệ chơn minh liễu
Nguyện theo Thiên Ý hành Đại Đạo
Nguyện an trụ chân như Nguồn Cội
Nguyện dĩ thử công đức
Phổ cập ư nhất thiết
Ngã đẳng dữ chúng sanh
Giai cộng thành Đại Đạo.
PHỤC NGUYỆN:
Nam Mô A Men:
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu cứu khổ ban xuống ân sâu
TAM TỰ QUY Y:
Tự Quy Y Nguồn Cội: Tổ Tiên, tối cao vô thượng.
Đương nguyện, chúng sanh. Nhân loại anh em thế giải Đại Đạo phát vô Thượng Tâm.
(gõ tiếng chuông đồng lạy 1 lạy)
Tự Quy Y Thiên Ấn, Thiên Bút:
Đương nguyện, chúng sanh. Nhân Loại anh em, thâm nhập kinh tạng trí huệ như hải.
(gõ tiếng chuông đồng lạy 1 lạy)
Tự Quy Y Cha Trời, Địa Mẫu:
Đương nguyện, chúng sanh. Nhân loại anh em thống lý đại chúng, nhất thiết vô ngại.
(gõ tiếng chuông đồng lạy 3 lạy bái 4 bái)
* * *
SỚ LÀM TUẦN
BÀI SỚ VỊ:
Việt Nam Quốc..... Tỉnh/ Thành phố..... Quận/ Huyện..... Xã/ Phường..... Thôn/ tổ dân phố. Cung tự vu..... Tự Phụng Sự tu hương phúng kinh..... chi trai tuần báo đức thù ân kỳ siêu độ sự.
Kim đệ tử chúng con.....
Duy Nhật Bái Can:
Cội Nguồn Tối Cao: Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu phủ thùy tiếp độ.
THỐNG NIỆM:
Phụng vị.....
Trượng Thừa:
Hồng Ân Cha Trời, Địa Mẫu, ban cho các cõi nước Trời. Y diệu pháp cao đăng Thiên Đàng Cực Lạc.
Tư Lâm..... Chi trai tuần. Chánh tri khôn phủ đệ..... Điện..... Minh Vương án tiền trình quá. Do thị túc thanh phạm vũ. Tổ Triễn trai nghi, kiền trượng thiền hòa tuyên dương pháp sự. Phúng tụng Đại Thừa. Pháp bảo tôn kinh. Gia thì vãng sanh tịnh độ thần chú.
ĐẢNH LỄ:
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Tam Thân Bửu Tướng. Vạn Đức Kim Dung, tập thử Thiện Nhơn. Kỳ cầu siêu độ. Kim tắc cẩn cụ, sớ văn hòa nam bái bạch.
Nam Mô A Men:
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu hóa độ Linh Căn cảm ứng chứng minh.
Nam Mô A Men:
Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Cảm ứng chứng minh
DIÊM PHỤNG:
PHỤC NGUYỆN:
Từ Bi bất xả. Tế độ vô biên. Quá giả xá. Tội giả trừ. Tiếp Hương Linh, suyền đăng siêu sanh Thiên Đàng Cực Lạc. Phước tự tăng, lộc tự chí.
Bảo nhi tôn thọ hưởng Nam Sơn.
NGƯỠNG LẠI:
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Chứng minh cẩn sớ
Tuế thứ..... niên..... nguyệt.....
Đệ Tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.
--------------------------------------------------
Những điều cần chú ý:
Quốc Bảo khai kinh, là những phần Văn Kinh cơ bản. Còn muốn thêm hay bớt kinh văn. Cho phù hợp khuôn khổ hành lễ. NGỘ BIẾN, TÙNG QUYỀN. Thời ban tổ chức khai kinh. Cũng như người tổ chức khai kinh, không cần phải khuôn rập theo Văn Kinh. Mà tùy nghi thêm hoặc bớt Văn Kinh. Cho phù hợp nơi hành lễ. Không làm trở ngại cho việc hành lễ.
--------------------------------------------------
9 - KHAI KINH SỐ 9
NGHI THỨC TANG LỄ CƯ GIA
CỬ TÁN:
Tâm nhiên ngũ phận
Phổ biến thập phương
Hương yên đồng tử ngộ chơn thường
Tỷ quán thiệt nan lường
Thoại ái trường quang
Kham hiến pháp trung ương.
CỬ TÁN TIẾP:
Hải chấn triều Âm thuyết phổ môn
Cửu liên hoa lý hiện đồng chơn
Dương chi nhất đích chơn cam lộ
Tán tác sơn hà địa địa xuân.
CHỦ LỄ NÓI PHÁP NGỮ:
Phù thử thủy giả
Bát công đức thủy tự thiên chơn
Tiên tẩy chúng sanh nghiệp cấu trần
Biến nhập tỳ lô hoa tạng giới
Cá trung vô xứ bất siêu luân
Thủy bất tẩy thủy
Diệu cực pháp thân
Trần bất nhiễn trần
Phản tác tự kỷ
Quyên trừ Nội Ngoại
Đản địch đàn tràng
Sái khô mộ chi, tác dương xuân (hay phùng xuân)
Kiết uế ban nhi thành tịnh độ
Sở vị Đạo Nội Ngoại
Trung Gian vô trược uế
Thánh, Phàm, u hiển
Tổng thanh lương
CỬ TÁN:
Bồ Tát liễu đầu cam lộ thủy
Năng linh nhất đích biến thập phương
Tinh chuyên cấu uế tận tiêu trừ
Phổ sái pháp diên (đàn tràng) tất tịnh thanh.
Nam Mô A Men Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu (3 lần)
CHỦ LỄ CỬ:
ĐỒNG TỤNG LONG HOA ĐẠI BI
Ở phần trang số: 254 - 273
Tụng xong Chủ Lễ
CỬU TÁN:
Cha Trời Địa Mẫu: Như tịnh mãn nguyện. Diệt như thiên nhật phóng quang minh.
Viên quang phổ chiếu ư thập phương
Hỷ xả từ bi giai cụ túc
Nam Mô A Men:
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Vô tận hư không cảm ứng linh thiêng khắp cùng vũ trụ.
CHỦ LỄ XƯỚNG:
Kê thủ từ bi đấng Giác Tôn
Cảm đương phước đức khất từ ân
Vô biên khổ ải vô biên chứng
Ngũ thể đầu thành sạch nhục căn
Chí Tôn: Đức tướng nan tận tán dương
Kỳ siêu độ sự.
Kim tắc cần cụ khai khởi sớ chương: Cung bạch Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Duy nguyện từ bi phủ thùy chứng giám.
(đến đây công văn đọc sớ)
CỬ TÁN:
Cha Trời, Địa Mẫu ứng linh thiêng
Cứu độ Hồn Linh khắp mọi miền
Thành tâm cung kính dù một niệm
Siêu sanh thiên giới sống bình yên
Nam Mô A Men:
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. (3 lần).
ĐỒNG TỤNG:
Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu
Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu
Nay con gặp đặng chuyên trì tụng
Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu.
ĐỒNG TỤNG
LONG HOA BÁT NHÃ MẬT ĐA TÂM KINH
Ở phần trang số: 274 - 281
Xong rồi tiếp đến tụng vãng sanh quyết định chơn ngôn
Nam mô a di đa bà dạ. Đá tha dà đa dạ. Đá địa dạ tha. A di lị đô bà tỳ. A di li đá, tất đam bà tỳ. A di li đá, tỳ ca lan đế. A di li đá, tỳ ca lan đa. Dà di nị dà dà na, chỉ đa ca lệ. Ta bà ha (3 lần)
ĐỒNG TỤNG:
Nguyện sanh Thiên Giới sống an vui
Cực Lạc trường sanh không già chết
Trở về Nguồn Cội ngộ tâm giải thoát
Hết khổ hết sầu dứt đọa sa.
ĐỒNG HÒA
Nam Mô A Men:
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu, ứng linh khắp cả pháp giới hư không cứu khổ Hương Linh siêu sanh Thiên Giới.
ĐỒNG XƯỚNG TỤNG:
Cội Cha Ông hư không rỗng lặng
Cảm ứng linh khó đặng nghĩ bàn
Pháp Thân vi diệu Đạo Tràng
Linh linh ứng ứng khắp cùng ứng linh
Chúng con thệ nguyện quy y
Hành trì Thiên Ý rộng gieo đức lành
Nam Mô vô tận Cội Nguồn
A Men như ý nguyện thành A Men
* * *
GHI CHÚ:
Trước khi làm lễ khai kinh. Trên bàn phải có quyển kinh để sẵn. Trong lúc đại chúng tụng tám câu kinh kệ nầy. Vị Chủ Lễ đưa tay trái mở quyển kinh ra thời mới đúng pháp khai kinh.
--------------------------------------------------
BÀI SÁM TÁNG
Đưa Tang. Hay Tụng Kinh siêu độ hồn linh
Cõi hồng trần gởi thân trăm tuổi
Kiếp phù sanh thay đổi vô thường
Có thân nên khổ không ngừng
Sanh già bệnh tử có chừa ai đâu
Bởi phàm thân khó mong tránh khổ
Thân mất rồi chôn bỏ nghĩa trang
Hay là tống táng đồng hoang
Hay là chôn cất xóm làng cách xa
Mau giác ngộ thiện tâm giải thoát
Nương Cội Nguồn chuyển kiếp siêu sanh
Cha Trời, Địa Mẫu anh linh
Thần thông vô hạn vô biên tận cùng
Hồn Linh nhớ niệm Cha Trời
Siêu thăng cực lạc phản hồi Thiên Quê
Xa Cội Nguồn lạc lối lầm mê
Vô Minh xoay chuyển ê hề họa tai
Trần gian cõi tạm xưa nay
Sống thời còn đó trắng tay lìa trần
Khi chết đi sang giàu cũng bỏ
Hồn ra đi muôn thuở trở về
Dù cho giàu đến cỡ nào
Cũng đành bỏ lại rốt cùng như không
Còn thân còn cả giang sang
Mất thân đến cả cháu con cũng lìa
Hồn thức tỉnh mau về Nguồn Cội
Niệm Trời Cha hết tội siêu thăng
Không còn sa đọa chuyển luân
Ra vào ba cõi xuống lên sáu đường
Đời dĩ vãng gương người còn đó
Tranh giành nhau nào có được chi
Làm vua đến lúc ra đi
Cung vàng điện ngọc đem theo được nào
Gieo nghiệp ác Âm Tào tới trước
Cõi Âm Ti muôn kiếp khốn nguy
Hồn linh khốn khổ biết bao
Hành hình đủ thứ đớn đau nghìn trùng
Khi còn sống không tìm về Cội
Thân mất rồi Hồn lạc sông mê
Ác nghiệp xoay chuyển thảm thê
Luân hồi báo quả biết bao thảm sầu
Hồn mau tỉnh quay đầu bờ giác
Nghe kệ kinh giải thoát họa tai
Mau mau tỉnh giấc u mê
Tìm về Nguồn Cội theo chân Cha Trời
Quyền lực mấy kiếp người giả tạm
Sang đến đâu khó trọn mang theo
Rốt rồi tất cả đều không
Chỉ còn nghiệp ác mang theo đọa đày
Trường danh lợi mưu nầy kế nọ
Án công hầu thủ đoạn đua chen
Sang, giàu, nghèo, khổ tài năng
Chung quy rồi cũng một phen tan tành
Kiếp bụi trần trả lại bụi trần
Hồn lìa khỏi xác thảy đều trắng tay
Bao những kẻ lầm mê tàn bạo
Tưởng đâu rằng sự nghiệp muôn năm
Thủy Hoàng thời được cái chi
HítLe đổ nát biết bao nhọc nhằn
Vậy mới biết sang hèn quyền thế
Dại với khôn giàu có vua quan
Cuối cùng một nấm mồ hoang
Cái thân thối rữa đất ăn còn gì
Ôi sách sử còn ghi phản tỉnh
Họ Thạch giàu hơn cả ông vua
Cuối cùng cũng lại trắng tay
Chết đi hóa kiếp sanh ra thằn lằn
Hồn ơi hỡi phản hồi thức tỉnh
Tám trăm năm Bành Tổ sống lâu
Cuối cùng xác cũng già nua
Xác trần bỏ lại ở nơi cõi trần
Biết bao kẻ xanh mày mặt ngọc
Biết bao người vàng bạc ức muôn
Xem đi xét lại chung quy
Cuối cùng rốt lại còn chi sạch sành
Hãy tỉnh giấc quy về Nguồn Cội
Niệm Trời Cha vạn hội siêu thăng
Thiên Đàng cực lạc an ban
Đất đai châu báu hào quang sáng ngời
Mùi tục lỵ vướng vào là khổ
Bả lợi danh cám dỗ khốn nguy
Sống thời thấy chết còn chi
Mấy ai sống mãi uổng công tranh giành
Còn chút trí xét đời nghĩ lại
Chốn trần gian cõi tạm vô thường
Vắng đi hơi thở còn gì
Xác thân bỏ lại Linh Hồn bơ vơ
Hãy thức tỉnh nương nhờ Nguồn Cội
Niệm Cha Trời hồn đặng siêu thăng
Về Trời sống mãi vô biên
Thiên Đàng Cực Lạc bình yên sang giàu
Lời kệ kinh nghe rồi tỉnh giấc
Muôn việc đời rốt hết là không
Chỉ còn tánh đức thiện căn
Mới là đáng quý linh thiêng tột cùng
Xét thân nầy đến hồi tan rã
Thời hết mong khó nổi tu nhơn
Nghiệp trần xoay chuyển hồn linh
Tam đồ sa đọa biết bao khốn cùng
Chờ đến lúc không còn hơi thở
Thời ôi thôi khó thể lo toan
Hồn linh vào cảnh tối tăm
Khó mong thoát khỏi Âm Ti đọa đày
Sống cứ mãi mê lầm trần thế
Mà quên đi cái chết không xa
Trăm năm cũng chẳng đâu là
Cuối cùng nhận lấy nấm mồ nghìn thu
Bóng trăng lu buồn ru ác xế
Tháng ngày qua thăm ghé mộ phần
Cỏ xanh quạnh quẽ vô cùng
Gió, Mưa, Nắng, Tuyết, bão bùng cô đơn
Hồn tỉnh giấc nghe kinh nhẹ gót
Vượt sông mê bờ giác không xa
Kìa là Đức Mẹ Trời Cha
Nương nhờ thần lực vượt qua mê lầm
Nguyện siêu sanh về miền cực lạc
Nguyện xa lìa ác nghiệp trần lao
Thiên Đàng tiên cảnh an vui
Trường xuân tự tại, tiêu dao hưởng nhàn
Nam Mô vô tận Đạo Tràng
A Men giải khổ linh hồn, A Men
--------------------------------------------------
10 - KHAI KINH SỐ 10
NGHI THỨC CẦU AN
LỄ THÀNH HÔN
Những điều cần biết trước:
Trước khi cử hành nghi thức. Cầu an, lễ thành hôn:
Hai Họ. Phải có mặt tại Cư Gia, hay Đền Thờ, Chùa, Thất.
Từ nơi Bệ Thờ Chánh Điện Đại Đạo nhìn ra.
Hai Họ sắp hai hàng:
Nam Giới đứng bên trái.
Nữ giới đứng bên phải.
Cô Dâu, Chú Rể: đứng ở giữa hai họ phía sau ban chủ lễ. Dâu bên phía Nữ. Rể bên phía Nam.
Ban Chủ Lễ: đốt nhang, đèn, xông trầm. Rồi mới thỉnh Đức Thầy. Hay Tôn Sư, ra làm Chủ Lễ Khai Kinh.
Chuông đánh 3 hồi trước. Trống đánh 3 hồi sau.
ĐI VÀO NGHI THỨC HÀNH LỄ
Chuông nhỏ đánh 3 tiếng
Chủ Lễ xướng tụng. Cô Dâu, Chú Rể quỳ xuống lắng nghe lời kinh.
Nhất tâm cung kính:
Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu. Pháp Thân Linh Giác Tối Cao Tam Bảo. Khắp pháp giới mười phương. Bao trùm, Trần Gian, Thiên Đàng, Địa Phủ. Quá khứ, hiện tại, vị lai.
(gõ tiếng chuông cô dâu chú rể lạy xuống)
Nhất tâm cung kính:
Chí Tôn Thiên Đế, Long Hoa Giáo Chủ, Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới hư không, quá khứ, hiện tại, vị lai. Thiên Đàng, Trần Gia, Địa Phủ.
(gõ tiếng chuông cô dâu chú rể lạy xuống)
Nhất tâm cung kính:
Long Hoa Giáo Chủ, Quốc Vương Thủy Tổ. Phân Hóa Mười phương. Chuyển đại pháp luân. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ. Cứu khổ sanh linh khắp Ta Bà thế giới.
(gõ tiếng chuông cô dâu chú rể lạy xuống)
Chủ Lễ xướng tụng: cùng ban chủ lễ xướng tụng theo
Nguyện cho đôi phu thê
Luôn bình an vạn sự
Chung một lòng thệ nguyện
Tỏa ngát hương thủy chung
Sống an vui trăm tuổi
Gắn bó mãi yêu thương
Sống hòa thuận yên vui
Nhọc nhằn luôn có nhau
Như dạ xốn lòng đau
Như cờ bay trong gió
Mãi như chim liền cánh
Mãi như cây liền cành
Dù cho biển cạn
Dù cho non mòn
Lòng vẫn ngập tràn
Chung thủy cùng nhau
Dù cho nhan sắc tàn phai
Cũng không thay đổi tình yêu vợ chồng
Nam Mô Tiên Tổ, Cha Trời.
A Men Địa Mẫu chứng thời chứng tri
(gõ tiếng chuông cô dâu chú rể đồng bái lạy)
PHỤNG BẠCH:
Hôm nay Ngày..... Tháng..... Năm.....
Nước Việt Nam.
Tại nơi: Cư Gia. Đền Thờ. Có cô Dâu, chú Rể.
Thiện Nam Chú Rể tên là..... pháp danh nếu có.....
Tín Nữ Cô Dâu tên là..... pháp danh nếu có.....
(gõ tiếng chuông cô dâu chú rể đồng bái lạy)
Cô dâu chú rể
Hướng về bệ thờ Cha Mẹ Trời
Đồng xướng nguyện rằng:
Đã yêu, yêu đến bạc đầu
Không vì hờn giận chia lìa lẫn nhau
Hiếu nghĩa đối với hai bên
Cũng đều cho trọn mười phân vẹn mười
Tơ duyên là Đạo của Trời
Thương yêu là Đạo của người mình yêu
Chúng con thề nguyện thỉ chung
Trăm năm tơ tóc keo sơn một lòng
Nam Mô vô tận Cội Nguồn
A Men như ý nguyện thành A Men
Cô Dâu, Chú Rể ngâm kệ thệ nguyện xong
Đức Thầy, hay Tôn Sư: bưng chén nước trên bệ thờ xuống.
Dùng một bông hoa. Nhúng vào chén nước Thánh Thủy rồi điểm nhẹ lên trên đỉnh đầu của hai người.
Niệm Chú:
Đát chỉ đá. Ám dà la phạ đá, dà la phạ đá, la dà phạ đá, la dà phạ đá sa ha. Thiên La Thần, Địa La Thần. Nhân ly nạn, nạn ly thân. Nhất thiết tai ương hóa vi trần.
Hạnh phúc đâm chồi tai họa tiêu tan.
Tiếp theo là phần hai bên trao nhẫn cho con.
Chủ Lễ: xướng đọc kệ rằng
Gói gắm trao con chiếc nhẫn nhà
Rằng đây quà tặng của Mẹ Cha
Báu vật nói lên trong dụng ý
Thương nhau nhường nhịn phước nở hoa
Đạo Nhẫn nhu hòa vật điểm trang
Với ba chữ nhẫn quý hơn vàng
Hạnh phúc bình yên nhờ đức nhẫn
Nhẫn là nhường nhịn nghĩa tào khang
Nhẫn nhịn vì nhau chẳng phải hèn
Gặp phải sự đời lúc khó khăn
Nhớ lấy công phu thường nhịn nhẫn
Vượt qua dông bão đến đất bằng
Tam nhẫn hành trang nhớ công phu
Vợ Chồng nhẫn nhịn rạng đường tu
Thuận hòa hạnh phúc nhờ nhịn nhẫn
Nhẫn nhịn tai qua, võng lọng dù.
Chủ Lễ tuyên bố. Lễ cầu an thành hôn đến đây là kết thúc. Chúc hai Họ vạn sự như ý.
(đánh hồi chuông, hồi trống kết thúc)
* * *
--------------------------------------------------
CHƯƠNG III
VĂN KHẤN Ở BÀN THỜ TẠI GIA
NAM MÔ KHAI HÓA TỐI THƯỢNG TỔ TIÊN VÔ BIÊN NHƯ LAI (lạy).
NAM MÔ LONG HOA CỬU HUYỀN THIÊN PHỤ ẤN QUANG TỐI THẮNG NHƯ LAI (lạy).
NAM MÔ TIÊN CƠ ĐỨC MẸ ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH NHƯ LAI (lạy).
NAM MÔ A MEN
NAM MÔ ĐỨC HƯ KHÔNG TẠNG DIỆU KHÔNG VÔ BIÊN NHƯ LAI (lạy).
CON THÀNH TÂM KÍNH LẠY 100 ÔNG BÀ TIÊN TỔ, CHƯ HƯƠNG LINH GIA TIÊN TIỀN TỔ NỘI NGOẠI. (lạy)
CON THÀNH TÂM KÍNH BÁI PHẬT THÁNH TIÊN THẦN CHÚA KHẮP PHÁP GIỚI MƯỜI PHƯƠNG (bái).
KINH CHÚ
Nam Mô Khai Hóa Tổ Tiên
Hiện Thân Hai Đấng Cửu Huyền Tối Cao
Sanh Ra Nhân Loại Con Người
Ông Bà, Cha Mẹ, Đến Thời Chúng Con
A MEN
* * *
KINH CẦU NGUYỆN
Dâng hương lễ lạy Cửu Huyền
Hiển linh gia hộ khắp miền cháu con
Huệ khai phước lộc đầy tràn
Gia đình hòa thuận, cháu con sum vầy
* * *
CHÚ NGUYỆN
Nguyện cho tất cả thế nhân
Sớm lên tiên giới, sớm gần Mẹ Cha
Sớm gần cội gốc Long Hoa
Về nơi giải thoát vào nhà rồng tiên
* * *
NAM MÔ A MEN (lạy 4 lạy, bái 4 bái)
* * *
(gõ 1 tiếng chuông để mở đầu Nghi Lễ)
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
NAM MÔ KHAI HÓA TỐI THƯỢNG TỔ TIÊN VÔ BIÊN NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
NAM MÔ LONG HOA CỬU HUYỀN THIÊN PHỤ ẤN QUANG TỐI THẮNG NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
NAM MÔ TIÊN CƠ ĐỨC MẸ ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
NAM MÔ ĐỨC HƯ KHÔNG TẠNG DIỆU KHÔNG VÔ BIÊN NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).
CON THÀNH TÂM KÍNH LẠY 100 ÔNG BÀ TIÊN TỔ, CHƯ HƯƠNG LINH GIA TIÊN TIỀN TỔ NỘI NGOẠI. (lạy)
CON THÀNH TÂM KÍNH BÁI PHẬT THÁNH TIÊN THẦN CHÚA KHẮP PHÁP GIỚI MƯỜI PHƯƠNG (bái).
Gia đình chúng con ở tại địa chỉ:
Xóm/ Đường:..... Thôn/ Tổ dân phố:..... Xã/ Phường:..... Quận/ Huyện:..... Tỉnh/ Thành phố:..... Nước Việt Nam.
+ Khai Hóa Tổ Tiên.
+ Cha Trời Lạc Long Quân.
+ Địa Mẫu Âu Cơ
+ Long Hoa Giáo Tổ, Di Lặc, Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương, 100 Ông Bà Tiên Tổ.
Chứng giám: (cho việc gì thì khấn việc đó).....
* * *
NAM MÔ A MEN (lạy 4 lạy, bái 4 bái)
* * *
NAM MÔ KHAI HÓA TỐI THƯỢNG TỔ TIÊN VÔ BIÊN NHƯ LAI (lạy).
NAM MÔ LONG HOA CỬU HUYỀN THIÊN PHỤ ẤN QUANG TỐI THẮNG NHƯ LAI (lạy).
NAM MÔ TIÊN CƠ ĐỨC MẸ ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH NHƯ LAI (lạy).
NAM MÔ A MEN
NAM MÔ ĐỨC HƯ KHÔNG TẠNG DIỆU KHÔNG VÔ BIÊN NHƯ LAI (lạy).
CON THÀNH TÂM KÍNH LẠY 100 ÔNG BÀ TIÊN TỔ, CHƯ HƯƠNG LINH GIA TIÊN TIỀN TỔ NỘI NGOẠI (lạy).
CON THÀNH TÂM KÍNH BÁI PHẬT THÁNH TIÊN THẦN CHÚA KHẮP PHÁP GIỚI MƯỜI PHƯƠNG (bái).
Gia đình chúng con gồm có các thành viên:.....
Ở tại địa chỉ:
Xóm/ Đường:..... Thôn/ Tổ dân phố:..... Xã/ Phường:..... Quận/ Huyện:..... Tỉnh/ Thành phố:..... Nước Việt Nam.
Ngưỡng mong ơn trên.
+ Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu.
+ Long Hoa Giáo Chủ, Di Lặc, Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương, 100 Ông Bà Tiên Tổ.
+ Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới mười phương. Ba thời, quá khứ, hiện tại, vị lai. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ.
* * *
NAM MÔ A MEN (lạy 4 lạy, bái 4 bái)
* * *
LƯU Ý:
- KHI ĐỌC VĂN KINH ĐỂ CÚNG, QUÝ VỊ NÊN ĐỌC GIỌNG VỪA ĐỦ TO ĐỂ NHỮNG LINH HỒN ÂM CẢNH CŨNG ĐƯỢC KHAI TÂM, KHAI TRÍ, LÀM LỢI LẠC CHO CẢ NGƯỜI ÂM LẪN NGƯỜI DƯƠNG.
* * *
(B) MỘT SỐ BÀI VĂN KHẤN VÀO CÁC NGÀY LỄ TẾT TRONG NĂM
1 - VĂN KHẤN MÙNG 1 TẾT NGUYÊN ĐÁN
a) Ý NGHĨA CỦA VIỆC LÀM LỄ BUỔI SÁNG GIỜ THÌN NGÀY TẾT
b) VĂN KHẤN
(gõ 1 tiếng chuông để mở đầu Nghi Lễ)
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
NAM MÔ KHAI HÓA TỐI THƯỢNG TỔ TIÊN VÔ BIÊN NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
NAM MÔ LONG HOA CỬU HUYỀN THIÊN PHỤ ẤN QUANG TỐI THẮNG NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
NAM MÔ TIÊN CƠ ĐỨC MẸ ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
NAM MÔ ĐỨC HƯ KHÔNG TẠNG DIỆU KHÔNG VÔ BIÊN NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).
CON THÀNH TÂM KÍNH LẠY 100 ÔNG BÀ TIÊN TỔ, CHƯ HƯƠNG LINH GIA TIÊN TIỀN TỔ NỘI NGOẠI. (lạy)
CON THÀNH TÂM KÍNH BÁI PHẬT THÁNH TIÊN THẦN CHÚA KHẮP PHÁP GIỚI MƯỜI PHƯƠNG (bái).
Ở tại địa chỉ.....
Xóm/ Đường:..... Thôn/ Tổ dân phố:..... Xã/ Phường:..... Quận/ Huyện:..... Tỉnh/ Thành phố:..... Nước Việt Nam.
Dốc lòng thành khẩn, thành kính, thành tâm dâng lên: nhang, đèn, hương, hoa, nước, trà, quả, bánh, cơm canh… thanh tịnh cúng dường.
+ Khai Hóa Tổ Tiên
+ Cha Trời Lạc Long Quân.
+ Địa Mẫu Âu Cơ
+ Long Hoa Giáo Tổ, Di Lặc, Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương, 100 Ông Bà Tiên Tổ.
Sau là tưởng nhớ tới công ơn của chư hương linh gia tiên tiền tổ nội ngoại.
NAM MÔ A MEN
(Ngày mùng 1 Tết, Quý vị nên sử dụng Thiên Ấn trang sức để cầu nguyện cho đất nước Việt Nam, vừa làm lợi ích cho bản thân vừa làm lợi ích cho gia đình và xã hội).
* * *
VIỆT NAM
Việt Nam tỏ rạng ánh hồng tươi
Văn hóa mùa xuân khúc nhạc cười
Tiếng nhạc bổng trầm khai ý rạng
Non sông khởi sắc trổ xuân tươi
Dân giàu nước mạnh phun châu ngọc
Rồng Tiên hội tụ trải đức phơi
Độc Lập Tự Do niềm cường thịnh
Địa linh vũ trụ trổ Ông, Tôi.
* * *
TRỜI LÊN
Trời lên lộ bóng quang đầy
Nước non Quốc Đạo chuyển xoay vạn loài
Việt nam văn hóa đài cao rộng
Hiếu trung bay đến tận Trời Cha
Việt Nam kết trái đơm hoa
Muôn dân ngộ đức bài ca thanh bình
Khai Nguồn Cội dân tình no ấm
Đường lên mây tỏa sáng Văn Lang
Vua Hùng mở lối quy nguyên
Năm châu, bốn biển bình yên một nhà.
* * *
KINH CHÚ
Nam Mô Khai Hóa Tổ Tiên
Hiện Thân Hai Đấng Cửu Huyền Tối Cao
Sanh Ra Nhân Loại Con Người
Ông Bà, Cha Mẹ, Đến Thời Chúng Con
A MEN
* * *
KINH CẦU NGUYỆN
Dâng hương lễ lạy Cửu Huyền
Hiển linh gia hộ khắp miền cháu con
Huệ khai phước lộc đầy tràn
Gia đình hòa thuận, cháu con sum vầy
* * *
CHÚ NGUYỆN
Nguyện cho tất cả thế nhân
Sớm lên tiên giới sớm gần Mẹ Cha
Sớm gần cội gốc Long Hoa
Về nơi giải thoát vào nhà rồng tiên
* * *
NAM MÔ A MEN (lạy 4 lạy, bái 4 bái)
* * *
KHAI KINH KỆ
Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu
Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu
Nay con gặp đặng chuyên trì tụng
Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu.
* * *
TỤNG ĐỌC LONG HOA VÔ NGẠI ĐẠI BI THẦN CHÚ
(trang số: 254 - 273)
* * *
KINH CỬU HUYỀN THẤT TỔ
Nơi vũ trụ Tổ Tiên khai hóa
Đấng tối cao hiện tướng Long Hoa
Độc tôn tối thượng Như Lai
Vận hành khai hóa đất trời càn khôn
Đấng tối cao khai ra bảy giáo
Khai lập ra tam giới hư không
Lập thành vũ trụ tam thiên
Trần gian, địa phủ, lập lên cõi trời
Nào nhật, nguyệt, thiên hà tinh tú
Nào Tu Di, bảy núi báu châu
Thiết Vi rộng lớn dường bao
Tam luân bao bọc khắp nào hạ thiên
Đấng Cửu Huyền cha chung tất cả
Đấng tối cao vận chuyển huyền cơ
Đi vào sanh diệt, diệt sanh
Tuần hoàn tiến hóa ứng theo luật trời
Đấng cửu huyền, công bằng tạo hóa
Đấng sanh thành nòi giống Rồng Tiên
Khắp cùng nhân loại anh em
Đồng chung một bọc, cùng tên Đồng Bào
Đấng thiêng liêng khắp cùng tạo hóa
Thường hiển linh cứu vớt cháu con
Hóa thân vô số vô biên
Huyền thông ẩn hiện, Phật, Tiên, Thánh, Thần
Tùy phương tiện giảng truyền chánh giáo
Đạo nhơn luân dìu dắt nhơn sanh
Trở về nguồn cội Cha Ông
Thoát vòng sanh tử Đại Đồng tự do
Đấng Cửu Huyền Trời Cha cao cả
Thân đại đồng một thể khắp cùng
Không sanh không diệt ung dung
Không cấu không nhiễm vô cùng oai linh
Thân Trời Cha hư không vô tận
Thể vô vi trong sạch không không
Chân tâm chân tánh chân như
Bao trùm hết thảy không gian đất trời
Nền thất giáo vốn là Nhơn Giáo
Cũng từ đây chuyển hóa lập nên
Nhơn luân Đại Đạo vô biên
Con đường giải thoát truy nguyên Cội Nguồn
Cũng là cửa cuối cùng an nghỉ
Khi bước vào cởi bỏ hết ra
Thân tâm rỗng lặng tự nhiên
Hòa cùng vũ trụ bản nguyên Đại Đồng
Nền nhơn giáo Cội Nguồn thất giáo
Đấng cửu huyền truyền bá xa xưa
Lưu truyền cho đến ngày nay
Phật, Tiên, Thánh, Chúa có ra từ người
Đức Long Hoa Cửu Huyền Tiên Tổ
Đấng oai linh vận chuyển hư không
Vận hành xoay chuyển tam thiên
Đi vào ổn định hiệp theo luật trời
Cũng vì cứu con người thoát hiểm
Đạo chơn truyền phát triển nhơn luân
Mặt trời văn hóa tối cao
Đại đồng chũ nghĩa ra vào tự do
Đức Cha Trời Long Hoa Tiên Tổ
Từ vô vi vận chuyển hữu vi
Dưỡng nuôi sự sống khắp nơi
Côn trùng, thảo, mộc, đất trời sanh linh
Đức Cửu Huyền Cha chung hết thảy
Quyền tối cao cai quản hồn linh
Quỷ, Thần, Chúa, Phật, Thánh, Tiên
Đều là con cái Cửu Huyền xưa nay
Đức Cửu Huyền pháp thân trong sạch
Thể vô vi cùng tận hư không
Tạo ra cam lộ thiên tiên
Dưỡng nuôi hết thảy hồn linh vạn loài
Đức Cửu Huyền Cha Trời vũ trụ
Đấng tối cao bất diệt thường còn
Hòa trong tâm thức cháu con
Hộ trì huệ mạng bảo tồn linh căn
Dùng quyền phép khai thông chơn lý
Đạo và Đời một gốc tồn sanh
Đại Đồng cuộc sống tự nhiên
Ngôi nhà vũ trụ vô biên tột cùng
Đức Trời Cha Cửu Huyền Tiên Tổ
Dụng pháp thân trì giữ âm dương
Để cho vạn vật khởi sanh
Khắp đầy lúc nhúc của muôn vạn loài
Vận thần lực duy trì vũ trụ
Tạo điện năng hội tụ chuyển luân
Làm cho nhật nguyệt sáng soi
Tuần hoàn động chuyển lập lên ngày giờ
Rồi từ đó bốn mùa hiện rõ
Tháng cùng năm theo đó hình thành
Quá khứ hiện tại lai sanh
Tuần hoàn tiến hóa hình thành hợp tan
Máy tạo hóa siêu nhiên tột bực
Đủ thành phần tổng hợp diệu kỳ
Cha Trời điều khiển chủ trì
Đi vào Thiên Luật hiệp thời Ý Thiên
Nền chánh giáo lưu truyền xuống thế
Để cho người giải thoát hồn linh
Lìa xa tội lỗi ác gian
Siêu sanh thiên giới, thiên đàng tự do
Nhân đã tốt hết lo họa tới
Đạo đã gần thất giáo tự thông
Trở về Nguồn Cội Cha Ông
Lên ngôi Chánh Giác thoát vòng trầm luân
Nam Mô A Men
* * *
TỤNG ĐỌC LONG HOA BÁT NHÃ TÂM KINH.
(trang số: 274 - 281)
--------------------------------------------------
2 - VĂN KHẤN MÙNG 2 TẾT NGUYÊN ĐÁN
(gõ 1 tiếng chuông để mở đầu Nghi Lễ)
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
NAM MÔ KHAI HÓA TỐI THƯỢNG TỔ TIÊN VÔ BIÊN NHƯ LAI. A MEN (gõ chuông - lạy).
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
NAM MÔ LONG HOA CỬU HUYỀN THIÊN PHỤ ẤN QUANG TỐI THẮNG NHƯ LAI. A MEN (gõ chuông - lạy).
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
NAM MÔ TIÊN CƠ ĐỨC MẸ ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH NHƯ LAI. A MEN (gõ chuông - lạy).
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
NAM MÔ ĐỨC HƯ KHÔNG TẠNG DIỆU KHÔNG VÔ BIÊN NHƯ LAI. A MEN (gõ chuông - lạy).
CON THÀNH TÂM KÍNH LẠY 100 ÔNG BÀ TIÊN TỔ, CHƯ HƯƠNG LINH GIA TIÊN TIỀN TỔ NỘI NGOẠI. (lạy)
CON THÀNH TÂM KÍNH BÁI PHẬT THÁNH TIÊN THẦN CHÚA KHẮP PHÁP GIỚI MƯỜI PHƯƠNG (bái).
Gia đình chúng con gồm có các thành viên:.....
Ở tại địa chỉ:
Xóm/ Đường:..... Thôn/ Tổ dân phố:..... Xã/ Phường:..... Quận/ Huyện:..... Tỉnh/ Thành phố:..... Nước Việt Nam.
Dốc lòng thành khẩn, thành kính, thành tâm dâng lên: nhang, đèn, hương, hoa, nước, trà, quả, bánh, cơm canh… thanh tịnh cúng dường.
+ Khai Hóa Tổ Tiên
+ Cha Trời Lạc Long Quân.
+ Địa Mẫu Âu Cơ
+ Long Hoa Giáo Tổ, Di Lặc, Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương, 100 Ông Bà Tiên Tổ.
Sau là tưởng nhớ tới công ơn của chư hương linh gia tiên tiền tổ nội ngoại.
NAM MÔ A MEN
* * *
VIỆT NAM
Việt Nam tỏ rạng ánh hồng tươi
Văn hóa mùa xuân khúc nhạc cười
Tiếng nhạc bổng trầm khai ý rạng
Non sông khởi sắc trổ xuân tươi
Dân giàu nước mạnh phun châu ngọc
Rồng Tiên hội tụ trải đức phơi
Độc Lập Tự Do niềm cường thịnh
Địa linh vũ trụ trổ Ông, Tôi.
* * *
TRỜI LÊN
Trời lên lộ bóng quang đầy
Nước non Quốc Đạo chuyển xoay vạn loài
Việt nam văn hóa đài cao rộng
Hiếu trung bay đến tận Trời Cha
Việt Nam kết trái đơm hoa
Muôn dân ngộ đức bài ca thanh bình
Khai Nguồn Cội dân tình no ấm
Đường lên mây tỏa sáng Văn Lang
Vua Hùng mở lối quy nguyên
Năm châu, bốn biển bình yên một nhà.
* * *
KINH CHÚ
Nam Mô Khai Hóa Tổ Tiên
Hiện Thân Hai Đấng Cửu Huyền Tối Cao
Sanh Ra Nhân Loại Con Người
Ông Bà, Cha Mẹ, Đến Thời Chúng Con
A MEN
* * *
KINH CẦU NGUYỆN
Dâng hương lễ lạy Cửu Huyền
Hiển linh gia hộ khắp miền cháu con
Huệ khai phước lộc đầy tràn
Gia đình hòa thuận, cháu con sum vầy
* * *
CHÚ NGUYỆN
Nguyện cho tất cả thế nhân
Sớm lên tiên giới sớm gần Mẹ Cha
Sớm gần cội gốc Long Hoa
Về nơi giải thoát vào nhà rồng tiên
* * *
NAM MÔ A MEN (lạy 4 lạy, bái 4 bái)
* * *
KHAI KINH KỆ
Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu
Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu
Nay con gặp đặng chuyên trì tụng
Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu.
* * *
TỤNG ĐỌC LONG HOA VÔ NGẠI ĐẠI BI THẦN CHÚ
(trang số: 254 - 273)
* * *
Mùng 2 Tết Mẹ.
Mẹ là Mẹ Mẫu Âu Cơ
Chở che nuôi dưỡng càn khôn vô cùng
Tình mẹ sưởi ấm Tiên Rồng
Chánh thân Địa Mẫu - Mẹ Trời Âu Cơ
À ơi con cháu Rồng Tiên
Âu Cơ một bọc Đồng Bào anh em
Âu Cơ lòng Mẹ rộng dung
Tấm lòng Địa Mẫu biết bao nhân từ
Người Mẹ Vũ Trụ con người
Người Mẹ nhân loại khắp thời nhân sinh
Mẹ Âu Cơ, Mẹ Âu Cơ
Sao Trời không đủ, kể ơn sanh thành
Loài người mãi mãi vang danh
Con Trời Địa Mẫu, giống nòi Rồng Tiên
Mẹ là tất cả trên đời
Là nguồn sức sống khắp thời nhân sinh
Mẹ thương con cháu Rồng Tiên
Suối ngàn chảy mãi, liên miên chẳng dừng
Mẹ là Đức Mẹ đại từ
Yêu thương hết thảy Đồng Bào cháu con
Yêu thương nhân loại thế gian
Năm màu da cùng cội, ngũ chi một nhà
Mẹ Âu Cơ, tình thương rộng lớn
Khắp nhân loài, cùng khắp thế gian
Lòng Địa Mẫu, Âu Cơ chăm sóc
Khắp linh hồn, vạn ức linh căn
Mẹ Âu Cơ, Mẹ Trời trên hết
Đức Mẹ Trời, người Mẹ nào hơn
Nay chúng con, nương về Cội Gốc
Địa Mẫu Mẹ Trời, Địa Mẫu Âu Cơ
Mẹ chư Thiên, cũng là Mẹ nhân thế
Người Mẹ tối cao, cứu vớt chúng con
Nam Mô A Men
* * *
TỤNG ĐỌC LONG HOA BÁT NHÃ TÂM KINH.
(trang số: 274 - 281)
--------------------------------------------------
3 - VĂN KHẤN MÙNG 3 TẾT NGUYÊN ĐÁN
(gõ 1 tiếng chuông để mở đầu Nghi Lễ)
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
NAM MÔ KHAI HÓA TỐI THƯỢNG TỔ TIÊN VÔ BIÊN NHƯ LAI. A MEN (gõ chuông - lạy).
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
NAM MÔ LONG HOA CỬU HUYỀN THIÊN PHỤ ẤN QUANG TỐI THẮNG NHƯ LAI. A MEN (gõ chuông - lạy).
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
NAM MÔ TIÊN CƠ ĐỨC MẸ ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH NHƯ LAI. A MEN (gõ chuông - lạy).
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
NAM MÔ ĐỨC HƯ KHÔNG TẠNG DIỆU KHÔNG VÔ BIÊN NHƯ LAI. A MEN (gõ chuông - lạy).
CON THÀNH TÂM KÍNH LẠY 100 ÔNG BÀ TIÊN TỔ, CHƯ HƯƠNG LINH GIA TIÊN TIỀN TỔ NỘI NGOẠI. (lạy)
CON THÀNH TÂM KÍNH BÁI PHẬT THÁNH TIÊN THẦN CHÚA KHẮP PHÁP GIỚI MƯỜI PHƯƠNG (bái).
Gia đình chúng con gồm có các thành viên:.....
Ở tại địa chỉ:
Xóm/ Đường:..... Thôn/ Tổ dân phố:..... Xã/ Phường:..... Quận/ Huyện:..... Tỉnh/ Thành phố:..... Nước Việt Nam.
- Dốc lòng thành khẩn, thành kính, thành tâm dâng lên: nhang, đèn, hương, hoa, nước, trà, quả, bánh, cơm canh… thanh tịnh cúng dường.
Trước là phụng báo:
+ Khai Hóa Tổ Tiên
+ Cha Trời Lạc Long Quân.
+ Địa Mẫu Âu Cơ
+ Long Hoa Giáo Tổ, Di Lặc, Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương, 100 Ông Bà Tiên Tổ.
Sau là tưởng nhớ tới công ơn của chư hương linh gia tiên tiền tổ nội ngoại.
NAM MÔ A MEN
* * *
VIỆT NAM
Việt Nam tỏ rạng ánh hồng tươi
Văn hóa mùa xuân khúc nhạc cười
Tiếng nhạc bổng trầm khai ý rạng
Non sông khởi sắc trổ xuân tươi
Dân giàu nước mạnh phun châu ngọc
Rồng Tiên hội tụ trải đức phơi
Độc Lập Tự Do niềm cường thịnh
Địa linh vũ trụ trổ Ông, Tôi.
* * *
TRỜI LÊN
Trời lên lộ bóng quang đầy
Nước non Quốc Đạo chuyển xoay vạn loài
Việt nam văn hóa đài cao rộng
Hiếu trung bay đến tận Trời Cha
Việt Nam kết trái đơm hoa
Muôn dân ngộ đức bài ca thanh bình
Khai Nguồn Cội dân tình no ấm
Đường lên mây tỏa sáng Văn Lang
Vua Hùng mở lối quy nguyên
Năm châu, bốn biển bình yên một nhà.
* * *
KINH CHÚ
Nam Mô Khai Hóa Tổ Tiên
Hiện Thân Hai Đấng Cửu Huyền Tối Cao
Sanh Ra Nhân Loại Con Người
Ông Bà, Cha Mẹ, Đến Thời Chúng Con
A MEN
* * *
KINH CẦU NGUYỆN
Dâng hương lễ lạy Cửu Huyền
Hiển linh gia hộ khắp miền cháu con
Huệ khai phước lộc đầy tràn
Gia đình hòa thuận, cháu con sum vầy
* * *
CHÚ NGUYỆN
Nguyện cho tất cả thế nhân
Sớm lên tiên giới sớm gần Mẹ Cha
Sớm gần cội gốc Long Hoa
Về nơi giải thoát vào nhà rồng tiên
* * *
NAM MÔ A MEN (lạy 4 lạy, bái 4 bái)
* * *
KHAI KINH KỆ
Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu
Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu
Nay con gặp đặng chuyên trì tụng
Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu.
* * *
TỤNG ĐỌC LONG HOA VÔ NGẠI ĐẠI BI THẦN CHÚ
(trang số: 254 - 273)
* * *
Mùng 1 Tết Cha
Mùng 2 Tết Mẹ.
Mùng 3 Tết Thầy.
NHƠN GIÁO
Thuở xa xưa Tiên Rồng, Địa Mẫu
Truyền nhơn luân dạy bảo cháu con
Làm cho cuộc sống bình yên
Gia đình, họ tộc, nước non thuận hòa
Pháp đã sanh Luật đành phải có
Muốn bình yên phải rõ đường đi
Đó là Nguồn Cội nguyên y
Cội nền Nhơn Giáo đỉnh thi Đạo Trời
Đạo làm người sáng ngời vô tận
Luật thiên chân biến hiện trả vay
Ở trong tâm thức xưa nay
Duy trì sanh tử đọa đày thoát siêu
Đạo Tối Cao ẩn tàng nhơn giáo
Có đạo rồi tiết tháo đứng đi
Đối nhân xử thế uy nghi
Khiêm hòa, nhân nghĩa, lễ nghi song hành
Gốc nhơn giáo thuận hòa chủ yếu
Đức cho thông thời thấu võ văn
Huyền vi vô tận siêu nhiên
Chủ trì cuộc sống làm nên nghiệp trời
Lòng giác ngộ không gì sánh kiệp
Ngọc báu châu vàng bạc nào bằng
Dù cho ức vạn sang giàu
Cũng không sánh được đạo người nhân luân
Nền Nhơn Giáo sáng bừng chân lý
Lìa ác gian thời thấy trời xanh
Vào ngô Chánh Giác Chân Như
Phật, Tiên, Thánh, Chúa từ đây lạ gì
Từ kim cổ loài người, sau trước
Đạo làm người vẩn thế xưa nay
Nhơn Giáo đạo pháp sâu xa
Con đường hạnh phúc rạng danh con người
Nền Nhơn Giáo Cội Nguồn bình đẳng
Thể dung hòa một thể trước sau
Cho nên đối đãi với nhau
Dĩ hòa vi quí trước sau giữ gìn
Đức Cha Trời ban truyền Nhơn Giáo
Để cho người xử thế tu thân
Gia đình, xã hội, nước non
Bình yên hạnh phúc giàu sang, sang giàu
Thuận thiên ý duy trì nhơn giáo
Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa là đây
Một gốc nhiều nhánh nên cây
Chung cùng một cội trổ đầy sum suê
* * *
NGƯỜI THẦY
Thầy vẫn ngày đêm, cứu thế Nhân
Qua từng chữ viết, chữ từng trang
Văn Kinh vũ trụ, nền Thiên Ý
Lời Trời truyền dạy, lời Trời Ban
Đã mấy mươi năm, thầy vẫn thế
Cực khổ trăm bề, những gian nan
Hỏi mây, mây cũng ngừng im lắng
Núi sông nhìn mãi, ánh hào quang
Tình thầy mênh mông, ôi rộng lớn
Đem về hơi ấm, khắp nhân gian
Sống dậy anh linh, nền Quốc Giáo
Cội Nguồn Truyền Thống, của nước Nam
Thầy ơi thầy hãy, nghe con nói
Từ trái tim yêu, của chúng con
Trái tim từ lâu, đà khô héo
Giờ đây tươi tốt, nở đơm bông
Nước thương, non nhớ, thầy biết mấy
Sông dài biển rộng, giỡi lòng son
Lời thầy đã thấm, cùng mặt đất
Núi ngọc rừng châu, khắp nước non
Mặt trời chân lý, soi hồn nước
Người Thầy, thầy cả khắp thế gian
Người thầy đáng kính, cùng thế giới
Mãi mãi trong lòng, của chúng con
Hoa râm tóc bạc, đà lốm đốm
Mặt Trời xế bóng, lặng tây non
Trường đời nhớ mãi, người truyền giáo
Lặng lẽ âm thầm cứu thế Nhân
* * *
NHỚ ƠN TỔ THẦY
Nghe Kinh giáo sụt sùi thầm khóc
Thầy là người thương xót thế gian
Vì người, Thầy khổ vô ngàn
Truyền kinh giáo hóa, dạy dân đường lành
Thuở xa xưa Vua Hùng dựng nước
Năm nghìn năm soi bước Rồng Tiên
Trời Nam muôn đức vạn hiền
Địa linh nhân kiệt khắp miền oai linh
Nhìn Thầy Tổ quên mình vì nước
Một cuộc đời chẳng biết sướng vui
Mải lo cứu nước cứu đời
Đem về ánh sáng mặt trời cho dân
Đời gian khổ muôn lần hành hạ
Mời xuống lên đày đoạ dã man
Thầy nào có oán thở than
Nhất tâm nhịn nhục cứu đàn con thơ
Đời sóng gió bên bờ vực thẳm
Súng chĩa đầu cũng lắm hiểm nguy
Mà Thầy vẫn cứ bước đi
Cứu con cứu cháu kể gì xác thân
Gươm kề cổ bao lần sống chết
Ba mươi năm lửa đốt dầu sôi
Trên đao dưới búa đã rồi
Còn thêm kìm kẹp một trời lưới giăng
Thầy là người thiện lương nhơn đức
Xuống trần gian cứu nước cứu dân
Đầu thai kiếp sống thanh bần
Sống đời nghèo khổ chỉ cần đủ no
Đường sống chết chẳng lo chi cả
Tháng cùng năm vội vã ra kinh
Mở đường mở cả mùa Xuân
Cho non cho nước lẫy lừng hùng anh
Nghe kinh giáo lòng sanh kính mến
Công Tổ Thầy đã đến với dân
Kinh luân nền móng tinh thần
Cho người thoát kiếp phàm trần lên Tiên
Ôi công đức vô biên vời vợi
Tấm lòng thành ca ngợi công ân
Xin Thầy chứng chút lòng trần
Cho con thêm được chút phần công lao
Ôi thương mến, Tổ Thầy thương mến
Ơn Tổ Thầy, cùng khắp thế gian
Chúng con nay khắp chúng con
Một lòng thành kính biết ơn vô cùng
Người để lại biển trời Kinh Giáo
Để cho đời, tìm đến mùa xuân
An vui hạnh phúc bình yên
Mãn trần Hồn được siêu lên thiên đàng
Thầy cứu người không vì danh lợi
Tháng cùng năm yên lặng chuyển luân
Chuyển xoay non nước, nước non
Vượt qua dông bão đến nơi yên bình
Ơn Thầy Tổ, biển trời khó trả
Chỉ tỏ lòng Hiếu Nghĩa dâng lên
Xin Thầy chứng giám chúng con
Đời đời kiếp kiếp nguyện theo chân Thầy.
Nam Mô A Men
* * *
TỤNG ĐỌC LONG HOA BÁT NHÃ TÂM KINH.
(trang số: 274 - 281)
--------------------------------------------------
4 - CÚNG DÂNG SAO NGÀY RẰM THÁNG GIÊNG
(Có từ thời Quốc Tổ Hùng Vương)
* * *
HÀNG NĂM ĐÚNG 8H TỐI VÀO NGÀY 15/1 ÂM LỊCH ĐẠI GIA ĐÌNH CON LẠC CHÁU HỒNG, CON RỒNG CHÁU TIÊN DÂNG HƯƠNG HOA, TRÀ, QUẢ LÊN CÁC VỊ THẦN CHỦ QUẢN CHÍN CHÙM SAO CHIẾU LÊN CUNG MẠNG NĂM TUỔI CON NGƯỜI. COI NHƯ TRƯỚC LÀ TẠ ƠN BA NGÔI TỐI CAO: TỔ TIÊN KHAI HÓA, CHA TRỜI, ĐỊA MẪU, SAU LÀ TẠ ƠN CÁC VỊ THẦN CAI QUẢN CHÍN CHÙM SAO ĐÃ PHÙ HỘ CHE CHỞ TAI QUA NẠN KHỎI VÀ BAN PHƯỚC LÀNH ĐẾN: TRƯỚC TIÊN LÀ GIA ĐÌNH, DÒNG HỌ NỘI NGOẠI BÊN CHỒNG CŨNG NHƯ BÊN VỢ, SAU LÀ CON CHÁU LẠC HỒNG, CON RỒNG CHÁU TIÊN ĐỒNG BÀO TRONG NƯỚC CŨNG NHƯ NGOÀI NƯỚC.
* * *
(gõ 1 tiếng chuông để mở đầu Nghi Lễ)
Chí Tâm đảnh lễ
Nam Mô Khai Hóa Tối Thượng Tổ Tiên Vô Biên Như Lai (gõ chuông - lạy).
Chí Tâm đảnh lễ
Nam Mô Long Hoa Cữu Huyền Thiên Phụ Ấn Quang Tối Thắng Như Lai (gõ chuông - lạy).
Chí Tâm đảnh lễ
Nam Mô Tiên Cơ Đức Mẹ Địa Mẫu Dưỡng Sanh Như Lai (gõ chuông - lạy).
Chí Tâm đảnh lễ
Nam Mô Đức Hư Không Tạng Diệu Không Vô Biên Như Lai (gõ chuông - lạy).
Dâng hương cúng lạy Cửu Huyền
Hiển linh gia hộ khắp miền cháu con
Của tiền phước lộc đầy tràn
Anh em hòa thuận cháu con sum vầy.
Chí Tâm cung thỉnh
Nhật Ưng Thái Dương Thiên Tử Tinh Quân Thiên Đình Uất Ly Cung Đại Thánh, Đang Nguyên Hải, Nhật Cung Thái Dương Tinh Quân vị tiến (bái).
Chí Tâm cung thỉnh
Nguyệt Cung Âm Hoàng Hậu Tinh Quân Thiên Đình Kiết Lâu Cung Đại Thánh, Tổ Diệu Nguyệt Thái Âm Tinh Quân vị tiến (bái).
Chí Tâm cung thỉnh
Đông Phương, Giáp - Ất, Mộc Đức Tinh Quân Thiên Đình Thánh Vân Cung Đại Thánh, Trùng Quan Mộc Đức Tinh Quân vị tiến (bái).
Chí Tâm cung thỉnh
Nam Phương, Bính - Đinh, Thiên Đình Minh Lý Cung Đại Thánh, Hòa Đức Vân Hán Tinh Quân vị tiến (bái).
Chí Tâm cung thỉnh
Tây Phương, Cang - Tân, Kim Đức Thái Bạch Thiên Đình Hạc Linh Cung Đại Thánh, Kim Đức Thái Bạch Tinh Quân vị tiến (bái).
Chí Tâm cung thỉnh
Bắc Phương, Nhâm - Quý, Thủy Đức Kim Nữ Cung Đại Thánh, Thùy Duyên Tinh Quân vị tiến (bái).
Chí Tâm cung thỉnh
Trung Ương, Mậu - Kỷ, Thổ Đức Tinh Quân Cung Đình Hoàng Trung Đại Thánh, Thổ Địa, Địa La Thổ Tú Tinh Quân vị tiến (bái).
Chí Tâm cung thỉnh
Thiên Cung Thìn Thủ La Hầu Đại Thánh, Thiên Đình Thánh Thủ Tinh Quân vị tiến (bái).
Chí Tâm cung thỉnh
Thiên Cung Phân Vĩ Kế Đô Tinh Quân Thiên Đình Bảo Vi Cung Đại Thánh, Kế Đô Tinh Quân vị tiến (bái).
Ly bà ly bà đế, cầu ha cầu ha đế
Đa ra ni đế, ni ha ra đế, tỳ lê nể đế
Ma ha già đế, chơn lăng càng đế
Ta Bà Ha.
Thiên la thần, địa la thần, thân ly nạn, nạn ly thân, nhất thiết tai ương hóa vi trần.
Ngày..... Tháng Giêng Năm.....
SAU KHI CUNG THỈNH CÁC VỊ THẦN XONG NHỮNG NGỌN ĐÈN SẼ ĐƯỢC THẮP SÁNG NHƯ SƠ ĐỒ HÌNH VẼ.
|
|
|
|
|
|
|
|
| |||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| ||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| ||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| ||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| ||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| ||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| ||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| ||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| ||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| ||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| ||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| ||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| ||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| ||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| ||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| ||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| ||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| ||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| ||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| ||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| ||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| ||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| ||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| ||||||||||
(liền sau đó là sơ đồ sao hình bát quái với 32 ngọn nến)

TIẾP THEO LÀ ĐỒNG CÙNG ĐỌC
QUANG LINH KINH CHÚ
Thắp đèn cúng khắp vì sao
Sáng Trời sáng Đất sáng tiêu tội tình
Thắp đèn thắp sáng hồn linh
Sáng bừng trí tuệ sáng lên yên hòa
Thắp đèn thắp sáng cả nhà
Sáng bừng con cháu sáng là văn minh
Sáng bừng trong ấm ngoài êm
Sáng dòng sáng họ sáng Ông sáng Bà
Đèn sao thắp cúng Trời Cha
Thánh, Thần, Tiên, Phật cùng là Tổ Tiên
Đèn sao sáng khắp thiêng liêng
Giải trừ tai họa sáng lên sang giàu
Giải trừ bệnh tật ốm đau
Sáng lên Phúc, Thọ sang giàu triền miên
Đèn sao cháy sáng linh linh
Sáng cho Gia Đạo bình yên đời đời
Sáng lên ánh sáng rạng ngời
Xóa đi tăm tối cuộc đời trầm luân
Xóa đi mê dại ngu si
Sáng bừng trí huệ hiển vinh cuộc đời
Đèn sao sáng khắp bầu trời
Xóa đi nghèo đói vạn đời ấm no
Đèn tâm, đèn trí, đèn sao
Đèn lòng sáng khắp giải nào khốn nguy
Đèn nhân, đèn nghĩa từ bi
Đèn trung, đèn hiếu sáng lên rạng ngời
Sáng bừng đại nghĩa khắp thời
Cho non cho nước rạng ngời hoa xuân
Thắp đèn thắp sáng thế gian
Sáng bừng nhân thế tiêu tan hận thù
Sáng bừng con cháu Tiên Rồng
Vượt qua khốn khổ lẫy lừng năm châu
Đèn sao sáng khắp vì sao
Ứng linh, linh ứng chuyển xoay vận thời
Lửa thiên lửa của nhà Trời
Bừng lên sự sống cho đời ấm êm
Đèn sao thắp sáng dâng lên
Cúng dường Cửu Diệu Tinh Quân Thánh Thần
Cầu cho Đất Nước yên bình
Cầu cho Gia Đạo vạn lành tai qua
Đèn sao thắp sáng gần xa
Sáng Trời, sáng Đất, sáng soi lòng thành
Thánh Thần chứng giám tấm lòng
Chứng tri công đức cúng dường chúng con.
NAM MÔ LONG HOA CỬU HUYỀN (lạy)
NAM MÔ TIÊN CƠ ĐỊA MẪU (lạy)
Chứng tri công đức cúng dường chúng con
ÁN TẤT ĐẾ HỘ RÔ RÔ, TẤT ĐÔ RÔ, CHỈ RỊ BA, KIẾT RỊ BÀ TẤT ĐẠT RỊ, BỐ RÔ RỊ, TA PHẠ HA.
--------------------------------------------------
5 - VĂN KHẤN GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG (10/ 03 ÂM LỊCH).
TẠI BÀN THỜ GIA TIÊN
(gõ 1 tiếng chuông để mở đầu Nghi Lễ)
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
NAM MÔ KHAI HÓA TỐI THƯỢNG TỔ TIÊN VÔ BIÊN NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
NAM MÔ LONG HOA CỬU HUYỀN THIÊN PHỤ ẤN QUANG TỐI THẮNG NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
NAM MÔ TIÊN CƠ ĐỨC MẸ ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
NAM MÔ ĐỨC HƯ KHÔNG TẠNG DIỆU KHÔNG VÔ BIÊN NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).
CON THÀNH TÂM KÍNH LẠY 100 ÔNG BÀ TIÊN TỔ, CHƯ HƯƠNG LINH GIA TIÊN TIỀN TỔ NỘI NGOẠI. (lạy)
CON THÀNH TÂM KÍNH BÁI PHẬT THÁNH TIÊN THẦN CHÚA KHẮP PHÁP GIỚI MƯỜI PHƯƠNG (bái).
Gia đình chúng con ở tại địa chỉ:
Xóm/ Đường:..... Thôn/ Tổ dân phố:..... Xã/ Phường:..... Quận/ Huyện:..... Tỉnh/ Thành phố:..... Nước Việt Nam.
+ Khai Hóa Tổ Tiên
+ Cha Trời Lạc Long Quân.
+ Địa Mẫu Âu Cơ
+ Long Hoa Giáo Tổ, Di Lặc, Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương, 100 Ông Bà Tiên Tổ.
* * *
NAM MÔ A MEN (lạy 4 lạy, bái 4 bái)
* * *
SÁM KINH
Quốc Tổ Anh Linh khó nghĩ bàn
Xuống trần khai Đạo cứu thế gian
Nay con thành kính xưng danh tụng
Phổ hóa lời kinh Quốc Đạo Tràng
Trước ảnh tượng Tiên Rồng chóa sáng
Lạc Long Quân cùng với Âu Cơ
Cha Trời Địa Mẫu Tối Cao
Uy Linh tột đỉnh trùm bao uy quyền
Với lòng dạ chí thành cung kính
Xin Trời Cha chứng giám công lao
Thành tâm lễ bái công ơn
Sanh thành dưỡng dục tạo nên muôn loài
Ngày Đại Lễ vang lừng Giỗ Tổ
Khắp cháu con hoa quả dâng lên
Một lòng nhớ đến công ơn
Khai cơ dựng nước dựng lên sơn hà
Ơn Quốc Tổ không gì sánh được
Truyền chân kinh tận độ chúng dân
Lập lên đất nước Văn Lang
Văn Minh hùng mạnh thế gian ai bì
Ơn Quốc Tổ thấm nhuần con cháu
Năm nghìn năm Văn Hiến vinh quang
Văn Lang Bách Việt chúng dân
Đời đời ghi nhớ công ơn của người
Ngày giỗ Tổ tựu tề đông đủ
Đèn, hương, hoa, trà, quả kính dâng
Tỏ lòng thành kính tri ân
Công lao Quốc Tổ không ai hơn người
Nền Quốc Đạo sáng ngời chân lý
Ơn Vua Hùng truyền giáo khai kinh
Công ơn trời biển công ơn
Nói sao cho tận kể sao cho cùng
Ngày Giỗ Tổ chí thành lễ bái
Xin bề trên chứng giám công lao
Khí Thiêng sông núi khắp nơi
Hồn Thiêng dân tộc vạn đời chở che
Là dân tộc Rồng Tiên Hồng Lạc
Vốn giống dân Hồng Ngọc uy linh
Giống dân Trung Hiếu Nghĩa Nhân
Không quên Nguồn Cội không quên giống nòi
Chúng con ý thức được rằng
Như cây có Cội nở nhành nở hoa
Nước kia không cạn vì sao
Còn Nguồn còn Cội đầy sông đầy hồ
Loài Chim có Tổ trường tồn
Loài người có Cội Tiên Rồng uy linh
Dân Tộc Việt năm nghìn năm truyền thống
Trải bao đời tiếp nối đến hôm nay
Giữ gìn bồi đắp dựng xây
Cho non cho nước nở đầy nhành xuân
Nền Văn Hiến lẫy lừng con cháu
Rạng hùng anh tỏa sáng Cha Ông
Rồng Tiên phấp phới cao bay
Năm châu bốn bể đấp xây hòa bình
Nước Việt Nam đại gia đình dân tộc
Thể Đồng Bào luôn đùm bọc lẫn nhau
Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng
Lá rách nương nhờ lá lành
Tinh thần đoàn kết bao đời khó phai
Anh Em như thể chân tay
Như chim liền cánh như cây liền cành
Ngày Giỗ Tổ hương trầm thơm ngát
Lời kệ kinh thấu suốt Tam Thiên
Kết thành cam lộ vô biên
Thấm nhuần hết thảy ức muôn vạn loài
Xin Tổ Tiên, Cha Trời, Địa mẫu
Cùng Vua Hùng Quốc Tổ anh linh
Hồn Thiêng sông núi chứng minh
Chứng tri công đức chúng con thọ trì
Nguyện cho đất nước an lành
Thái bình độc lập nở nhành giàu xuân.
* * *
TỤNG ĐỌC LONG HOA VÔ NGẠI ĐẠI BI THẦN CHÚ.
(trang số: 254 - 273)
TỤNG ĐỌC 10 ĐẠI NGUYỆN CỦA QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG.
(Cách đây khoảng 5000 năm, khi Ngài thành đạo, để mở cánh cửa Cội Nguồn, xem kinh Long Hoa Mật Tạng sẽ hiểu rõ hơn).
* - Nguyện thứ nhất:
Khi ta thành Đạo thời Đạo pháp của Trời sẽ tuôn chảy tưới nhuần các Châu Lục. Làm tươi trẻ Linh Hồn nhân loại, trí huệ đều được khai mở, thấu suốt Cội Nguồn vào pháp Đại Đồng Bình Đẳng tự chủ Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc.
* - Nguyện thứ hai:
Khi ta thành Đạo nước pháp Chân Lý, Công Lý, Đạo Lý của Trời sẽ biến thành Nước pháp Cam Lộ, cứu khổ cứu nạn làm vơi đi bao nỗi đau khổ. Khổ sinh, khổ tử, khổ già, khổ bệnh, khổ chia ly, khổ đói nghèo lạc hậu, khổ nỗi hàm oan, khổ áp bức, khổ nghịch cảnh, khổ tù đày, khổ Địa Ngục, khổ dốt dại ngu si. Biến tất cả những thống khổ ấy trở thành an vui an lạc cuộc đời.
* - Nguyện thứ ba:
Khi ta thành Đạo, thời Đạo pháp của Trời Linh ứng vào hàng bật nhất cầu chi đặng nấy. Chỉ cần việc ấy không trái lại lời dạy của Đức Cha Trời Chân Lý, Công Lý, Đạo Lý vũ trụ.
* - Nguyện thứ tư:
Khi ta thành Đạo, thời Đạo Trời biến thành Chủ Nghĩa Đại Đồng, không phân biệt màu da chủng tộc. Các Đảng phái, tôn giáo, các tầng lớp xã hội, giàu nghèo, sang hèn, Ác Thiện, hễ có cảm thì có ứng, có công thì có quả. Phàm Thánh cũng như nhau.
* - Nguyện thứ năm:
Khi ta thành Đạo, thời Đạo Trời thành Đạo Đại Đồng Bình Đẳng, Luật là Thầy, Đạo là Cha, Công Lý Hiến Pháp là Vua. Phàm, Thánh toàn nhân loại, đều đầy đủ các Quyền mà Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu đã ban tặng cho mỗi con người. Như Quyền tự do, Quyền Ngôn Luận, Quyền bình đẳng, Quyền sống, Quyền mưu cầu hạnh phúc, Quyền quyết định vận mệnh của mình. Nhất là Quyền được Hiến pháp, Luật pháp, Đạo pháp, Công Lý cho phép. Còn những Quyền, Hiến pháp, Luật pháp, Đạo pháp, Công Lý không cho phép, đó không gọi là Quyền mà là đi ngược lại lời dạy của Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu.
* - Nguyện thứ sáu:
Khi ta thành Đạo, thời Đạo Trời sẽ biến thành những món ăn tinh thần, chuyển hóa Căn Thân Huệ Mạng có công năng giải trừ vô lượng tội ác. Không còn sa đọa Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh. Sanh về Thiên giới, muốn ăn có ăn, muốn mặc có mặc, Lầu Đài Cung Điện đều theo ý muốn hiện ra. Sống mãi không chết không già không bệnh, không tử.
* - Nguyện thứ bảy:
Khi ta thành Đạo, thì Đạo Trời trôi chảy không ngừng hết tiểu kiếp này sang tiểu kiếp khác. Lưu chuyển khắp ta bà thế giới, khắp năm châu bốn biển, khắp hư không vũ trụ. Làm lợi ích mãi cho nhân loại con người.
* - Nguyện thứ tám:
Khi ta thành Đạo, thì Đạo Trời sẽ trở thành Quốc Đạo Chính Nghĩa của mỗi dân tộc, mỗi chủng tộc, mỗi màu da. Từ Địa Ngục, Trần Gian, Thiên Đàng. Đời Đạo là một dung hòa cuộc sống, Đời vì Đạo, Đạo là Đời tuy hai mà một, tuy một mà hai. Như Lửa và ánh sáng của Lửa.
* - Nguyện thứ chín:
Khi ta thành Đạo, thì Đạo Trời biến thành vô lượng quang ánh sáng soi đường cho nhân loại thoát khổ. Anh sáng Chân Lý, ánh sáng Công Lý, ánh sáng Đạo Đức, ánh sáng vật chất khoa học, vũ trụ, ánh sáng khoa học Tâm Linh Duy Thức chủng tánh, ánh sáng Đại Đồng Bình Đẳng, ánh sáng Chính Nghĩa công bằng văn minh, ánh sáng giải thoát Chánh giác, ánh sáng toàn năng toàn giác và còn vô lượng vô biên ánh sáng không thể tính đếm không thể nghĩ bàn soi đường chỉ lối cho nhân loại con người. Thấu suốt quá khứ tột cùng vị lai.
* - Nguyện thứ mười:
Khi ta thành Đạo, thì Đạo Trời trở thành Đại Đạo vũ trụ, Đạo Chung cho toàn nhân loại. Tam giáo Quy nguyên. Ngũ Chi hiệp nhất. Đồng Ngộ Chân Tánh. Đồng Thành Chánh Giác. Thanh tịnh hư không. Đại Đồng Bình Đẳng.
* * *
TỤNG ĐỌC LONG HOA BÁT NHÃ TÂM KINH.
(trang số: 274 - 281)
--------------------------------------------------
6 - VĂN KHẤN 5 THÁNG 5
NGÀY 100 ÔNG BÀ TỔ TỔ TỔ RA ĐỜI
(gõ 1 tiếng chuông để mở đầu Nghi Lễ)
NAM MÔ KHAI HÓA TỐI THƯỢNG TỔ TIÊN VÔ BIÊN NHƯ LAI (gõ chuông - lạy).
NAM MÔ LONG HOA CỬU HUYỀN THIÊN PHỤ ẤN QUANG TỐI THẮNG NHƯ LAI (gõ chuông - lạy).
NAM MÔ TIÊN CƠ ĐỨC MẸ ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH NHƯ LAI (gõ chuông - lạy).
NAM MÔ A MEN
NAM MÔ ĐỨC HƯ KHÔNG TẠNG DIỆU KHÔNG VÔ BIÊN NHƯ LAI (gõ chuông - lạy)
CON THÀNH TÂM KÍNH LẠY 100 ÔNG BÀ TIÊN TỔ, CHƯ HƯƠNG LINH GIA TIÊN TIỀN TỔ NỘI NGOẠI. (lạy)
CON THÀNH TÂM KÍNH BÁI PHẬT THÁNH TIÊN THẦN CHÚA KHẮP PHÁP GIỚI MƯỜI PHƯƠNG (bái).
Gia đình chúng con gồm có các thành viên:.....
Ở tại địa chỉ:
Xóm/ Đường:..... Thôn/ Tổ dân phố:..... Xã/ Phường:..... Quận/ Huyện:..... Tỉnh/ Thành phố:..... Nước Việt Nam.
Ngưỡng mong ơn trên.
+ Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu.
+ Long Hoa Giáo Chủ, Di Lặc, Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương, 100 Ông Bà Tiên Tổ.
+ Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Khắp pháp giới mười phương. Ba thời, quá khứ, hiện tại, vị lai. Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ.
* * *
NAM MÔ A MEN (lạy 4 lạy, bái 4 bái)
* * *
KHAI KINH KỆ
Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu
Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu
Nay con gặp đặng chuyên trì tụng
Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu.
* * *
TỤNG ĐỌC LONG HOA VÔ NGẠI ĐẠI BI THẦN CHÚ
(trang số: 254 - 273)
TỤNG ĐỌC KINH LONG HOA
(trang số: 243 - 253)
(nói về Cha Trời Mẹ Trời sanh ra nhân loại con người, xem Long Hoa Mật Tạng Kinh, Long Hoa Thiên Tạng Kinh sẽ nói rõ hơn).
TỤNG ĐỌC LONG HOA BÁT NHÃ TÂM KINH.
(trang số: 274 - 281)
--------------------------------------------------
7 - VĂN KHẤN RẰM THÁNG 7
TRONG NHÀ
a) Thế nào là bậc tiểu hiếu, trung hiếu và đại hiếu?
Tiểu Hiếu: Là phụng dưỡng các bậc bề trên, Ông Bà Cha Mẹ, bằng con đường vật chất như của cải, tiền tài, đồ ăn thức uống.
Trung Hiếu: Là ra sức học tập, thành đạt công danh, đem lại tiếng thơm và biết làm vừa lòng bề trên, Ông Bà, Cha Mẹ, và cả những người có công dạy bảo, nâng đỡ mình.
Đại Hiếu: Là phụng dưỡng bề trên, cũng như Ông Bà Cha Mẹ bằng con đường tinh thần. Như khuyên bề trên, hướng thiện, đi theo con đường đại nghĩa trở về với Cội với Nguồn, cũng như khuyên Ông Bà Cha Mẹ lập nhiều công đức, truyền đạt kinh luân, làm nhiều việc phước thiện, cứu dân độ thế để lại âm đức cho con cháu, chứng quả trí huệ siêu thoát linh hồn về Trời.
- Hiếu Đạo, Hiếu Đời.
Nghĩa là vừa làm tròn bổn phận của một người tu chân chính, phát đại nguyện rộng lớn, cùng với Phật Thánh Tiên Thần Chúa khắp cùng ra sức cứu giúp đồng bào nhân loại anh em. Lại vừa làm tròn bổn phận luân chuyển của mình trong vai trò: ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu, anh chị em ở trong gia đình. Ngoài ra cũng cần làm tròn cả bổn phận của cá nhân với Họ Tộc, với Quê Hương, với Đồng Bào, với Tổ Quốc, với Thầy Cô dạy dỗ, và với ân nhân giúp đỡ mình nữa.
Với vô sắc giới, các vị cần tận tâm, tận lực, hết lòng tôn thờ Tổ Tiên, Cha Trời, Mẹ Trời (chánh thân, chánh mẫu), 3 ngôi tối cao vũ trụ, đưa tâm linh của mình giác ngộ mà trở về với bản thể Linh Giác Vũ Trụ. Còn với Sắc Giới, trước hết là tận tâm, tận lực, hết lòng hiếu kính, báo đáp với: chánh thân chánh mẫu (Cha Trời và Mẹ Trời), Ông Bà, Cha Mẹ (phụ thân và phụ mẫu), Quê Hương và Tổ Quốc, Đồng Bào, Quốc Tổ Hùng Vương (người đã để lại cho dân tộc Việt Nam hai di sản quý báu), Thầy và Cô. Bên cạnh đó, cũng cần luôn ghi nhớ công ơn, đền ơn đáp nghĩa với tất cả những ai đã từng giúp đỡ mình trong hiện tại và vô số kiếp lâu xa.
b) Lễ vật
c) Văn khấn
(gõ 1 tiếng chuông để mở đầu Nghi Lễ)
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
NAM MÔ KHAI HÓA TỐI THƯỢNG TỔ TIÊN VÔ BIÊN NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
NAM MÔ LONG HOA CỬU HUYỀN THIÊN PHỤ ẤN QUANG TỐI THẮNG NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
NAM MÔ TIÊN CƠ ĐỨC MẸ ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
NAM MÔ ĐỨC HƯ KHÔNG TẠNG DIỆU KHÔNG VÔ BIÊN NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).
CON THÀNH TÂM KÍNH LẠY 100 ÔNG BÀ TIÊN TỔ, CHƯ HƯƠNG LINH GIA TIÊN TIỀN TỔ NỘI NGOẠI. (lạy)
CON THÀNH TÂM KÍNH BÁI PHẬT THÁNH TIÊN THẦN CHÚA KHẮP PHÁP GIỚI MƯỜI PHƯƠNG (bái).
Gia đình chúng con gồm có các thành viên:.....
Ở tại địa chỉ:
Xóm/ Đường:..... Thôn/ Tổ dân phố:..... Xã/ Phường..... Quận/ Huyện:..... Tỉnh/ Thành phố:..... Nước Việt Nam.
Trước là phụng báo:
+ Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu.
+ Long Hoa Giáo Chủ, Di Lặc, Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương, 100 Ông Bà Tiên Tổ.
Sau là tưởng nhớ tới công ơn của chư hương linh gia tiên tiền tổ nội ngoại.
NAM MÔ A MEN (lạy 4 lạy, bái 4 bái)
* * *
KHAI KINH KỆ
Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu
Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu
Nay con gặp đặng chuyên trì tụng
Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu.
* * *
TỤNG ĐỌC LONG HOA VÔ NGẠI ĐẠI BI THẦN CHÚ
(trang số: 254 - 273)
* * *
KINH HIẾU NGHĨA CHA TRỜI, MẸ TRỜI
Vô lượng kiếp Cha Trời Địa Mẫu
Thường phóng quang cứu khổ hồn linh
Độ cháu con vô số vô biên
Đều chứng quả Phật, Tiên, Thánh, Chúa
Công Cha Trời khắp trong trời đất
Chẳng ai hơn đệ nhất công lao
Lớn vô cùng vô tận biết bao
Dựng cơ nghiệp tam thiên vũ trụ
Chủ nhân Ông quyền năng định đoạt
Đấng chủ trì thiên luật thưởng ban
Cho những người bồi đức lập công
Vì đại nghĩa vì dân vì nước
Vì anh em Tiên Rồng nòi giống
Giúp cho người tỉnh giấc tu hành
Giúp cho người trở lại đường lành
Về thế giới thiên đàng cực lạc
Sống an vui cung vàng điện ngọc
Mãi vĩnh hằng tự tại tự do
Cõi nước trời vô số hà sa
Tùy công đức mà vui mà hưởng
Cõi trần gian huyền cơ biến chuyển
Đầy họa tai lắm cảnh truân chuyên
Ý Cha Trời chuyển vận huyền cơ
Khai Đại Đạo bến bờ tiếp rước
Nghĩa đồng bào Phật, Tiên, Thánh, Chúa
Khắp Ta Bà thế giới năm châu
Ban pháp lành từ cổ chí kim
Bao lời lẽ từ bi bác ái
Phật, Thánh, Tiên, phò trì chánh giáo
Đồng ra kinh cứu vớt cõi trần
Độ nhân sanh về với Cội Nguồn
Lập công lành với đấng Trời Cha
Lưu danh tiếng khắp cõi hà sa
Đức Cha Trời quyền năng trên hết
Chuyển vần xoay tình thế thuận xuôi
Cùng Thánh, Thần, trấn khắp càn khôn
Đồng phóng quang hộ độ cháu con
Về thế giới an khương cực lạc
Nếu những ai trở về Nguồn Cội
Lạy Cha Trời rửa tội một lần
Theo văn hóa sám hối tội tình
Bao kiếp ác chẳng còn tiêu sạch
Hết họa tai an vui hưng thịnh
Mãi về sau ít bệnh ít đau
Đọc kinh đây thời hãy truyền mau
Phát tâm lành bồi công lập đức
Phật, Thánh, Tiên khắp trong trời đất
Đồng phóng quang cứu vớt từng giờ
Tạo nhân hiền dứt khổ an lành
Đạo Hiếu Nghĩa nay đà thành tựu
Về tiên bang hội tụ điền viên
Trăm năm trong cõi người ta
Cũng như sương khói thoáng qua mất liền
Ra thân tu phước thờ Trời
Kính tin Phật, Chúa, Thánh, Thần, chở che
Kinh đây vốn thật cao siêu
Chỉ cần đọc tụng mong chi cũng thành
Công đức không thể nghĩ bàn
Cầu chi đặng nấy chẳng lầm chẳng sai
Nếu như có người thiện nam
Hay là thiện nữ luận bàn giảng ra
Cho người cùng hiểu cùng nghe
Thấm nhuần chân lý Trời Cha dạy truyền
Người nầy sẽ được Tổ Tiên
Cha Trời Địa Mẫu phóng quang độ trì
Khai tâm khai trí khai thần
Muôn nghìn ức kiếp chuyển thành chúa vua
Cháu, con sáng láng thông minh
Hiển vinh, vinh hiển giàu sang, sang giàu
Cũng nhờ Hiếu Nghĩa làm đầu
Công thành danh tọa về Trời an vui.
* * *
KINH HIẾU NGHĨA CHA MẸ
Làm người ai cũng biết rằng
Công ơn Cha Mẹ sánh bằng trời cao
Nuôi con khó nhọc biết bao
Năm dài tháng rộng nói sao cho cùng
Thương con thương cái ngập tràn
Tình thương Cha Mẹ ai nào sánh hơn
Con đau Cha Mẹ lo âu
Con bệnh Cha Mẹ buồn rầu không yên
Con khóc Cha Mẹ nhói tim
Xót xa đau đớn lệ tuôn đầm đìa
Con cười Cha Mẹ cũng cười
Con vui Cha Mẹ không gì vui hơn
Thương con Cha Mẹ kể chi
Nhọc nhằn cực khổ cũng vì nuôi con
Hỡi ai còn chút lương tâm
Nghĩ suy cho thấu tấm lòng Mẹ Cha.
Hãy nhớ lại công ơn Cha Mẹ
Chữ cù lao dưỡng dục quên mình
Kể gì gian khổ nhọc nhằn
Nuôi con tháng rộng năm dài biết bao
Thương con từ thuở nào trong bụng
Với hình hài vừa tượng nên thân
Thương con trong bọc mới mang
Tháng ngày yêu mến sớm hôm giữ gìn
Lòng thương con vô cùng vô tận
Kể sao cùng lòng Mẹ lòng Cha
Thương con Cha Mẹ thiết tha
Chăm lo từng phút, từng giây, từng giờ
Nhìn thân Mẹ đứng ngồi lo lắng
Suốt thời gian chín tháng cưu mang
Mong con mong mãi bình an
Mong con toàn vẹn sớm nên hình hài
Lòng Cha Mẹ như trời như biển
Dành cho con tất cả hi sinh
Kể gì thân xác héo hon
Kể gì gian khổ, gian nan khốn cùng
Mẹ sanh con cả giờ đau đớn
Chịu đớn đau trông thấy mặt con
Dẫu rằng Mẹ có chết đi
Miễn sao con trẻ bình yên cõi đời
Ôi người Mẹ biển trời nhân đức
Lòng thương con trên hết vô biên
Thiêng liêng người Mẹ thiêng liêng
Biển trời khó sánh tình thương biển trời
Kìa con trẻ chào đời bật khóc
Kìa người Cha sung sướng làm sao
Tràn đầy yêu mến thương yêu
Nhìn con Cha Mẹ xiết bao vui mừng
Lòng Cha Mẹ mấy tầng yêu dấu
Lòng thương con rộng lớn vô biên
Đất trời chẳng thể rộng hơn
Thương con Cha Mẹ quên đi nhọc nhằn
Lần từng ngón tay bồng tay bế
Niềm thương yêu chăm sóc từng giây
Con đau Cha Mẹ quặng đau
Con rầu Cha Mẹ rầu theo từng hồi
Nghe con khóc hãi hùng lo sợ
Con biếng ăn Cha Mẹ lắng lo
Tháng ngày khổ cực biết bao
Công lao trời biển nói sao cho cùng
Nhìn con lật con bò con nói
Nhìn con đi con lớn lòng vui
Ai ơi nầy hỡi ai ơi
Nghĩ suy cho thấu biển trời Mẹ Cha
Ôi chữ Hiếu thâm sâu vô tận
Nghĩa đáp đền công Mẹ ơn Cha
Chỉ cần con ấm mình lên
Mẹ Cha không ngủ suốt đêm sợ rầu
Nhìn con trẻ ấm mình dạ xót
Tiếng khóc con đau đớn lòng Cha
Cầu Trời khấn Phật suốt đêm
Phù trì hộ độ cho con của mình
Tim sắt đá cũng còn tan chảy
Với tình thương trời bể bao la
Tình thương dành hết cho con
Cả đời như thế công ơn tận cùng
Lòng Cha Mẹ ai nào sánh được
Sự hi sinh tột bực vì con
Kể gì non núi, núi non
Đất trời rộng lớn cũng không so bì
Thử ôn lại có gì không đúng
Công Mẹ Cha năm tháng nuôi con
Gian nan khổ cực gian nan
Vậy mà vui vẻ không than một lời
Ngồi ôn lại mới thời thấy rõ
Lòng thương con như bể như non
Con ốm Cha Mẹ hoang mang
Đút cơn múm sữa biết bao khổ nàn
Nhìn con lớn lòng mừng vô tả
Hơn được vàng hơn cả báu châu
Đưa con đi học sớm hôm
Thương con Cha Mẹ theo chân đến trường
Kìa gió bụi chân trời mưa nắng
Mẹ cùng Cha tìm kiếm gạo cơm
Nuôi con vất vả sớm hôm
Miễn sao con được nên danh làm người
Bao năm tháng miệt mài lao khổ
Thân bọc da bao nỗi truân chuyên
Kiếm tìm của cải nuôi con
Dạn dày gió bụi phong sương cuộc đời
Công ơn ấy có gì sánh được
Tình thương kia muôn vạn núi cao
Sanh thành dưỡng dục cù lao
Biển trời công đức kể sao cho cùng
Khi nghĩ đến lệ trào nước mắt
Công Mẹ Cha ân đức dường
Công lao trời đất công lao
Bao giờ trả được chút ơn sanh thành
Trong trời đất còn gì hơn Hiếu
Mất Hiếu rồi họa đến chẳng sai
Chết đi hồn đọa âm ti
Khó mong trở lại đầu thai làm người
Làm con phải nghĩ thế nào
Công ơn dưỡng dục cù lao biển trời
Nhất là Cha Mẹ về già
Mắt mờ bệnh tật không người tựa nương
Nếu còn chưa mất lương tâm
Phải nên chăm sóc sớm hôm phụng thờ
Bất Hiếu tội lớn vô cùng
Tránh sao quả báo nhãn tiền theo tay
Sống thời hết họa tới tai
Khó nên nghiệp lớn khó xây danh vàng
Bất Hiếu phạm luật Thiên Đình
Tránh đâu cho khỏi luật trời chuyển xoay
Chết đi hồn đọa âm ti
Chịu nhiều khốn khổ mấy khi yên lành
Bất Hiếu Trời hại Trời hành
Hồn linh vất vưởng xoay vần họa tai
Quên đi nghĩa Mẹ ơn Cha
Tội nào hơn nữa khó qua nạn trời
Người nào quên Cội quên Nguồn
Công ơn Cha Mẹ cùng là Bề Trên
Lương tâm đánh mất còn chi
Thánh Thần xa lánh tai bay họa cùng
Người nào nhớ đến Cội Nguồn
Công Cha nghĩa Mẹ biển trời công lao
Hiếu Nghĩa là Đạo chí cao
Cha Trời, Địa Mẫu lúc nào cũng khen
Làm con Hiếu Nghĩa vi tiên
Chăm lo phụng dưỡng mới nên con người
Kinh luân đã giải phân trần
Đâu là cội phúc, đâu là họa tai
Công Cha như núi Thái Sơn
Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ Mẹ kính Cha
Cho tròn chữ Hiếu mới là đạo con
Trần gian cõi tạm trường thi
Phạm vào Bất Hiếu hết mong về Trời
Làm con Hiếu đạo vẹn toàn
Lo gì chẳng được sang giàu hiển vinh
Cha Trời lựa lọc Cháu Con
Lựa người có Hiếu thưởng ban phúc lành
Ban cho chói rạng công danh
Vinh hoa phú quý giàu sang, sang giàu
Mãn thân hồn được về Trời
Về nơi tiên cảnh vĩnh hằng tiêu diêu
Ngược lại Bất Hiếu chẳng nghe
Sống thời khốn khổ chết đi ngục tù
Bất Hiếu quả báo hãi hùng
Luân hồi đọa lạc vạn bề đớn đau
Dù vua, hay chúa, đều chung
Để tâm Bất Hiếu hết mong phước lành
Diêm Vương thọ lệnh Thiên Hoàng
Luật Trời phân xử rõ ràng phân minh
Bất Hiếu tội lớn khó dung
Ai mà phạm phải liệu lo sửa mình
Thành tâm cải hối tội tình
Chăm lo trả Hiếu đáp đền công ơn
Công Cha nghĩa Mẹ vô biên
Phải nên phụng dưỡng sớm hôm tôn thờ
Lương tâm sáng tỏ được rồi
Bao nhiêu tội ác tan thời biến tan
Phước trời tự đến trời ban
Ấm no, no ấm giàu sang, sang giàu
Lớn lên đã lập gia đình
Cũng nên lui tới để gần Mẹ Cha
Thành Tiên, Thành Phật, đâu xa
Từ trong Hiếu Nghĩa mà ra chẳng nhầm
Cha già Mẹ yếu mắt mờ
Trông vào con cái biết nhờ cậy ai
Bất Hiếu bỏ Mẹ bỏ Cha
Bơ vơ khốn khổ ngày già hẩm hiu
Dù cho danh lợi bao nhiêu
Để Tâm bất Hiếu còn chi Đạo Người
Phật, Tiên, Thánh, Chúa, bao đời
Tôn thờ Hiếu Đạo đứng đầu xưa nay
Đạo Hiếu đệ nhất cao thâm
Nếu mà bỏ mất còn mong được gì
Được là danh tiếng ngu si
Bất nhân bất nghĩa hồn sa địa đàng
Tu đâu cho bằng tu nhà
Thờ Cha kính Mẹ cũng là chân tu
Làm con quý tại Hiếu Nhân
Phải nên thức tỉnh xét phân tỏ tường
Đạo Hiếu vốn thật nhiệm mầu
Nhơn Đạo thành rồi Thiên Đạo là đây
Thánh Thần Chúa Phật xưa nay
Cũng nhờ Hiếu Nghĩa, phước xây vạn tòa
Thời nay nếu có người nào
Phát tâm truyền tụng hay là ấn in
Cầu cho Cha Mẹ song thân
Sống thêm tuổi thọ chết sanh thiên đàng
Cháu con vinh hiển nhiều đời
Tai qua nạn khỏi, sang giàu bình yên
Chỉ cần truyền tụng in kinh
Nhờ công đức ấy đăng trình vàng son
Huống chi giảng dạy thế gian
Cầu chi đặng nấy hết còn họa tai
Luân hồi chuyển kiếp làm vua
Dân giàu nước mạnh bình an thái bình.
NAM MÔ A MEN
* * *
TỤNG ĐỌC LONG HOA BÁT NHÃ TÂM KINH.
(trang số: 274 - 281)
* * *
VÃNG SANH QUYẾT ĐỊNH CHƠN NGÔN
Nam mô a di đa bà dạ. Đá tha già đa dạ. Đá địa dạ tha. A di rị đô bà tỳ. A di rị đá. Tất đam bà tỳ. A đi rị Đá, tỳ ca lan đế. A di rị đá. Tỳ ca lan đa. Già di nị. Già già na. Chỉ đa ca lệ. Ta bà ha. (3 lần)
--------------------------------------------------
8 - VĂN KHẤN NGÀY RẰM THÁNG 7
CÚNG CÔ HỒN NGOÀI TRỜI
a) Cô hồn là ai
b) Lễ vật
c) Thời gian và địa điểm cúng
Thời gian cúng nên là: 18h -19h.
Địa điểm cúng thường là ngoài sân/ ngoài trời.
d) Văn khấn
(gõ 1 tiếng chuông để mở đầu Nghi Lễ)
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
NAM MÔ KHAI HÓA TỐI THƯỢNG TỔ TIÊN VÔ BIÊN NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
NAM MÔ LONG HOA CỬU HUYỀN THIÊN PHỤ ẤN QUANG TỐI THẮNG NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
NAM MÔ TIÊN CƠ ĐỨC MẸ ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
NAM MÔ ĐỨC HƯ KHÔNG TẠNG DIỆU KHÔNG VÔ BIÊN NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).
CON THÀNH TÂM KÍNH LẠY 100 ÔNG BÀ TIÊN TỔ (lạy)
CON THÀNH TÂM KÍNH BÁI PHẬT THÁNH TIÊN THẦN CHÚA KHẮP PHÁP GIỚI MƯỜI PHƯƠNG (bái).
Nhất tâm triệu thỉnh hết thảy các vong linh, cô hồn quanh khu vực này (1 bái)
Tại địa chỉ:
Xóm/ Đường:..... Thôn/ Tổ dân phố:..... Xã/ Phường:..... Quận/ Huyện:..... Tỉnh/ Thành phố:..... Nước Việt Nam.
+ Khai Hóa Tổ Tiên
+ Cha Trời Lạc Long Quân.
+ Địa Mẫu Âu Cơ
+ Long Hoa Giáo Tổ, Di Lặc, Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương, 100 Ông Bà Tiên Tổ.
NAM MÔ A MEN.
Thiên la Phật, thiên la Thánh, thiên la Tiên, thiên la Thần, thiên la Chúa, cứu khổ cứu nạn.
Địa la Phật, địa la Thánh, địa la Tiên, địa la Thần, địa la Chúa, linh linh ứng hóa.
Thân ly nạn, nạn ly thân, nhất thiết tai ương hóa vi trần.
Thân ly nạn, nạn ly thân, nhất thiết tai ương hóa vi trần.
Thân ly nạn, nạn ly thân, nhất thiết tai ương hóa vi trần.
NAM MÔ A MEN. (lạy 3 lạy, bái 4 bái)
* * *
KHAI KINH KỆ
Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu
Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu
Nay con gặp đặng chuyên trì tụng
Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu.
* * *
TỤNG ĐỌC LONG HOA VÔ NGẠI ĐẠI BI THẦN CHÚ
(trang số: 254 - 273)
* * *
KHAI THỊ VONG LINH
Ta Bà cõi tạm, nơi gửi thân sanh từ trăm năm, Thiên Đàng, Cực lạc quê hương, chốn an lành Niết Bàn muôn thuở.
Hãy nên ghi nhớ, sống trên đời có được bao lâu, mới xuân sanh thoáng đã bạc đầu. Ngày nay, vong linh đã mãn duyên trần, ấy cũng là lẽ tự nhiên như ngày có sáng tối, có đến ắt có đi. Cũng như cái xác thân tứ đại: đất, nước, gió, lửa này chỉ là cái giả thân do tinh cha huyết mẹ hợp thành. Còn gia đình, thân quyến của vong linh cũng đều là mối duyên nợ theo định luật nhân duyên, đừng vương vấn mà đọa vào cảnh khổ.
Đời mạt thế con người hiện tại
Sống cùng nhau cứ mãi hại nhau
Bao nhiêu kế độc mưu sâu
Đem ra dùng hết có nào ngại chi
Cũng vì vậy ở ngay trần thế
Cuộc binh đao chém giết triền miên
Làm cho cuộc sống đảo điên
Khốn cùng khổ sở, lại thêm đói nghèo
Oán trả oán, oán đầy chồng chất
Thù trả thù, muôn kiếp chẳng tha
Cảnh khổ cứ mãi trào ra
Muôn đời vạn kiếp nói sao cho cùng
Nhìn thế nhân lầm đường lạc lối
Nên Trời Cha chuyển pháp khai kinh
Mở đường cứu khổ sanh linh
Thoát cơn nguy biến chuyển mình vượt qua
Nền văn hóa sâu xa vô tận
Đạo Nhơn Luân vô thượng thậm thâm
Chỉ cần truyền bá cho dân
Non sông Tổ Quốc mấy tầng bình yên
Dân có đạo dân hiền dân thảo
Dân có nguồn ít lỗi ít sai
Thái bình độc lập là đây
Nước non giàu đẹp phước xây vạn tòa
Nhơn luân đạo pháp làm người
Giàu, nghèo, quan, chúa, nhất thời đồng tu
Tôn thờ Nguồn Cội sớm hôm
Sống theo Hiến Pháp chẳng ôm độc tài
Giàu đạo đức là giàu vĩnh viễn
Giàu của tiền cũng chỉ tạm giàu
Sống còn chết mất được gì
Của trần trả lại cho trần như không
Cũng vì vậy Cha Ông di giáo
Truyền kinh luân giải thoát hồn linh
Để cho nhân thế tu theo
Rõ đường nhân quả chọn gieo giống lành
Muốn được vậy học hành giáo dục
Sống cho đời học tập siêng năng
Rõ đường thiện ác trong tâm
Tận tường tà chánh chẳng lầm chẳng sai
Giàu, nghèo có đức mới cao
Giúp dân giúp nước kiếp sau thanh nhàn
Giàu nghèo, ác đức lầm đường
Cháu con phải chịu khốn cùng về sau
Nhân quả thiên luật sai đâu
Nhân nào quả nấy lạ nào hiển nhiên
Quả báo xoay vần triền miên
Gieo thiện gặt thiện là điềm xưa nay
Nhân quả vay trả, trả vay
Ác gieo ác gặt xưa nay nào lầm.
* * *
Chửi Trời mắng đất: Nhiều họa đem đến
Chẳng trọng Thánh Thần: Cầu nguyện không linh
Mắng mưa chửi gió: Xui rủi không may
Bội nghịch cha mẹ: Hậu kiếp mồ côi
Khinh khi thân tộc: Bà con xa lánh
Hỗn ẩu anh em: Cô độc một mình
Hại dân, phản quốc: Họa sanh khó cứu
Phản hại chánh giáo: Khó thoát tai ương
Chê người nghèo khó: Chuyển kiếp cơ hàn
Hạch sách dân chúng: Suy sụp cháu con
Ỷ thế hiếp người: Con cháu khiếp nhược
Lời nói chẳng lành: Tai họa khởi sanh
Lấy của hiếp người: Tuyệt đường giàu có
Tham tàn bạo ác: Suy sụp khó cứu
Được sang chê hèn: Đáo đầu bần cực
Bất nghĩa bội ơn: Con cháu ngỗ nghịch
Được khôn chê khờ: Khó mong thành đạt
Xúi kiện hại người: Con cháu bất hòa
Cố ý gạt lường: Người khác gạt mình
Miệng hay nói láo: Khó lập thân danh
Thường hay hại người: Đoạn tuyệt may mắn
Phá hoại vợ chồng: Kiếp sau lẻ bạn
Truyền ngôn bất chính: Trả quả loạn tâm
Thường hay lạm sát: Tuổi thọ giảm suy
Hủy báng kệ kinh: Ngây cuồng đền tội
Thường hay ganh ghét: Con cháu vô duyên
Nói xấu ngạo biếm: Bằng hữu khinh thường
Thọ ân trả oán: Con cháu thất thời
Ếm yểm kinh luân: Tai bay họa gởi
Giết người cướp của: Ác lai quả báo
Hại người đoạt chức: Tai họa trùng lai
Mưu mô bất chính: Bằng hữu bất trung
Giả tâm phản loạn: Tai họa thình lình
Bội ơn bạc nghĩa: Sanh con bất hiếu
Làm ăn bất chính: Con cháu phá gia
Hại dân khuấy chúng, chuyển kiếp sanh ra vô cùng khốn khổ: Câm, đui, liệt, cùi
Tâm tánh bạc ác: Căn khùng đền tội
Ngông cuồng kiêu ngạo: Tạo lập khó thành
Tham ô bất chính: Con cháu hư hỏng
Phản bội Cha Ông: Con cái phản mình
Ép người đường cùng: Họa đầy khó tránh
Hành hung bất chánh: Con cháu sụp suy
* * *
Nhân luân quả báo xưa nay
Khắp trong trời đất có sai bao giờ
Ứng báo quả báo xoay vần
Chỉ mau hay chậm đâu lầm sai chi
Kinh nầy cùng tận hiển linh
Thậm thâm vi diệu khó nên luận bàn
Chỉ cần thành kính một lần
Phát tâm đọc tụng cho người khác nghe
Chỉ là một chữ một câu
Coi như cũng đặng một tàu phước ghi
Huống là in chép truyền đi
Muốn chi cũng đặng cầu chi cũng thành
Ông bà cha mẹ nhiều đời
Siêu sanh thoát ngục về Trời an vui
Còn như tu luyện theo kinh
Cửu Huyền hộ độ có tên bảng vàng
Cháu con thành đạt vinh quang
Gia đình con cháu bình yên, yên bình
Huống chi giảng giải tuyên truyền
Thánh, Thần, che chở phước lành tốt tươi
Mãn thân hồn đặng sanh Thiên
Vào ngôi Phật, Chúa, Thánh, Tiên, Đức Thần.
* * *
Lại nữa, vong linh hỡi:
Trần gian là chốn trường thi
Là nơi cõi tạm luyện tu linh hồn
Ngộ rồi siêu thoát về Trời
Nào đâu phải chốn muôn đời bình yên
Sanh già bệnh tử liên miên
Xoay vần tan hợp não phiền lắm thay
Cõi trần gian tai bay họa gởi
Nào chiến tranh binh lửa chẳng yên
Thiên tai tàn phá kinh thiên
Lắm điều cơ cực biết bao nhọc nhằn
Ở cõi Trời đất vàng đất ngọc
Nào báu châu xinh đẹp lạ thường
Lầu đài cung điện kim cương
Pha lê, mã não, trân châu, xà cừ
Các tầng Trời sang giàu bậc nhất
Chốn trần gian chẳng sánh mảy lông
Thiên Đàng hạnh phúc vô biên
Trần Gian biển khổ đảo điên khốn nàn
Bồng lai cảnh giới Thiên Đàng
Sống lâu trẻ mãi não phiền đều không
Đâu như trần thế Trần Gian
Chia lìa khốn khổ tử sanh luân hồi
Chốn Trần Gian muôn ngàn khốn khổ
Cõi Thiên Đàng sống mãi an vui
Trần Gian bệnh tật ốm đau
Thiên Đàng tự tại sống lâu an lành
* * *
Muốn biết ác gian có hại gì
Phải nên tìm hiểu ở kinh thi
Nhơn luân quả báo đều ghi rõ
Họa phúc thăng trầm có khó chi
Luật nhân quả trước sau, sau trước
Gieo giống gì gặt nấy có sai
Trồng lúa gặt lúa xưa nay
Gieo ác gặt ác, ác vây khốn cùng
Nơi vũ trụ một nền thiên luật
Đạo huyền cơ chuyển vận chuyển xoay
Ác thời đọa xuống âm ti
Thiện thời nhẹ bước siêu lên Thiên Đàng
Vì hiểu rõ luật trời như thế
Phật, Thánh, Tiên, chọn đức làm đầu
Ở trong vũ trụ một bầu
Chánh, Tà, hai nẻo vui, buồn, khổ vui
Thiện cùng Ác do người mê ngộ
Tạo nghiệp duyên chuyển vận thọ mang
Gieo nhân kết quả xưa nay
Nhân nào quả nấy có sai bao giờ
Tạo nghiệp ác gieo mầm thọ khổ
Đọa linh hồn địa phủ khó ra
Chịu nhiều quả báo gớm ghê
Gươm đâm, đao chém đứt lìa tan thây
Nơi ngục lửa nướng thui la ré
Ngục âm phong lạnh xé thịt da
Đớn đau khủng khiếp rên la
Chết đi sống lại biết bao hãi hùng
Nơi trần thế hung tàn bạo ác
Cậy thế quyền tàn sát lê dân
Thiên cơ vận hóa hồn linh
Chết đi sa đọa ngục hình địa lao
Hồn linh đói khát biết bao
Quỷ yêu xé xác đớn đau kinh hoàng
Nơi Địa Phủ muôn trùng đày đọa
Đủ cực hình, thảm họa triền miên
Chừng nào hết nghiệp ác gian
Mới mong thoát khỏi thảm thê ngục hình
Tiếng la khóc hãi hùng dậy khắp
Nổi kinh hoàng thịt khét lửa nung
Mới hay Địa Ngục khiếp kinh
Sa chân làm ác hết mong phản hồi
Nơi trần thế xem thường hành thiện
Cứ tham tàn bày biện ác gian
Nào hay Địa Phủ kề bên
Mất thân hồn đọa âm ti mấy tầng
Nơi trần thế dối lừa hại chúng
Xuống âm ti đủ thứ đớn đau
Quỷ ngục đâm chém xé xâu
Đủ điều hành hạ biết bao hành hình
Cũng vì bởi gieo toàn hung ác
Lại xem thường quả báo chuyển xoay
Địa ngục hành xử liên miên
Chết đi sống lại biết bao nghìn lần
Nơi trần thế hại người lương thiện
Xuống âm ti muôn vạn cực hình
Giáo đâm gươm chém trùng trùng
Linh hồn nát vụn, nát nhừ như tương
Nơi trần thế hại dân khuấy chúng
Miệng độc xà hại chết người ngay
Chết đi đọa xuống âm ti
Đọa đày khủng khiếp vô phương cứu nàn
Nơi ngục lạnh đọa đày đau đớn
Lưỡi cứng đờ phồng tét thịt da
Răm nứt xé nhỏ xé to
Đớn đau khủng khiếp thét la hãi hùng
Nơi trần thế giết người cướp của
Làm cho người khốn khổ thương đau
Chết đi hồn xuống âm ti
Quỷ Thần hành hạ moi tim nấu nhừ
Vậy mới biết đất trời thiên luật
Hễ hại người Trời lại hại mình
Chuyển xoay thiên luật công minh
Gieo ác gặt ác có gì hàm oan
Nơi trần thế mưu gian hại nước
Làm cho dân khốn đốn đói nghèo
Sống trong đao búa ngục tù
Sống trong áp bức khốn cùng đau thương
Gieo đại ác tội cao như núi
Luật Trời kia chuyển hóa đọa đày
Lâm chung hồn xuống địa đàng
Thọ hình quả báo những gì gớm ghê
Lụi, đâm, quay, nướng, lột da
Moi gan, móc ruột, rút gân nấu dầu
Quết, giã, xay, xát, băm nhừ
Búa, rìu, dao rựa, đồng thời bửa, đâm
Quăng hồn cho rắn nuốt ăn
Rừng đao núi lửa cũng quăng liệng vào
Nơi địa ngục âm tào Địa Phủ
Những hồn linh hung dữ vào ra
Nhất là những kẻ hại dân
Nhân luân quả báo xoay vần khốn nguy
Gian tà hại nước hại non
Ỷ quyền ỷ chức hại dân khốn cùng
Lâm chung hồn đọa mấy tầng
Địa Lao chịu mãi cực hình dài lâu
Làm con hại Mẹ hại Cha
Đây là tội lớn phải sa ngục tù
Đọa vào hỏa ngục hành hình
Nghìn muôn ức kiếp biết đời nào ra
Làm người phản hại nước non
Hồn lìa khỏi xác chuyển xoay ngục tù
Chìm trong bể ngục đen sì
Làm mồi cho rắn nuốt thời thịt xương
Làm người hủy báng kinh luân
Họa tai, tai họa triền miên đọa đày
Địa ngục thịt nát xương lìa
Đọa vào ngạ quỷ cùng là súc sanh
Muôn đời vạn kiếp chuyển luân
Hết mong trở lại đầu thai làm người
Thất kính đối với Cha Trời
Chết đi phải chịu hành hình gớm ghê
Đói khát nào có được ăn
Đớn đau tra tấn, rút gân nấu dầu
Chết đi sống lại ức ngàn
Ăn đồng uống sắt cháy thời ruột gan
Lại thêm chim sắt mổ ăn
Đớn đau khủng khiếp nát tan linh hồn
Địa ngục khiếp vía kinh hoàng
Bởi do thất kính Cha Trời mà ra
Ác tâm thời đọa âm ti
Thiện tâm thì được sanh lên Thiên Đàng
Trước gian sau lại thiện lành
Cũng thành chánh quả hết vào âm ti
Trước ác sau lại ăn năn
Không sa địa ngục siêu sanh về Trời
Chỉ cần bỏ ác đi rồi
Tâm hồn nhẹ bỗng cuộc đời thênh thang
Siêu đọa đều bởi do tâm
Gieo gì gặt nấy chẳng tầm đâu xa
Gieo ác địa ngục phải sa
Thiện lành thì được sanh lên Thiên Đàng
Nam Mô A Men.
* * *
TỤNG ĐỌC LONG HOA BÁT NHÃ TÂM KINH.
(trang số: 274 - 281)
--------------------------------------------------
9 - VĂN KHẤN NGÀY 23 THÁNG CHẠP
a) Ý nghĩa
b) Vị trí và Lễ vật
c) Văn khấn
NAM MÔ KHAI HÓA TỐI THƯỢNG TỔ TIÊN VÔ BIÊN NHƯ LAI (lạy).
NAM MÔ LONG HOA CỬU HUYỀN THIÊN PHỤ ẤN QUANG TỐI THẮNG NHƯ LAI (lạy).
NAM MÔ TIÊN CƠ ĐỨC MẸ ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH NHƯ LAI (lạy).
NAM MÔ A MEN.
NAM MÔ ĐỨC HƯ KHÔNG TẠNG DIỆU KHÔNG VÔ BIÊN NHƯ LAI (lạy).
Gia chủ con thành tâm kính bái các vị: Thần Thổ Công, Thần Táo Quân ngụ tại ngôi nhà/ mảnh đất này (bái/ vái).
Gia đình chúng con gồm có các thành viên:.....
Ở tại địa chỉ:..... Xóm/ Đường:..... Thôn/ Tổ dân phố:..... Xã/ Phường:..... Quận/ Huyện:..... Tỉnh/ Thành phố:..... Nước Việt Nam.
* * *
NAM MÔ A MEN (lạy 3 lạy, bái 4 bái)
--------------------------------------------------
10 - VĂN KHẤN ĐÊM GIAO THỪA
TRONG NHÀ (18h - 24h đêm)
(gõ 1 tiếng chuông để mở đầu Nghi Lễ)
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
NAM MÔ KHAI HÓA TỐI THƯỢNG TỔ TIÊN VÔ BIÊN NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
NAM MÔ LONG HOA CỬU HUYỀN THIÊN PHỤ ẤN QUANG TỐI THẮNG NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
NAM MÔ TIÊN CƠ ĐỨC MẸ ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:
NAM MÔ ĐỨC HƯ KHÔNG TẠNG DIỆU KHÔNG VÔ BIÊN NHƯ LAI. AMEN (gõ chuông - lạy).
CON THÀNH TÂM KÍNH LẠY 100 ÔNG BÀ TIÊN TỔ, CHƯ HƯƠNG LINH GIA TIÊN TIỀN TỔ NỘI NGOẠI. (lạy)
CON THÀNH TÂM KÍNH BÁI PHẬT THÁNH TIÊN THẦN CHÚA KHẮP PHÁP GIỚI MƯỜI PHƯƠNG (bái).
Gia đình chúng con gồm có các thành viên:.....
Ở tại địa chỉ:
Xóm/ Đường:..... Thôn/ Tổ dân phố:..... Xã/ Phường:..... Quận/ Huyện:..... Tỉnh/ Thành phố:..... Nước Việt Nam.
Đem lòng thành khẩn, thành kính, thành tâm dâng lên: nhang, đèn, hương, hoa, trà, quả... cúng dường.
+ Khai Hóa Tổ Tiên
+ Cha Trời Lạc Long Quân.
+ Địa Mẫu Âu Cơ
+ Long Hoa Giáo Tổ, Di Lặc, Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương, 100 Ông Bà Tiên Tổ.
Sau là tưởng nhớ tới công ơn của chư hương linh gia tiên tiền tổ nội ngoại.
(Tuỳ việc làm phước thiện lớn hay nhỏ, quý vị nên hồi hướng công đức cho ông bà cha mẹ con cái, gia đình, quê hương, đất nước, v.v…)
NAM MÔ A MEN
* * *
KINH CHÚ
Nam Mô Khai Hóa Tổ Tiên
Hiện Thân Hai Đấng Cửu Huyền Tối Cao
Sanh Ra Nhân Loại Con Người
Ông Bà, Cha Mẹ, Đến Thời Chúng Con
A MEN
* * *
KINH CẦU NGUYỆN
Dâng hương lễ lạy Cửu Huyền
Hiển linh gia hộ khắp miền cháu con
Huệ khai phước lộc đầy tràn
Gia đình hòa thuận, cháu con sum vầy
* * *
CHÚ NGUYỆN
Nguyện cho tất cả thế nhân
Sớm lên tiên giới sớm gần Mẹ Cha
Sớm gần cội gốc Long Hoa
Về nơi giải thoát vào nhà rồng tiên
* * *
NAM MÔ A MEN
* * *
Việt Nam Văn Hóa Cội Nguồn
Đơm hoa kết trái đổi màu xuân xanh
Ánh mặt trời bừng lên tỏa sáng
Dậy hào hùng rợp bóng Rồng Tiên
Trời nam rực rỡ thiêng liêng
Gió xuân tràn ngập an vui thái bình
Nền văn hóa tràn đầy hạnh phúc
Lướt ngàn mây ung đúc ấm no
Việt Nam khúc hát tự do
Con Hồng cháu Lạc đơm hoa chuyển mình
Bừng non nước tràn đầy hưng thịnh
Cảnh giàu sang tràn ngập văn minh
Việt Nam rạng rỡ năm châu
Việt Nam hội tụ một bầu anh linh
Nền văn hóa chuyển mình tỏa sáng
Định pháp mầu Thiên Ý Trời Cha
Mưa xuân gió thịnh nở hoa
Trời xuân nở rộ Phụng bay Rồng chầu
Lời vàng ngọc vạn tầng mây báu
Ý diệu huyền rõ thấu huyền cơ
Việt Nam muôn vạn bài thơ
Địa linh thánh địa bến bờ thoát siêu
Cửa Trời rộng mở nơi đây
Đón người trần tục siêu bay về Trời
Việt Nam mãi mãi rạng ngời
Việt nam con Lạc cháu Hồng muôn năm.
* * *
NAM MÔ A MEN
Nam mô Phật, nam mô Thánh, nam mô Tiên, nam mô Thần, nam mô Chúa, cứu khổ cứu nạn.
Thiên la Phật, thiên la Thánh, thiên la Tiên, thiên la Thần, thiên la Chúa, cứu khổ cứu nạn.
Địa la Phật, địa la Thánh, địa la Tiên, địa la Thần, địa la Chúa, linh linh ứng hóa.
Thân ly nạn, nạn ly thân, nhất thiết tai ương hóa vi trần.
Thân ly nạn, nạn ly thân, nhất thiết tai ương hóa vi trần.
Thân ly nạn, nạn ly thân, nhất thiết tai ương hóa vi trần.
Ly bà ly bà đế, cầu ha cầu ha đế
Đa ra ni đế, ni ha ra đế, tỳ lê nể đế
Ma ha già đế, chơn lăng càng đế
Ta Bà Ha.
NAM MÔ A MEN.
(gõ chuông đồng bái lạy. Lạy 4 lạy, bái 4 bái)
* * *
KHAI KINH KỆ
Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu
Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu
Nay con gặp đặng chuyên trì tụng
Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu.
* * *
TỤNG ĐỌC LONG HOA VÔ NGẠI ĐẠI BI THẦN CHÚ
(trang số: 254 - 273)
TỤNG ĐỌC LONG HOA BÁT NHÃ TÂM KINH
(trang số: 274 - 281)
--------------------------------------------------
11 - VĂN KHẤN ĐÊM GIAO THỪA
NGOÀI TRỜI
Ý NGHĨA CỦA VIỆC CÚNG GIAO THỪA CUỐI NĂM
(gõ 1 tiếng chuông để mở đầu Nghi Lễ)
NAM MÔ KHAI HÓA TỐI THƯỢNG TỔ TIÊN VÔ BIÊN NHƯ LAI (gõ chuông - lạy).
NAM MÔ LONG HOA CỬU HUYỀN THIÊN PHỤ ẤN QUANG TỐI THẮNG NHƯ LAI (gõ chuông - lạy).
NAM MÔ TIÊN CƠ ĐỨC MẸ ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH NHƯ LAI (gõ chuông - lạy).
NAM MÔ A MEN
NAM MÔ ĐỨC HƯ KHÔNG TẠNG DIỆU KHÔNG VÔ BIÊN NHƯ LAI (gõ chuông - lạy).
CON THÀNH TÂM KÍNH LẠY 100 ÔNG BÀ TIÊN TỔ (lạy).
CON THÀNH TÂM KÍNH BÁI PHẬT THÁNH TIÊN THẦN CHÚA KHẮP PHÁP GIỚI MƯỜI PHƯƠNG (bái).
Gia đình chúng con gồm có các thành viên:.....
Ở tại địa chỉ:
Xóm/ Đường:..... Thôn/ Tổ dân phố:..... Xã/ Phường:..... Quận/ Huyện:..... Tỉnh/ Thành phố:..... Nước Việt Nam.
+ Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu.
+ Long Hoa Giáo Chủ, Di Lặc, Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương, 100 Ông Bà Tiên Tổ.
Sau là tưởng nhớ tới:
+ Ơn Đồng Bào
+ Ơn Tổ Quốc
+ Ơn Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa
+ Ơn Thầy, Cô dạy dỗ.
Nam Mô A Men.
KINH CẦU NGUYỆN
Dâng hương lễ lạy Cửu Huyền
Hiển linh gia hộ khắp miền cháu con
Huệ khai phước lộc đầy tràn
Gia đình hoà thuận, cháu con sum vầy.
* * *
SÁM GIÁC CA
Một lòng quy kính Tổ Tiên
Cha Trời, Địa Mẫu, Cửu Huyền Long Hoa
Hành thiện điều ác tránh xa
Trăm lành vạn phúc cái vui nào bằng
Hành thiện siêu sanh Thiên Đàng
Cung Trời sống mãi hết còn khổ đau
Cội Nguồn Văn Hóa cao sâu
Thậm thâm vi diệu biết bao cơ mầu
Thiên Luật, Thiên Ý Cha Trời
Chỉ cần làm được một lời cũng linh
Cha Trời hộ độ khai tâm
Phật, Tiên, Thánh, Chúa chẳng tầm đâu xa
Ngộ rồi trí huệ sáng soi
Tử sanh, sanh tử rõ thông an nhàn
Cội Nguồn kinh giáo Đạo Tràng
Như liều Thánh Dược cứu đời khốn nguy
Nghịch Thiên thời được cái chi
Muôn điều tai họa hết mong yên bình
Tai ương khắp chốn khắp cùng
Chỉ vì nghịch lại Ý Trời mà ra
Cầu lên ba đấng Ông Cha
Tối cao vũ trụ khai sinh Đất Trời
Quyền năng vô hạn tột cùng
Khai sinh tất cả vạn loài Tam Thiên
Thuận Trời muôn sự bình yên
Vạn lành muôn phúc việc chi cũng thành
Thuận Thiên tai họa tiêu trừ
Gia đình họ tộc rạng ngời danh thơm
Ông Bà Cha Mẹ siêu thăng
Cũng nhờ công đức Thuận Thiên Cha Trời
Cầu lên ba đấng cao vời
Quyền năng tột đỉnh giúp thời chúng con
Sống thời thường được bình an
Mọi điều suôn sẻ khó khăn cũng lành
Cầu xin Quốc Tổ Vua Hùng
Hiển Linh gia hộ khắp cùng chúng dân
Non sông Tổ Quốc giang sơn
Sanh sôi cuộc sống thênh thang cơ đồ
Khắp nơi phồn thịnh sang giàu
Nơi nào cũng được ngập tràn ấm no
Cầu cho Quốc Thới dân an
Nhà nhà hạnh phúc cháu con thuận hòa
Cầu cho Nam Việt nước nhà
Văn minh cuộc sống rạng ngời anh linh
Theo chân Quốc Tổ Hùng Vương
Nhân quyền dân chủ văn minh tột cùng
Dân giàu nước mạnh anh hùng
Việt Nam con cháu Tiên Rồng muôn năm
Nam Mô vạn sự bình yên
A Men như ý sám nguyền ứng linh
Nam Mô vạn sự đều nên
A Men như ý, ứng linh nhiệm mầu
Nam Mô vạn sự thỉnh cầu
A Men như ý, nguyện cầu ứng linh
Ta bà ha,
Án,
Tất điện đô mạn đà ra.
Bạt đà gia, ta bà ha.
Yết đế yết đế
Ba la tăng yết đế
Ba la tăng yết đế
Bồ đề tát bà ha
* * *
NAM MÔ A MEN (lạy 3 lạy, bái 4 bái)
* * *
KHAI KINH KỆ
Cội Nguồn Đại Đạo rất cao sâu
Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu
Nay con gặp đặng chuyên trì tụng
Nguyện rõ chân kinh lý nhiệm mầu.
* * *
TỤNG ĐỌC LONG HOA VÔ NGẠI ĐẠI BI THẦN CHÚ
(trang số: 254 - 273)
TỤNG ĐỌC LONG HOA BÁT NHÃ TÂM KINH.
(trang số: 274 - 281)
--------------------------------------------------
CHƯƠNG IV
SỰ RA ĐỜI CỦA CON NGƯỜI
(Xem Long Hoa Mật Tạng Kinh, Long Hoa Thiên Tạng Kinh sẽ nói rõ hơn)
LỜI TRUYỀN DẠY CỦA ĐỨC CHA TRỜI
- Kế đến là Phụng Hoàng, Khổng Tước, Kỳ Lân ở ngôi số 2,
- Kế đến là Voi, Sư Tử ở ngôi số 3
- Rồi đến Ngựa, Trâu, Hổ, Gấu, Khỉ, Chó, Mèo, v.v… (năm ngôi).
Ông hãy ban cho con cái lời nguyền Hồng Phúc đi.
NÊN ĐỨC CHA TRỜI PHÁN TRUYỀN RẰNG:
Khi ấy những dòng sữa của Đức Mẹ Địa Mẫu Âu Cơ tuông chảy ra và mọc lên hàng loạt ngũ cốc, dần dần lan ra khắp cùng mặt đất. Khi con người đi đến đâu, thì nơi đó có dòng sữa Mẹ ngũ cốc để sinh sống.
--------------------------------------------------
CHƯƠNG V
THẦN CHÚ, ẤN CHÚ CỘI NGUỒN
1 - LONG HOA VÔ NGẠI ĐẠI BI THẦN CHÚ
Đồng trì tụng
Nam Mô hắc ra đát na dạ da
Trở về Nguồn Cội kính Cha Mẹ Trời
Lợi ích không thể nghĩ bàn
Chú linh Pháp Tánh MẬT TẠNG Như Lai
NAM MÔ: vô tận hư không
Quy Y kính lễ Tổ Tiên Cha Trời
A RỊ DA học tập nghe lời
Mật tạng linh chú khắp thời ứng linh
BÀ LÔ YẾT ĐẾ: thinh thinh
Quán tâm quán tánh chiếu lên sáng ngời
Rõ thông Thiện Ác ngộ rồi
THƯỚC BÁT RA DẠ linh thời ứng linh
Tự tại an trụ tự nhiên
Chú linh ấn chú vô biên khắp cùng
BỒ ĐỀ: giác tánh cao vời
TÁT ĐỎA sáng ngời đô lại ứng đô
Cha Trời pháp tướng hư vô
Khấu đầu đảnh lễ cầu chi cũng thành
MA HA: vô tận tột cùng
Phát tâm rộng lớn đại hùng vượt lên
Hằng hà số kiếp cứu dân
Làm cho hết khổ vượt qua não phiền
TÁT ĐỎA tận độ khắp cùng
Hiệp vào tạng tánh nhiệm mầu Như Lai
MA HA: số kiếp vô biên
Nương theo đại nguyện độ dân cứu đời
CA LÔ đức độ sáng ngời
Từ bi thương cả muôn loài chúng sanh
NI CA tâm đại bi tâm
Đại hùng đại lực phá tan não phiền
DA là ân đức Cha Trời
Thành tâm đảnh lễ linh thời ứng linh
ÁN: là Đức Mẹ thiêng liêng
Âu Cơ Địa Mẫu Mẹ chung muôn loài
Mẹ Trời Đức Mẹ bao trùm
Chỉ cần một niệm thoát cùng họa tai
Linh chú tạng tánh Như Lai
Chỉ cần một niệm cũng siêu về Trời
TÁT BÀN RA: tự tại cao vời
Tánh không tự tánh não phiền biến tan
PHẠT DUỆ xưng tán hồng danh
Cha Trời Địa Mẫu ứng linh tột cùng
Chú linh không thể nghĩ bàn
Chỉ cần đọc tụng linh thời ứng linh
SỐ ĐÁT NA: pháp tánh vô biên
Thần thông vô hạn khai sanh Đất Trời
Năng lực thù thắng vô cùng
Pháp Bảo Cội Nguồn thù thắng trang nghiêm
ĐÁT TỎA Thiên Bút lời kinh
Đại Viên cảnh trí ứng linh Cha Trời
Cầu lên Tam Bảo Cội Nguồn
Ứng linh, linh ứng khắp cùng chở che
Tạng tánh linh chú Như Lai
Ứng linh cảm ứng không sai bao giờ
NAM MÔ: Tạng tánh Cha Trời
Đà la ni pháp khắp thời hư không
TẤT KIẾN thấy rõ chứng thông
Như Lai mật tánh Cha Ông Cội Nguồn
Thành tâm thành ý một lòng
LẬT ĐỎA bản ngã nhơn hiền uy linh
Y MÔNG pháp nhẫn vô sanh
Hiệp vào tạng tánh Cha Ông nhiệm mầu
Linh linh ứng ứng khắp cùng
Nhất tâm đọc tụng cầu gì cũng linh
A RỊ DA Thánh Giả vô biên
Phật, Tiên, Thánh, Chúa hiệp theo Cha Trời
Ứng linh cùng khắp Đất Trời
Ứng theo tạng tánh Cội Nguồn chuyển xoay
BÀ LÔ KIẾT ĐẾ: quán soi
Phát tâm tận độ hà sa khắp cùng
THẤT PHẬT bảy báu giác lòng
RA vào tự tại nghe nhìn viên thông
LĂNG ĐÀ hải đảo núi non
Phổ Đà nam hải Quan Âm tịnh thiền
BÀ là hiển thị uy quyền
Quan Âm đại sĩ đại từ đại bi
Chú nầy linh ứng vô biên
Chỉ cần đọc tụng tiêu tan khổ sầu
Tiêu tan tai họa ngập đầu
Tiêu tan tai họa hận thù tiêu tan
NAM MÔ: thành kính quy y
NA RA một dạ nhớ ghi thiện lành
CẨN TRÌ thương hết chúng sanh
Cứu dân độ thế đền ơn Cha Trời
Chú nầy đọc tụng một lời
Tiêu tan tội ác vạn ngàn ức muôn
HÊ RỊ: thường phải tịnh tâm
Như như vắng lặng không không bến bờ
MA HA rộng lớn vô ngần
Cát tường như ý thường hằng tánh chơn
BÀN ĐÀ là đại bao dung
SA MẾ rực rỡ hào quang sáng ngời
Chiếu cùng khắp chốn khắp nơi
Đà la ni tánh ứng thời ứng linh
TÁT BÀ: tất cả chúng sanh
Đại Đồng Bình Đẳng như nhau, Đại Đồng
A THA ĐẬU phú lạc vô bần
Cầu chi cũng được là nhờ thiện tâm
Không làm mà cũng có ăn
Là nhờ Trời đãi Trời cho phúc lành
DU BẰNG tột thế sang giàu
Trang nghiêm sự nghiệp cũng nhờ luyện tu
Tánh Trời tạng tánh Như Lai
Chú tâm trì niệm ứng linh chẳng cùng
A: là tột thế đứng đầu
THỆ DỰNG tối thắng không gì cao hơn
Cha Trời Địa Mẫu Tổ Tiên
Không gì sánh được anh linh tột cùng
Trở về Nguồn Cội, Cội Nguồn
Thành tâm lễ bái linh thời ứng linh
TÁT BÀ TÁT ĐA: căn thân
Linh Căn vô nhiễm sạch trong Bồ Đề
NA MA tạng tánh Cội Nguồn
Trinh Nguyên trong sạch không gì nhiễm ô
BÀ TÁT ĐA thể tánh như như
Không thêm không bớt linh linh nhiệm mầu
Cội Nguồn thể tánh bao trùm
Thượng vô đẳng đẳng, khắp cùng hư không
NA MA đẳng đẳng linh thông
Tối vô thượng chú khắp trong Đất Trời
BÀ TÁT GIÀ tột thế uy quyền
Thượng vô đẳng đẳng, không gì cao hơn
Đà la ni thể tánh vô biên
Tổ Tiên tạng tánh chuyển xoay tột cùng
Chỉ cần một niệm trong lòng
Chú linh ứng chú khắp cùng ứng linh
MA PHẠT: tôn kính Cha Ông
ĐẠT ĐẬU cúi lạy cầu mong Cha Trời
Cúi mong khổ nạn tiêu trừ
Bình an vạn sự, sang giàu, bình yên
Mật chú tạng tánh Tổ Tiên
Linh linh ứng ứng vô biên nhiệm mầu
ĐÁT ĐIỆT THA: Ấn Bút Cha Trời
Nghĩa văn sở vị cõi Trời Phạm Thiên
ÁN là dẫn dắt chú linh
Ứng vô lượng pháp chuyển luân khắp cùng
La ni mật tánh Cha Trời
Ứng vô lượng tánh khắp thời hư không
A BÀ: quán xét sáng soi
LÔ HÊ suy nghiệm giả chân tỏ tường
Chú nầy phá sạch mê lầm
Như Lai tạng tánh chuyển đời khổ đau
LÔ CA ĐẾ: pháp chú tối cao
Đà la ni tánh biết bao nhiệm mầu
CA RA ĐẾ: rộng nhân từ
Tánh nầy hợp với biển lòng Mẹ Cha
Giúp cho hành giả vượt qua
Vô biên tội lỗi thoát siêu về Trời
DI HÊ RỊ: thuận Cội Nguồn
Tự tâm phát nguyện phụng hành ngày đêm
BỒ ĐỀ giác Đạo quy nguyên
Trở về Nguồn Cội vượt lên trí phàm
TÁT ĐỎA dũng mãnh tu hành
Không gì ngăn được một lòng nhất tâm
Chú nầy quả thật cao thâm
Linh linh ứng ứng mong đạt thành
TÁT BÀ: Thiên Ấn Cha Trời
TÁT BÀ lợi ích cho người luyện tu
Thiên Ấn quyền năng tối cao
Ứng linh linh ứng chở che cho người
MA RA: tăng trưởng phúc lành
MA RA như ý trọn phần luyện tu
MA HÊ: cực ý vô ngôn
Dạy người đức hạnh, cũng như dạy lời
MA HÊ đức hạnh cao vời
Nhưng mà độ được vạn loài thậm thâm
Nhờ hiệp tánh đức Cha Ông
Chú linh ứng chú linh thông diệu kỳ
RỊ ĐÀ DỰNG sen nở trong lòng
Liên Hoa Hải Tạng sáng ngời trong tâm
Tánh linh vi diệu thậm thâm
Dứt trừ tai họa phá tan não phiền
Chú nầy ác nghiệp không còn
Thân cùng khẩu ý trọng phần uy linh
CU LÔ CU LÔ: nhãn tịnh thanh
Bảo Hoa Nhãn Ấn sáng soi tột cùng
Chú nầy sáng mắt sáng hồn
Thoát qua khổ nạn không còn họa tai
ĐỘ LÔ ĐỘ LÔ: độ hải cứu dân
Thoát qua bể khổ tiêu tan não phiền
Như Lai tạng tánh nhiệm mầu
Ứng linh chú pháp tột cùng ứng linh
PHẠT GIÀ RA ĐẾ chân tâm
Cội Nguồn Đại Đạo dung thông Đất Trời
Đà La Ni tánh nhiệm mầu
Như Lai tạng tánh khắp cùng siêu nhiên
Chỉ cần một niệm thành tâm
Cũng linh cũng ứng chuyển xoay tận cùng
MA HA: Ấn Chú Cội Nguồn
PHẠT GIÀ RA ĐẾ tận cùng công năng
Thù thắng đệ nhất vô biên
Hàng Ma phục Quỷ ứng linh nhiệm mầu
Pháp chú khiếp vía kinh hồn
Thiên la đại pháp khắp cùng bủa vây
ĐÀ LA: thủ ấn tối linh
ĐÀ LA cam lộ, nhành dương, tịnh bình
Rưới lên cùng khắp chúng sanh
Tiêu tan ác nghiệp tiêu tan lòng tà
Chú linh, tịnh thủy cam lồ
Hồi sanh đức tánh, nở nhành thiện căn
ĐỊA RỊ NI: chuyển hóa sanh
Làm cho ác pháp tiêu tan chẳng còn
Chú nầy thị hiện đạo tràng
Phụng hành thiện nghiệp khắp cùng ứng linh
THẤT PHẬT RA DA: phóng quang
Khai thông sáng mắt hết mê hết lầm
Pháp ấn nhã pháp soi cùng
Làm cho hết thảy không còn tối mê
Mật chú tạng tánh Như Lai
Ứng linh linh ứng không sai chút nào
GIÁ RA: mệnh lệnh Cha Trời
GIÁ RA hành động linh thời chú linh
MẠ MẠ: hiệu lệnh tuân theo
Ứng linh, linh ứng biết bao tột cùng
PHẠT MA RA chuyển luân hiện hành
Ứng linh linh ứng khắp cùng ứng linh
Đi vào cảm ứng vô biên
Đi vào hiệu lệnh chú linh Cội Nguồn
MỤC ĐẾ LỆ: Ấn Pháp Cha Trời
Gậy Rồng hiệu lệnh khắp thời tam thiên
Giải thoát phiền não đảo điên
Tiêu tan bệnh tật siêu sanh Thiên Đàng
Tánh linh mật tạng khắp cùng
Chỉ cần tụng niệm linh thời ứng linh
Y HÊ: quy thuận Tổ Tiên
Y HÊ thuận giáo tự nhiên tu trì
Tạng tánh Cội Nguồn diệu kỳ
Chỉ cần đọc tụng siêu thời thoát siêu
THẤT NA: huệ quang cao siêu
THẤT NA cảnh trí vô biên Cội Nguồn
Chỉ cần trì tụng một lời
Ngu si tan biến linh thời ứng linh
Tụng rồi thời chẳng còn quên
Tuệ quang sáng mãi vô biên tận cùng
A RA SAM: Chuyển luân độ đời
PHẬT RA XÁ LỢI sáng ngời giác thân
Hiệp cùng Tạng Tánh Cha Ông
Quyền năng tột thế dung thông tư nghì
Chú nầy vừa niệm trong lòng
Tiêu tan tội ác vạn ngàn ức muôn
PHẠT RA: Hoan hỉ mừng vui
Anh linh Đại Sĩ lừng danh lẫy lừng
Nhờ vào hiệp Cội hiệp Nguồn
Hiệp vào mật tánh Cha Trời Tổ Tiên
PHẠT SÂM thành đại anh linh
Cũng nhờ quy kính Tổ Tiên Cội Nguồn
PHẬT RA: linh tượng với Trời
XÁ DA tối thắng sáng ngời pháp vương
Linh Tượng khế hiệp pháp thân
Hiệp vào tạng tánh Cha Ông Cội Nguồn
Quyền năng vô tận vô cùng
Chuyển luân cứu khổ muôn loài chúng sanh
Cội Nguồn thành kính quy y
Thần thông tự tại vô biên độ đời
HÔ LÔ HÔ LÔ: linh ứng nhiệm mầu
MA NA như ý linh thời ứng linh
HÔ LÔ: linh ứng vô biên
HÔ LÔ pháp tánh tự nhiên ứng cùng
HÊ RỊ linh quang sáng ngời
Chú nầy đọc tụng dứt thời nạn tai
TA RA: kiên cố định tâm
TA RA thanh tịnh thậm thâm cao vời
Ngũ căn ngũ lực dâng trào
Không gì lay chuyển được thời chuyển lay
Hiện cùng tạng tánh Như Lai
Thần thông tự tại ít ai sánh bằng
TẤT RỊ: thù thắng khôn cùng
Hiệp vào tạng tánh Cha Trời uy linh
TẤT RỊ dũng mãnh uy nghi
Muôn loài tùng phục khiếp kinh muôn loài
Cát tường tưởng nghĩ Cha Trời
Ứng linh cảm ứng khắp thời ứng linh
TÔ RÔ: cam lộ trường sanh
TÔ RÔ sống dậy thiện căn bao đời
Tô rô bất tử thường còn
Sống theo Thiên Ý linh thời ứng linh
BỒ ĐỀ DẠ: giác ngộ chân tâm
BỒ ĐỀ DẠ giác hạnh viên mãn, tròn nhân quả đầy
Chú nầy trì niệm hằng ngày
Tu hành mau đến đắc thành đạo cao
BỒ ĐÀ DẠ: trực giác chân như
BỒ ĐÀ DẠ thức tỉnh quy y Cội Nguồn
Hiệp vào tạng tánh Cha Trời
Đà la ni chú ứng thời ứng linh
DI ĐẾ RỊ: vô số vô biên
Cũng không tính đếm cũng không nghĩ bàn
Nhất tâm tôn kính Cội Nguồn
Hà sa phước đức khắp cùng hà sa
NA RA: cảm ứng vô biên
CẨN TRÌ che chở khắp trong muôn loài
Cha Trời cùng với Mẹ Trời
Luôn luôn bảo bọc cho người luyện tu
Nhất là khi đã quy y
Trở về Nguồn Cội hiệp theo Ý Trời
Chú nầy linh ứng tột cùng
Chỉ cần đọc tụng họa thời tiêu tan
ĐỊA RỊ: nguyện lực vô biên
SẮC NI NA hàng phục yêu tinh quỷ thần
Hiệp vào tạng tánh Cội Nguồn
Ứng linh quyền lực khắp cùng hà sa
BÀ DẠ: lừng lẫy tánh danh
MA NA xưng tụng Tổ Tiên Cha Trời
Vô biên cảm ứng tột cùng
Nguyện chi cũng tọa vang lừng khắp nơi
TA BÀ HA: sáu nghĩa ở đời
Cát Tường, Thành Tựu, rạng ngời tánh danh
Viên Tịch đạo quả vô biên
Tiêu tan Kiếp Nạn, ác căn Tiêu Trừ
Vô Trụ, giác tánh cao vời
Chứng thành đạo quả rạng ngời Dương Quang
TẤT ĐÀ DẠ: viên mãn, mãn viên
Tựu Thành chánh quả vẻ vang oai hùng
Biện Tài Hùng Biện lẫy lừng
Lợi Tha xưng tán rạng ngời hồng danh
TA BÀ HA: như ý viên dung
Cát tường rạng rỡ tánh danh sáng ngời
Ác căn nghiệp khổ không còn
Như như vô trụ sáng bừng huệ quang
MA HA thành quả vô biên
TẤT ĐÀ DẠ: viên mãn công danh tròn đầy
TA BÀ HA: như ý cuộc đời
Công thành danh tọa cũng nhờ luyện tu
TẤT ĐÀ: thành tựu lớn lao
Cứu dân độ thế biết bao nhọc nhằn
DU NGHỆ hư không đạo tràng
Vô vi thanh tịnh thường hằng chân như
THÁT BÀ: tự tại an nhiên
RA DA thành tựu vô biên phúc lành
TA BÀ HA như ý cuộc đời
Thuận theo Thiên Ý viên thành quả viên
NA RA: lễ lạy Tổ Tiên
CẨN TRÌ ái mộ quyền năng Cha Trời
Chú linh ở tại lòng người
Thành tâm tôn kính niệm thời ứng linh
TA BÀ HA: như ý vô biên
Cũng nhờ bảo bọc chở che Cha Trời
MA RA: như ý nguyện cầu
NA RA tột đỉnh đứng đầu công danh
Chú nầy linh ứng ứng linh
Thành tâm cầu nguyện ứng nhiệm mầu
TA BÀ HA: như ý cuộc đời
Cũng nhờ công đức phản hồi chân như
Hiệp vào tạng tánh Như Lai
Đà La Ni Tánh ứng linh tột cùng
Công thành danh tọa lẫy lừng
Hiệp vào Nguồn Cội tròn đầy viên dung
TẤT RA TĂNG: thiện đức bi tâm
Chở che bảo hộ giúp muôn vạn loài
Giúp cho nhân thế con người
Làm cho tất cả sống đời bình yên
A MỤC KHƯ GIA nhớ gắng ghi
Không bỏ điều gì thông thạo độ sanh
TA BÀ HA: như ý thần thông
Vô biên trí huệ tiện phương cứu đời
Hiệp vào bản thể Cha Trời
Biện tài vô ngại không gì ngại ngăn
TA BÀ: kham nhẫn tịnh tâm
MA HA rộng lớn vô biên quả mầu
Thượng thừa đại đạo cao sâu
Vô biên vô tận không sao nghĩ bàn
A TẤT ĐÀ DẠ viên thành
Đạt thành ý nguyện lẫy lừng tánh danh
TA BÀ HA: sáng tỏa vô biên
Cũng nhờ công đức luyện tu độ đời
Hành theo Thiên Ý Cha Trời
Công thành danh tọa rạng ngời công danh
GIẢ KIẾT RA: xoay chuyển pháp luân
Kim thân sáng rực huệ quang tột cùng
A TẤT ĐÀ DẠ viên thành
Cũng nhờ công đức cứu người cứu dân
Uy lực vô tận vô biên
Làm cho Ma Quỷ kính tin, phục thuần
TA BÀ HA: viên mãn cát tường
Cũng nhờ công đức cứu đời độ dân
Đại bi tâm đại bi tâm
Anh linh tột thế siêu nhiên tột cùng
BÀ ĐÀ MA: liên hoa sáng bừng
Tánh chơn pháp tánh đại từ đại bi
YẾT TẤT ĐÀ DẠ thiên uy
Trắng hoa sen trắng tinh khôi nhiệm mầu
Sạch trong không nhiễm bụi trần
Ứng linh linh ứng khắp cùng ứng linh
TA BÀ HA: như ý viên dung
Tựu thành viên mãn nhờ công tu hành
Nương nhờ thần lực Cha Trời
Muôn điều thuận lợi không gì ngại ngăn
NA RA: Hiền Giả, Thánh, Tăng
CẨN TRÌ, Chúa, Phật, Thần, Tiên, cứu đời
Giữ gìn Ấn Chú, hộ trì
Làm cho thường trụ khắp thời thế gian
BÀN ĐÀ RA DẠ ứng linh
Khắp cùng mọi lúc mọi nơi khắp cùng
Làm cho nhân thế con người
Không còn sợ hãi, không còn lo âu
MA BÀ LỢI THẮNG: hùng bi
Vượt lên tất cả không gì ngại ngăn
YẾT RA DA sanh tánh kim cang
Đại bi vô ngại anh linh tột cùng
TÁT BÀ HA: như ý đạo tràng
Hiệp vào đức tánh Cha Trời mà ra
Tát bà ha, tát bà ha
Ứng linh, linh ứng hà sa chẳng cùng
NAM MÔ: thành kính Cội Nguồn
Pháp thân rộng lớn Cha Trời hư không
HẮC RA tam bảo Cha Ông
ĐÁT NA thuận ý Thiên Công Cha Trời
ĐÁ RA Pháp thể đại đồng
DẠ DA hội nhập Cội Nguồn dạ da
Chú nầy linh ứng hà sa
Chú tâm trì tụng vượt qua khốn cùng
NAM MÔ: vô tận Cội Nguồn
Hà sa Thánh Giả Thánh Hiền A Men
Phật, Tiên, Thánh, Chúa vô biên
Khắp cùng vũ trụ hư không Đất Trời
Chỉ cần tưởng niệm trong đầu
Cũng linh cũng ứng khắp cùng ứng linh
Nam Mô vô tận A Men
LỊ DA quy kính Tổ Tiên Cha Trời
Tôn vinh Nguồn Cội, Cội Nguồn
Thuận theo thể tánh đại đồng thuận theo
BÀ LÔ: quán sát pháp thân
Hư không pháp giới vô vi khắp cùng
KẾT ĐẾ không nhiễm bụi trần
Sạch trong giác tánh hiển phần chân như
THƯỚC BÀN: tự tại sáng soi
RA DẠ ứng khắp, cứu dân độ đời
Anh linh đại sĩ sáng ngời
Từ bi tận độ khắp thời chúng dân
Quán Âm đại sĩ Quán Âm
Chú linh ứng khắp, ứng linh tận cùng
TA BÀ HA: viên mãn cuộc đời
Vô biên công đức sáng ngời vô biên
ÁN: là chú pháp linh thiêng
Dẫn đầu linh ứng, ứng linh khắp cùng
TẤT ĐIỆN thành tựu đạo tràng
ĐÔ MẠN lãnh thổ tận cùng khắp nơi
Tam Thiên cõi nước hà sa
Thiên Đàng, Địa Phủ, Trần Gian chủ trì
ĐÀ RA pháp hội Cội Nguồn
BẠT ĐÀ: viên mãn tròn đầy đức công
DẠ DA: vô tận công năng
Ứng linh, linh ứng vô biên tận cùng
Họa to biến nhỏ lạ lùng
Họa nhỏ biến thành không lại hoàn không
Chuyển thành phước đức vô biên
Cũng nhờ linh chú, linh thiêng nhiệm mầu
TA BÀ HA: như ý tựu thành
Tròn đầy quả vị, viên thành công lao
Cầu chi cũng được ứng linh
Nguyện cầu như ý mãn viên tròn đầy
Nam Mô vô tận Cội Nguồn
A Men như ý linh thời ứng linh
Nam Mô quy kính Tổ Tiên
Cha Trời, Địa Mẫu ứng linh tột cùng
* * *
Tổ Tiên Pháp Thể Tột đứng đầu
Cội Nguồn tạng tánh thật cao sâu
La Ni mật tánh chuyên trì tụng
Linh ứng vô biên, ứng nhiệm mầu.
* * *
(gõ tiếng chuông)
Đồng lạy 3 lạy, bái 4 bái
Trì Tụng Long Hoa Đại Bi Linh Chú đến đây là hết.
Chú Đại Bi: Không phải của một vị Phật hay vị Thánh nào cả. Mà là linh chú ĐÀ LA NI PHÁP TÁNH MẬT TẠNG CỘI NGUỒN. Tổ Tiên Cha Trời. Truyền dạy cho Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Long Hoa Đại Bi Chú là linh chú khai mở trí huệ. Hàng phục yêu Ma. Tiêu trừ bách bệnh. Chuyển họa thành phước. Chuyển đổi số mạng. Thoát khỏi Địa Ngục, siêu sanh Thiên Giới. Linh chú lợi ích không bao giờ nói, không thể nghĩ bàn. Thậm thâm vi diệu vô tận. Chỉ cần trì tụng hiệu nghiệm tất thời. Niềm tin là tất cả. Vì mật tạng Đà La Ni Tánh Cội Nguồn chỗ nào cũng có. Lại khế hiệp vô số vô biên danh tánh Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, quá khứ hội nhập vào Cội Nguồn Như Lai Tạng Tánh. Nên linh ứng không thể nghĩ bàn. Hễ có tụng niệm mật tánh là có ứng linh ngay. Dù cho ở Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ, đều có sự linh ứng như nhau. ĐỨC TIN, NIỀM TIN, TỰ TIN là bí quyết đạt đến mong muốn kết quả như ý.
--------------------------------------------------
Nầy tất cả Thiện Nam nghe rõ
Với cùng là Thiện Nữ nghe đây
Muốn thành chánh quả Như Lai
Phải tường phải tận Tổ Tiên Cội Nguồn
Cần phải rõ thấu cùng Chân Tướng
Thể Cội Nguồn không cấu nhiễm ô
Cội Nguồn Thể Tướng Hư Vô
Bao trùm rộng khắp hư không tận cùng
Cần hiểu rõ Cội Nguồn Chân Tánh
Không Tánh gì mới thấy Tánh Chân
Tánh không, không Tánh Cha Ông
Khắp cùng vũ trụ linh thông Đất Trời
Cần hiểu rõ Cội Nguồn Chân Pháp
Thể giác linh cùng khắp hư không
Ý không, không ý, ý không
Như như độc lập dung thông Đại Đồng
Nào hiểu rõ Cội Nguồn Linh Giác
Không thinh hương xúc pháp mắt tai
Cũng không miệng mũi chân tay
Cũng không màu sắc thinh thinh bao trùm
Thể Linh Giác Cội Nguồn trong sạch
Tối linh thiêng không diệt không sanh
Thường hằng thanh tịnh vô vi
Không thêm không bớt như như thường còn
Nầy hiểu rõ cho tường Nguồn Cội
Thể an nhiên vô niệm như như
Còn như động niệm pháp thân
Sanh sanh hóa hóa vô biên tận cùng
Sanh ra ngũ uẩn, lục trần
Cũng như lục thức hình thành lục căn
Sanh ra mười hai nhân duyên
Hợp tan, tan hợp không sao kể cùng
Khởi sanh đủ loại chủng hình
Diệt sanh, sanh diệt tận cùng diệt sanh
Tịnh thời tất cả đều không
Động thời tất cả khởi sanh trùng trùng
Tịnh là chân pháp đại thiền
Như như vắng lặng hiệp vào Chân Như
Vô Niệm phiền não sạch không
Còn đâu vọng chấp còn đâu não phiền
Nếu không hội ngộ Cội Nguồn
Vô minh vọng chấp níu trì khởi sanh
Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức sanh sôi
Hình thành căn nghiệp ôi thôi trùng trùng
Căn Thân Ngũ Uẩn ra đời
Là do vọng chấp sanh thời khởi sanh
Ngũ Uẩn Nguồn Cội giai không
Tử sanh, sanh tử rõ thông bến bờ
Có - Không làm chủ được rồi
Tử sanh, sanh tử phản hồi tự nhiên
Không thì tất cả đều không
Có thì có cả khắp trong Đất Trời
Chúng con hội ngộ được rồi
Không còn lo sợ sanh thời tử sanh
Vô vi linh thể Cha Ông
Không hình không tướng cũng không sắc màu
Cội Nguồn trong sạch nhiệm mầu
Không hương không vị không mùi không thân
Tự nhiên không đến không đi
Bao trùm vũ trụ hư không tột cùng
Không rờ đụng thể vô hình
Không tai, mắt mũi, muôn nghìn cái không
Không thể sờ mó thấy xem
Hiển linh, linh hiển vô biên tận cùng
Cội Nguồn pháp thể Đại Đồng
Pháp thân bình đẳng khắp cùng mọi nơi
Cội Nguồn pháp thể Cha Ông
Không thêm không bớt như như bao trùm
Thế mà khởi dụng lạ lùng
Sanh sanh hóa hóa khắp cùng khắp nơi
Tạo ra sự sống vô biên
Tạo ra thế giới nhân duyên xoay vần
Từ không sang có nối liền
Lục trần, lục thức cùng là lục căn
Hình thành chứng đắc ngại ngăn
Là do phân biệt ái ưa gieo mầm
Chúng con thức tỉnh được rồi
Giai không ngũ uẩn phản hồi chân nguyên
Không còn sợ hãi tử sanh
Không còn mộng tưởng đảo điên xa lìa
Vô Minh tận diệt được rồi
Cũng không diệt hết phần nào Vô Minh
Cội Nguồn hội ngộ chân như
Ba La thần chú, thậm thâm thượng thừa
Đẳng đẳng minh chú tiêu trừ
Diệt vô lượng khổ hết còn khổ đau
Không còn thần chú nào hơn
Giải thoát tất cả sạch trơn khốn cùng
Yết đế yết đế
Ba la yết đế
Ba la tăng yết đế
Bồ đề tát bà ha
--------------------------------------------------
Khi hội ngộ Cội Nguồn
Mới giác ngộ ra rằng
Do phân biệt vọng chấp
Sắc, thọ, tưởng, hành, thức
Cấu kết hiện sanh ra
Năm uẩn Cội trống không
Giác ngộ được điều đó
Sanh tử hết lo xa
Mọi khổ đau ách nạn
Tận diệt mọi tai qua
Cội Nguồn vốn sạch không
Vô vi cùng cùng khắp
Cội Nguồn không hình tướng
Cũng không màu không sắc
Không thêm cũng không bớt
Không ý cũng không thức
Không không và sạch không
Cho nên trong cái không
Vi diệu thậm thậm thâm
Khởi sanh ra tất cả
Vọng chấp luôn thọ tưởng
Khởi sanh ra ngũ uẩn
Sáu trần và sáu căn
Sáu thức cũng như thế
Nhân duyên luôn lôi kéo
Theo định luật nhân quả
Luân hồi sanh sanh tử
Khi hội ngộ làm chủ
Không có Vô Vô Minh
Cũng không hết Vô Minh
An như và tự nhiên
Không đi vào chứng đắc
Không khởi tâm chấp trước
Cội Gốc là không không
Trở về Cội Cha Ông
Nên tâm hết chướng ngại
Nên không còn sợ hãi
Làm chủ sanh sanh tử
Động Tịnh theo tự nhiên
Cảm ứng vô vô biên
Cội Nguồn linh chú lớn
Cao tột đại linh thiêng
Không có chú nào hơn
Có thể so sánh được
Cội Nguồn vô vô tận
Diệt tiêu tan tai nạn
Diệt trừ mọi khốn khổ
Cha Trời tuyên tuyên thuyết
Linh chú qua bờ giác
Bát Nhã Mật Đa Tâm Kinh
Yết đế yết đế
Ba la yết đế
Ba la tăng yết đế
Bồ đề tát bà ha
--------------------------------------------------
Yết đế, yết đế.
Ba la tăng yết đế, ba la tăng yết đế.
Bồ đề A Men như ý tát bà ha.
* * *
Nam Mô A Men:
Đương nguyện thế nhân, quy kính Tổ Tiên. Cha Trời, Địa Mẫu. Thuận theo nghĩa cả. Thiên Ý Cha Trời. Thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.
(gõ chuông, đồng lạy)
Nam Mô A Men:
Đương nguyện thế nhân, phát vô thượng tâm, thấu suốt kinh tạng trí huệ như hải.
(gõ chuông, đồng lạy)
Nam Mô A Men:
Đương nguyện thế nhân, phát vô thượng tâm, thống lý đại chúng không gì chướng ngại.
(gõ chuông, đồng lạy)
Nguyện đem công đức nầy
Hồi hướng khắp tất cả
Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ
Hết khổ, hạnh phúc, an vui
--------------------------------------------------
3 - LONG HOA THIÊN ẤN MẬT TẠNG KIM CANG CHÚ
Nam Mô Khai Hóa Tổ Tiên
Hiện Thân Hai Đấng Cửu Huyền Tối Cao
Sanh ra nhân loại con người
Ông Bà, Cha Mẹ, đến thời chúng con
A Men.
* * *
Nam - mô - tát - đát - tha - tô - gà - đa - da - a - la - ha - đế, tam - miệu, tam - bồ - đà - tỏa, tát - đát - tha, đà - cu - tri, sắc - ni - sam, nam - mô - tát - bà - bột - dà - bột địa, tát - đa - bệ - tệ, nam - mô - tát - đa - nẩm, tam - miệu - tam - bồ - đà, cu - tri - nẩm, ta - xá - ra - bà, ca - tăng - già - nẩm, nam - mô - lô - kê, Thánh, Thần, Tiên, Phật, Chúa, nẩm, nam - mô - lô - tô - đa - ba - đa - nẩm, nam - mô - ta - yết - rị, dà - già - di - nẩm, nam - mô - Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, lô - kê - tam - miệu - dà - đa - nẩm, tam - miệu - dà - ba - ra - để - ba ra - nẩm, nam - mô - đề - bà - ly - sắc - nỏa, nam -mô - tất - đà - da, tỳ - địa - da - dà - ra - ly - sắc - nỏa, xá - ba noa - yết - ra - ha, Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, ta - ra - ta - ha, tha - nẩm - ta - ha, nam - mô - bạc - ra - ha ma - ni, nam - mô - nhơn - đà - ra - da, Thánh, Thần, Tiên, Phật, a men, nam - mô - bà - dà - bà - đế, lô - dà ra - da, ô - ma - bát - đế, ta - hê - dạ - da, nam - mô - bà - già - bà - đế, bàn - giá - ma - ha, tam - mộ - dà - ra, nam - mô - tất - yết - rị - da - da, nam - mô - bà - già - bà đế, ma - ha -ca - ra - da, địa - rị - bát - lặc - na - già - ra, tỳ - đà - ra - ba, noa - ca - ra - da, a - địa - mục - đế, thi - ma - xá - na, nê - bà - tất - nê, ma - đát - rị - già - noa, nam - mô - tất - yết - rị - đa - da, nam - mô - bà - dà - bà - đế, đa - tha - già - da - cu - ra - dạ, nam - mô bạc - đầu - cu - chi - ra - da, nam - mô - bạc - xà - cu - chi - ra - da, nam - mô - ma - ni - cu - ra - da, nam - mô già - xà - cu - ra - na, nam - mô - bà - già - bà - đế, đế - rị - trà - du - ra - tây - na, ba - ra - ha - ra - noa - ra - dà - ra, đa - tha - dà - đa - tha, nam - mô - bà - già - bà - đế, nam - mô - a - di - đa - bà - da, đa - tha - dà - đa - da, a - ha - ra - đế, tam - miệu - tam - bồ - đề - dà - da, nam - mô - bà - già - bà - đế, a - sô - bệ - đa, da - tha - dà - đa da, a - ha - ra - đế, tam - miệu - tam - bồ - đề - da, nam - mô - bà - già - bà - đế, bệ - sa - xà - da, cu - lô - phệ - trụ - rị - da, bác - ra - bà - ra - xà - da, đa - tha - dà - đa - da, nam - mô - bà - già - bà - đế, tam - bổ - sư - tỷ - đa, tát - lân - nại - ra - lặc - xà - da, đa - tha - già - đa - da, a - ha - ra - đế, tam - miệu - tam - bồ - đề - da, nam - mô - bà - già - bà - đế, xá - kê - dã - mẫu - na - duệ, đa - tha - già - đa - da, a - ra - ha - đế, tam - miệu - tam - bồ - đề - da, nam - mô - bà - già - bà - đế, lặc - đác - na - kê - đô - ra - xà - da, da - tha - dà - dà - da, a - ha - ra - đế, tam - miệu - tam - bồ - đề - da, nam - mô - tát yết - rị - đa, ế - đàm - bà - già - bà - da, tát - đát - tha, dà - đô - sắc - ni - sam, tác - đát - đa - bác - đác - lam, nam - mô - a - bà - ra - thị - đam, bác - ra - đế - dương kỳ - ra, tác - ra - bà - bột - đa - yết - ra - ha, ni - yết - ra ha, yết - ca - ra - ha, ni - bát - rị, đát - ra - da, nảnh - yết - rị, tác - ra - bà - bàn - đà, na - mục - xoa - ni, tát - ra - bà - đột - sắc - tra, đột - tất - phạt, bát - na - nể - phạt - ra - ni, giả - đô - ra - thất - đế - nẩm, yết - ra - ha ta - ha, tát - ra - nhả - xà, tỷ - đa - băng - ta, na - yết - rị, a - sắc - tra - băng - xá - đế - nẩm, na - xoa - sát - đát, ra - nhả - xà, ba - ra - tát - đà - na - yết - rị, a - sắc - tra - nẩm, ma - ra - yết - ra - nhả - xà, tỳ - đa - băng - tát - na - yết - rị, tát - bà - xá - đô - lô, nể - bà - ra - ni, tỷ - sa - xá - tất - đác - ra, a - kiết - ni - ô - dà - ca - ra - nhã - xà, a - bác - ra - thị - đa - cu - ra, ma - ha - bác - ra - chiến - trì, ma - ha - diệp - đa, ma - ha - đế - xà, ma - ha - thế - đa - ra - bà - ra, ma - ha - bạt - ra, bàn - đà - ra - bà, tất - nể, a - rị - da - dà - ra, tỳ - rị - cu - tri, thệ - bà - tỳ - xà - da, bạt - xà - ra - ma - lễ - để, tỳ - xá - lô - gia, bột - dằng - võng - ca, bạt - xà - ra - chế - hắt - na - a - giá, ma - ra - chế - bà - bác - ra - chất - đa, bạt - xà - ra - thiện - trì, tỳ - xá - ra - giá, phiến - đa - xá - bệ, đề - bà - bổ - thị - đa, tô - ma - lô - ha, ma - ha - thuế - đa, a - rị da - đa - ra, ma - ha - bà - ra - a - bác - ra, bạt - xà - ra - thương - yết - ra, chế - bà, bạc - xà - ra -cu - ma - rị, cu - lam - đà - rị, bạc - xà - ra - hắc - tát - đa - giá, tỳ - địa - gia - kiền - giá - na, ma - rị - ca, khuất - tô - mẫu - bà -yết - ra - đa - na, bệ - lô - giá - na - cu - rị - đa, dạ - ra - thố - sắc - ni - sam, tỳ - chiết - lam - bà, ma - ni - giá, bạt - xà - ra - ca - đốn - trỉ - giá, thuế - đa - giá, ca - ma - ra - sát - xa - thi - ba - ra - bà, ế -đế - di - đế - mẫu - dà - ra - yết - noa, ta - phệ - ra - sám, quật - phạm - dô, ấn - thố - na - mạ, mạ - tỏa.
Ô - hồng - rị - sắc - yết - noa, bác - lặc - xá - tất - đa, tát - đát - tha - già - đô - sắc - ni - sam, hổ - hồng - đô - lô - ung - chim - bà - na, hổ - hồng - đô - lô - ung - tất - đam bà - na, hổ - hồng - đô - lô - ung - ba - ra - sắc - địa - da, tam - bác - xóa - noa - yết - ra, hổ - hồng - đô - lô - ung - tát - bà - dược - xoa - hắc - ra - sát - ta, yết - ra - ha - nhã - xà, tỳ - đằng - băng - tát - ra - yết - na, hổ - hồng - đô - lô - ung, giả - đô - ra - thi - để - nẩm - yết - ra - ha - ta - ha - tát - ra - nẩm, tỳ - đằng - băng - tát - ra - na, hổ - hồng - đô - lô - ung - ra - xoa, bà - già - phạm - tát - đát - tha, già - đô - sắc - ni - sam, ba - ra - điểm - xà - kiết - rị, ma - ha - ta - ha - tát - ra, bột - thọ - ta - ha - tát - ra, thất - rị - sa, cu - tri - ta - ha - tát - nê - đế - lệ - a - tệ - đề thị - bà - rị - da, tra - tra - anh - ca - ma - ha bạc - xà - lô dà - ra, đế - rị - bồ - đà - na, man - trà - ra, ô - hồng - ta, tất - đế, bạc - bà - đô - mạ - mạ, ấn - thố - na - mạ - mạ - tỏa.
Ra - xà - bà - dạ, chủ - ra - bạc - dạ, a - kỳ - ni - bà - dạ, ô - dà - ca - bà - dạ, tỳ - xa - bà - dạ, xá - tất - đa - ra - bà dạ, bà - ra - chước - yết - ra - bà - dạ, đột - sắc - xoa - bà dạ, a - xá - nể - bà - dạ, a - ca - ra - mật - rị, trụ - bà - dạ, đa - ra - ni - bộ - di - kiến - ba - già - ba - đà - bà, dạ - na già - bà - dạ, tỳ - điều - đát - bà - dạ, tô - ba - ra - noa - bà - dạ, dược - xoa - yết - ra - ha, ra - xoa - tư - yết - ra ha, tất - rị - đa - yết - ra - ha, tỳ - xá - giá - yết - ra - ha, bộ - đa - yết - ra - ha, cưu - bàn - trà - yết - ra - ha, bổ - đơn - na - yết - ra - ha, ca - tra - bổ - đơn - na - yết - ra - ha, tất - kiền - độ - yết - ra - ha, a - bá - tất - ma, ra - yết ra - ha, ô - đàn - ma - đà - yết - ra - ha, xa - dạ - yết - ra ha, hê - rị - bà - đế - yết - ra - ha, xả - đa - ha - rị - nẩm, yết - bà - ha - rị - nẩm, lô - địa - ra ha - rị - nẩm, man - ta - ha - rị - nẩm, mê - dà - ha - rị - nẩm, ma - xà - ha - rị - nẩm, xà - đa - ha - rị - nữ, thị - tỷ - đa - ha - rị - nẩm, tỳ - đa - ha - rị - nẩm, bà - da - ha - rị - nẩm, a - du - giá - ha - rị - nữ, chất - da - ha - rị - nữ, đế - sam - tát - bệ - sam, tát - bà yết - ra - ha - nẩm, tỳ - dà - dạ - xà - sân - dà - dạ - di, kê - ra - dạ - di, ba - rị - bạc - ra - giả - ca - hất - rị - đởm, tỳ - dà - dạ - xà - sân, đà - dạ - di, kê - ra - dạ - di, trà - diễn - ni - hất - rị - đởm, tỳ - đà - dạ - xà - sân, đà - đạ - di, kê - ra - dạ - di, ma - ha - bát - du - bác - đát - dạ, lô - dà - ra - hất - rị - đởm, tỳ - đà - dạ - xà - sân, đà - dạ - di, kê - ra - dạ - di - na - ra - dạ - noa - hất - rị - đởm, tỳ - đà - dạ xà -sân, đà - dạ - di, kê - ra - dạ - di, đát - đỏa - già - lô - trà - tây, hất - rị - đởm, tỳ - đà - dạ - xà - sân, đà - dạ - di, kê - ra - dạ - di, ma - ha - ca - ra - ma - đát - rị - già noa - hất - rị - đởm, tỳ - đà - dạ - xà - sân, đà - dạ - di - ca - ba - rị - ca - hất - rị - đởm, tỳ - đà - dạ - xà - sân, đà - dạ di, kê - ra - dạ - di, xà - dạ - yết - ra, ma - độ - yết - ra, tát - bà - ma - tha, ta - đạt - na - hất - rị - đởm, tỳ - đà - dạ - xà - sân, đà - dạ - di, kê - ra - dạ - di, giả - đốt - ra - bà - kỳ - nễ - hất - rị - đởm, tỳ - đà - dạ - xà - sân - đà - dạ - di, kê - ra - dạ - di, tỳ - rị - dương - hất - rị - tri, nan - đà - kê - sa - ra - dà - noa - bác - đế, sách - hê - dạ - hất - rị - đởm, tỳ - đà - dạ - xà - sân - đà - dạ - di, kê - ra - dạ - di, na - yết - na - xá - ra - bà - noa - hất - rị -đởm, tỳ - đà - dạ - xà - sân - đà - dạ - di, kê - ra - dạ - di, Thánh, Thần, Tiên, Phật, hất - rị - đởm, tỳ - đà - dạ -xà - sân, đà - dạ - di, kê - ra - dạ - di, tỳ - đa - ra - già - hất - rị - đởm, tỳ - đà - dạ - xà - sân - đà - đạ - di, kê - ra - dạ - di - bạc - xà - ra - ba - nể, cu - hê - dạ - ca - địa - bát - đế - hất - rị - đởm, tỳ - đà - dạ - xà - sân - đà - dạ - di, kê - ra - dạ - di, ra - xoa - võng - bà - già - phạm, ấn - thố - na - mạ - tỏa.
Chúng con từ thuở lâu xa
Chúng con không đi không đến
Chúng con là Thiên Ấn
Chúng con là đầu lông của Cha
Ý Cha là ý Chúng Con
Cha hiện thời Chúng Con hiện
Cha không thời Chúng Con không
Cha là đấng Cha Ông
Cha là đấng Hư Không
Cha muốn cứu Cháu Con
Cha thị hiện thần thông
Cha thị hiện đầu lông
Phá tan ngục phiền não,
Phá tan tánh hư ảo
Phá tan tánh điên đảo
Phá tan chấp mê chấp
Thành chánh đẳng chánh giác,
Tự tại mãi an vui
Chúng con là Đệ Tứ, Ấn Chú uy lực vô biên
Bà - già - phạm, tát - đát - đa - tát - đát - ra, nam - mô - tý - đô - đế, a - tất - đa - na - ra - lặc - ca, ba - ra - bà - tất - phổ - tra, tỳ - ca - tát - đát - đa - bát - đế - rị, Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, Phật, Thánh, Tiên, đà - ra, Phật, Thánh, Tiên, giác - tha, đà - ra - dà - ra, tần - đà - ra, tần - đà - ra, sân - đà - sân - đà, hổ - hồng - hổ - hồng, phấn - tra, phấn - tra, phấn - tra, phấn - tra - ta - ha, hê - hê - phấn - a - mâu - ca - da - phấn, a - ba - ra - đề - ha - da - phấn, ba - ra - ba - ra - dà - phấn, a - tố - ra - tỳ - đà - ra - ba - ca - phấn, tát - bà - đề - bệ - tệ - phấn, tát - bà - na - già - tệ - phấn, tát - bà - dược - xoa - tệ - phấn, tát - bà - kiền - thát - bà - tệ - phấn, tát - bà - bổ - đơn - na - tệ - phấn, ca - tra - bổ - đơn - na - tệ - phấn, tát - bà - đột - lang - chỉ - đế - tệ - phấn, tát - bà - đột - sáp - tỷ - lê - hất - sắc - đế - lệ - phấn - tát - bà - thập - bà - lê - tệ - phấn, tát - bà - xá - ra - bà - noa - tệ - phấn, tát - bà - địa - đế - kê - tệ - phấn, tát - bà - đát - ma - đà - kệ - tệ - phấn, tát - bà - tỳ - đà - da - ra - thệ -giá, lê - tệ - phấn, xà - dạ - yết - ra - ma - độ - yết - ra, tát - bà - dạ - tha - ta - đà - kê - tệ - phấn, tỳ - địa - dạ - giá - lê - tệ - phấn, giả - đô - ra - phược - kỳ - nể - tệ - phấn, bạt - xà - ra - cu - ma - rị, tỳ - đà - dạ - ra - thệ - tệ - phấn, ma - ha - ba - ra - dinh - dương - xoa - kỳ - rị - tệ - phấn, bạt - xà - ra - thương - yết - ra - dạ, ba - ra - trượng - kỳ - ra - dà - da - phấn, ma - ha - ca - ra -dạ, ma - ha - mạt - đát - rị - ca - noa, nam - mô - ta - yết - rị - đa - dạ - phấn, tỷ - sắc - noa - tỳ - duệ - phấn, bột - ra - ha - mâu - ni - duệ - phấn, a - kỳ - ni - duệ - phấn, ma - ha - yết - rị - duệ - phấn, yết - ra - đàm - tri - duệ - phấn, miệt - đát - rị - duệ - phấn, lao - đát - rị - duệ - phấn, giá - văn - trà - duệ - phấn, yết - la - ra - đát - rị - duệ - phấn, ca - bát - rị - duệ - phấn, a - địa - mục - chất - đa - ca - thi - ma - xá - na, bà - tư - nể - duệ - phấn, diễn - kết - chất, tát - đỏa - bà - tỏa - mạ - mạ - ấn - thố - na - mạ - mạ - tỏa.
Chúng con là Thiên Ấn
Số lượng hà hà sa
Cha Trời khởi sanh ra
Nói Pháp Ấn Ấn Chú
Diệt trừ ma tâm ma
Phá tan giặc phiền não
Trở về Cội Ông Cha
Chúng Con là Đệ Ngũ
Ấn Chú nói nói ra
Đột - sắc - tra - chất - đa, a - mạt - đát - rị - chất - đa, ô - xà - ha - ra, già - bà - ha - ra, già - bà - ha - ra, lô - địa - ra - ha - ra, bà - ta - ha - ra, ma - xà - ha - ra, xà - đa - ha - ra, thi - tỷ - đa - ha - ra, bạc - lược - dạ - ha - ra, kiền - đà - ha - ra, bố - sử - ba - ha - ra, phả - ra - ha - ra, bà - tỏa - ha - ra, bác - ba - chất - đa, đột - sắc - tra - chất - đa, lao - đà - ra - chất - đa, dược - xoa - yết - ra - ha, ra - sắt - ta - yết - ra - ha, bế - lệ - đa - yết - ra - ha, tỳ - xá - giá - yết - ra - ha, bộ - đa - yết - ra - ha, cưu - bàn - trà - yết - ra - ha, tất - kiền - đà - yết - ra - ha, ô - đát - ma - đà - yết - ra - ha, xa - dạ - yết - ra - yết - ra - ha, a - bát - tát - ma - ra - yết - ra - ha, trạch - khê - cách - trà - kỳ - ni - yết - ra - ha, Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, đế - yết - ra - ha, xà - di - ca - yết - ra - ha, xá - cu - ni - yết - ra - ha, mộ - đà - ra - nan - địa, ca - yết - ra - ha, a - lam - bà - yết - ra - ha, kiền - độ - ma - ni - yết - ra - ha, mười - phương - chư - Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, thập - yên - ca - hê - ca, trị - đế - dược - ca, đát - lệ - để - dược - ca, giả - bột - thát - ca - ni - để - thập - phạt - ra, tỷ - sam - ma - thập - phạt - ra, bạc - để - ca, tỷ - để - ca, thất - lệ - sắc - mật - ca, ta - nể - bác - để - ca, tát - bà - thập - phạt - ra, thất - lô - kiết - đế, mạt - đà - bệ - đạt - lô - chế - kiếm, a - ỷ - lô - kiềm, mục - khê - lô - kiềm, yết - rị - đột - lô - kìm, yết - ra - ha - yết - lam, yết - noa - du - lam, đản - da - du - lam, hất - rị - dạ - du - lam, mạt - mạ - du - lam, bạt - rị - thất - bà - du - lam, tỷ - lật - sắc - tra - du - lam, ô - đà - ra - du - lam, yết - tri - du - lam, bạt - tất - đế - du - lam, ô - lô - du - lam, thường - già - du - lam, hắc - tất - đa - du - lam, bạt - đà - du - lam, ta - phòng - án - già - bác - ra - trượng - già - du - lam, bộ - đa - tỷ - đa - trà - trà - kỳ - ni - thập - bà - ra, đà - bột - lô - ca - kiến, đốt - lô - kiết - tri, bà - lộ - da - tỳ, tát - bát - lô - ha - lăng - già, du - sa - đát - ra, ta - na - yết - ra - tỳ - sa - dụ - ca, a - kỳ - ni - ô - đà - ca, mạt - ra - bệ - ca - kiến - đa - ra, a - ca - ra - mật - rị, đốt - đát - liểm - bộ - ca, địa - lật - lặc - ca, tỷ - rị - sắc - chất - ca, tát - bà - na - cu - ra, tứ - dẫn - già - tệ - yết - ra - rị - dược - xoa, đác - ra - sô, mạt - ra - thị - phệ, đế - sam - ta - bệ - sam, tất - đát - da - bác - đát - ra, ma - ha - bạc - xà - lô - sắc - ni - sam, ma - ha - bác - lặc - trượng - kỳ - lam, dạ - ba - đột - bà - xá - du - xà - na, biện - đát - lệ - noa, tỳ - đà - da - bàn, đàm - ca - lô - di,đế - thù - bàn - đàm - ca - lô - di, bát - ra - tỳ - đà, bàn - đàm - ca - lô - di - đát - diệt - tha, án - a - na - lệ, tỳ - xá - đề - bệ - ra - bạc - xà - ra - đà - rị, bàn - đà - bàn - đà - nể, bạt - xà - ra - bàn - ni - phấn, hổ - hồng - đô - lô - ung - phấn, ta - bà - ha.
--------------------------------------------------
Kính mời Quý độc giả đón đọc các bộ
SỬ KINH VĂN HÓA CỘI NGUỒN:
8. LONG HOA PHÁP TẠNG KINH SAU THỜI HẬU ĐẾ
10. SỬ TRUYỆN: VĂN LANG CHIẾN SỰ 1
11. SỬ TRUYỆN: VĂN LANG CHIẾN SỰ 2
12. SỬ TRUYỆN: VĂN LANG CHIẾN SỰ 3
13. LONG HOA THI TẬP LỬA THIÊN
22. VĂN HỌC NGHỊ LUẬN - 108 chuyên đề.
--------------------------------------------------

NHÂN THẬP ĐẠI CƯ SĨ
GIÁO SƯ, TIẾN SĨ CAO ĐỨC TOÀN