PHÁP ĐỘ

NGHI LỄ THỜ CÚNG
TỔ TIÊN

 (Tái bản lần 2)

VĂN HÓA CỘI NGUỒN

 

Quyển 1

---------------­­­­­­­----------------------

Trọn Bộ 2 Quyển

 

 

Nhân Thập Đại Cư sĩ,

Giáo sư, Tiến sĩ Cao Đức Toàn

-------------O-------------


 

LỜI GIỚI THIỆU

LỜI MỞ ĐẦU

A - NHỮNG ÍCH LỢI KHI THỜ TỰ ĐÚNG THEO VĂN HÓA CỘI NGUỒN

B - Ý NGHĨA CỦA CÁC NGÔI THỜ TỰ TRONG VĂN HÓA CỘI NGUỒN

1 - NGÔI SỐ 1: THỜ THIÊN ẤN

2 - NGÔI SỐ 2: THỜ CHA TRỜI, MẸ TRỜI

3 - NGÔI SỐ 3: THỜ QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG HOẶC THỜ 100 ÔNG BÀ TỔ TỔ TỔ (ĐẦU TIÊN CỦA NHÂN LOẠI CON NGƯỜI)

a) Quốc Tổ Hùng Vương

b) 100 Ông Bà Tổ Tổ Tổ

4 - NGÔI SỐ 4: THỜ ÔNG BÀ NHIỀU ĐỜI ĐẾN ÔNG BÀ CHA MẸ HIỆN TẠI

CHƯƠNG I - NHỮNG ĐIỀU CƠ BẢN VỀ THỜ TỰ TRONG VĂN HÓA CỘI NGUỒN

1 - ĐỨC KHAI HÓA TỔ TIÊN LÀ AI

2 - CHA TRỜI MẸ TRỜI LÀ AI

3 - QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG LÀ AI

4 - VÌ SAO ĐỨC LONG HOA CHA TRỜI CÒN GỌI LÀ CỬU HUYỀN THẤT TỔ

5 - HỒN THIÊNG DÂN TỘC LÀ AI

6 - THIÊN ẤN LÀ GÌ

a) Chú giải Thiên Ấn

b) Quyền năng Thiên Ấn

c) Hướng dẫn cách kích hoạt và cầu nguyện bằng Thiên Ấn

d) Lưu ý

7 - NAM MÔ A MEN NGHĨA LÀ GÌ

8 - Ý NGHĨA CỦA LẠY 4 LẠY - BÁI 4 BÁI

a) 4 LẠY

b) 4 BÁI

9 - VÌ SAO CHỈ ĐỂ MỘT LƯ HƯƠNG TRÊN BÀN THỜ

11 - Ý NGHĨA CỦA VIỆC THỜ CHIM HẠC

12 - Ý NGHĨA CỦA ĐÔNG BÌNH TÂY QUẢ

13 - Ý NGHĨA CỦA MÂM NGŨ QUẢ

14 - THỜ NỘI NGOẠI CHUNG MỘT BÀN THỜ

15 - THỜ THẦN TÀI, THỔ ĐỊA, ÔNG CÔNG, ÔNG TÁO

16 - CÓ NÊN CÚNG CÁC VỊ HÀNH KHIỂN, HÀNH BINH, PHÁN QUAN VÀO ĐÊM GIAO THỪA KHÔNG

17 - Ý NGHĨA CỦA NGÀY TẾT NGUYÊN ĐÁN TRONG VĂN HÓA CỘI NGUỒN

18 - NHỮNG NGÀY LỄ TRONG VĂN HÓA CỘI NGUỒN

MÙNG MỘT TẾT

NGÀY RẰM TỨC LÀ NGÀY 15 GIỮA THÁNG

NGÀY MÙNG 5 THÁNG 5

CHƯƠNG II - LONG HOA LƯỢC TRUYỆN SỐ 36: BÍ MẬT PHƠI BÀY KHÓ CHE MẮT THÁNH

CHƯƠNG III - THIÊN ĐÀNG, TRẦN GIAN VÀ ĐỊA PHỦ

1 - ĐỊA NGỤC

2 - TRẦN GIAN

3 - THIÊN ĐÀNG

1) Thượng Thiên vũ trụ

2) Trung Thiên vũ trụ

3) Hạ Thiên vũ trụ

4) Hạ Hạ Thiên vũ trụ

CHƯƠNG IV - NHÂN NGHĨA LỄ TRÍ TÍN TRONG VĂN HÓA CỘI NGUỒN

1 - Ý NGHĨA CỦA NHÂN NGHĨA LỄ TRÍ TÍN

2 - NHÂN ĐẠO CÁI GỐC TẤT CẢ CÁC ĐẠO

CHƯƠNG V - LONG HOA LƯỢC TRUYỆN SỐ 78: LINH VỊ THỜ TRỜI

CHƯƠNG VI - HỎI ĐÁP VỚI THẦY NHÂN THẬP ĐẠI CƯ SĨ TRONG LỚP HỌC VĂN HÓA CỘI NGUỒN

1 - CÂU HỎI SỐ 1

2 - CÂU HỎI SỐ 2

3 - CÂU HỎI SỐ 3

4 - CÂU HỎI SỐ 4

5 - CÂU HỎI SỐ 5

6 - CÂU HỎI SỐ 6

7 - CÂU HỎI SỐ 7

8 - CÂU HỎI SỐ 8

9 - CÂU HỎI SỐ 9

 


 

LỜI GIỚI THIỆU

“Dù ai đi ngược về xuôi

 Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng 10 tháng 3.”

Câu nói ấy luôn nhắc nhở người con Việt Nam rằng: tất cả chúng ta cùng chung một Cội, một Nguồn, chung cùng một ông Tổ, nên phải biết tưởng nhớ, hiếu kính tới Người đã gây dựng nên non sông đất nước, đó chính là Quốc Tổ Hùng Vương. Vì chung Nguồn Cội, chung Quốc Tổ nên chúng ta cần yêu thương và đoàn kết với nhau, cùng nhau hướng về Ngày Lễ Lớn của Dân Tộc. Đất nước Việt Nam có hơn 5000 năm Văn Hiến và biết bao lịch sử hào hùng của dân tộc. Người Viêt Nam mang trong mình dòng máu Lạc Hồng, con Rồng cháu Tiên. Ông Tổ của dòng máu ấy không ai khác chính là Đức Quốc Tổ Vua Hùng, sinh ngày 20 tháng 02 năm Giáp Thìn, tức là năm 2989 trước Công Nguyên, theo niên lịch Kinh Nam (lịch dùng từ thời Viêm Đế Thần Nông, ngày nay chính là âm lịch). Quốc Tổ về trời vào ngày mùng 10 tháng 3 năm Ất Mùi, tức là vào năm 2877 trước Công Nguyên.

Quốc Tổ Anh Linh khó nghĩ bàn

Xuống trần khai Đạo cứu thế gian

Nay con thành kính xưng danh tụng

Phổ hóa lời kinh Quốc Đạo Tràng

Trước ảnh tượng Tiên Rồng soi sáng

Lạc Long Quân cùng với Âu Cơ

Cha Trời Địa Mẫu Tối Cao

Uy linh tột đỉnh trùm bao uy quyền

Với lòng dạ chí thành cung kính

Xin Trời Cha chứng giám công lao

Thành tâm lễ bái công ơn

Sanh thành dưỡng dục tạo lên muôn loài

Ngày đại lễ vang lừng Giỗ Tổ

Khắp cháu con hoa quả dâng lên

Một lòng nhớ đến công ơn

Khai cơ dựng nước dựng lên sơn hà

Ơn Quốc Tổ không gì sánh được

Truyền chân kinh tận độ chúng dân

Lập lên đất nước Văn Lang

Văn Minh hùng mạnh thế gian ai bì

Ơn Quốc Tổ thấm nhuần con cháu

Năm nghìn năm Văn Hiến vinh quang

Văn Lang Bách Việt chúng dân

Đời đời ghi nhớ công ơn của Người.

Tôi (Nhân Thập đại cư sĩ, Tiến sĩ Cao Đức Toàn) là người Việt nên rất yêu mến Cội Nguồn của người Việt. Tôi thường nghe thầy tôi là Đức Hư Không Tạng Diệu Không kể lại rất nhiều lịch sử, nhưng đáng chú ý nhất đó là lịch sử Tiên Rồng.

Thầy tôi kể, lịch sử Tiên Rồng là một lịch sử có thật, lịch sử tốt đẹp nhất của dân tộc Việt Nam. Đã trải qua hàng nghàn năm Văn Hiến do các Vua Hùng tôn thờ truyền lại. Thầy tôi nói, Quốc Tổ Hùng Vương là Đấng Chí Tôn Thiên Đế lâm phàm, đã để lại cho con cháu Việt Nam hai di sản quí hiếm.

1 - Non Sông Đất Nước, Địa Long Vũ Trụ - chiếc nôi sanh ra nhân loại con người.

2 - Văn Hóa Cội Nguồn nền Văn Hiến Quốc Đạo Tiên Rồng hay chính là Đại Đạo tối cao vũ trụ.

Thầy tôi là một người làm nông sớm tối, tuy chưa đọc qua bất cứ quyển sách nào, nhưng lại nói rõ ràng cho tôi nghe suốt hơn 10 năm về mọi chuyện trong quá khứ của Dân Tộc và tương lai của tôi. Thầy tôi bảo sau này con lớn sẽ du học qua các nền văn minh của thế giới. Con sẽ trải nghiệm và kiểm chứng tất cả những gì Thầy nói.

Suốt gần 20 năm, tôi may mắn đã đạt được một số thành tựu ở nước ngoài như những gì ngày xưa Thầy tôi tiên đoán. Trên chặng đường du học, làm việc tại Châu Âu và Mỹ, tôi tận dụng thời gian rảnh rỗi để đi tìm hiểu về các nền Văn Hóa Phương Đông và Văn Hóa Phương Tây với mục đích là để kiểm nghiệm những lý tính trong Văn Hóa Cội Nguồn do Thầy tôi truyền lại và áp dụng những lý tính đó vào đời sống xã hội để giúp ích cho đời. Mục đích chính là để minh chứng cho nét đẹp văn hóa, tinh hoa trong Văn Hóa Cội Nguồn nói chung và trong Lễ Nghi Thờ Cúng Tổ Tiên của Bách Việt Văn Lang nói riêng.

Sách này không liên quan đến các tôn giáo như: Phật giáo, Lão giáo, Chúa giáo, v.v… Mà nó chính là lời của Thầy tôi kết hợp với sự trải nghiệm và nghiên cứu của chính tôi. Tôi cho ra đời quyển sách để giúp bạn đọc xa gần, trong nước cũng như ngoài nước Việt Nam, ở tất cả các tôn giáo khác nhau, hiểu đầy đủ và đúng đắn nhất về ý nghĩa, lợi ích và lịch sử của Nghi Lễ Thờ Cúng Tổ Tiên. Nhờ đó mà có phương tiện để tích thêm phúc đức cho bản thân, gia đình, dòng họ và phân biệt được đâu là những hiện tượng “tâm linh mê tín” thậm chí đã tồn tại trong dân gian hàng trăm năm nay cần phải loại bỏ. Mặt khác, nội dung cuốn sách nói lên Hiếu Đạo làm người của người Việt như:

“Uống nước nhớ Nguồn”

“Ăn quả nhớ kẻ trông cây”

Hay: “Con chim có Tổ con người có Tông”

Tôi hi vọng, sau khi đọc xong quyển sách này, Quý độc giả sẽ thêm yêu Nguồn Cội và hiểu thêm về những nét đẹp, truyền thống văn hóa anh linh của Dân Tộc.

 

Kính mến!

NHÂN THẬP ĐẠI CƯ SĨ,

GIÁO SƯ, TIẾN SĨ CAO ĐỨC TOÀN

--------------------------------------------------

LỜI MỞ ĐẦU

Lễ nghi thành kính đức nghiêm trang

Hiếu Đạo phụng thờ ơn Trời Đất

Thờ Trời, Thờ Tổ, Thờ Tiên

Trời cho, Trời đãi, khỏi lo khốn cùng

Thờ truyền thống dậy hào hùng

Ngoại xâm khiếp vía hết còn xâm lăng

Vua Hùng Quốc Tổ đừng quên

Làm cho vận nước càng thêm sang giàu

Lòng thành kính yêu Non yêu Nước

Yêu Cội Nguồn truyền thống Cha Ông

Yêu Hồn Thiêng, yêu cả muôn dân

Lo gì chẳng được Thánh Thần giúp cho.

*     *     *

Sự tôn kính thờ phụng TỔ TIÊN, thờ TRỜI, thờ ÔNG BÀ, CHA MẸ, là sự tôn thờ chính đáng, tôn thờ có văn hóa, thể hiện lòng trung hiếu, đầy chính nghĩa, và cũng đầy đức tính đạo đức nhân bản, nhân văn của người dân Đại Việt con cháu Tiên Rồng.

Nói đến tội, thời tội Bất Hiếu là tội đứng đầu. Phạm tội Bất Hiếu, phần nhiều đều bị sa đọa xuống các tầng Địa Phủ. Người nào giữ được Hiếu Thuận đối với Ông Bà, Cha Mẹ thì coi như tu hành rồi.

Tu đâu cho bằng tu nhà

Thờ Cha kính Mẹ chính là chân tu.

Lại biết tôn thờ Ba Ngôi Tối Cao Vũ Trụ (Tổ Tiên Khai Hóa, Cha Trời, Địa Mẫu), hết lòng phụng dưỡng Ông Bà, Cha Mẹ, thì coi như không còn sa đọa xuống các tầng Địa Phủ. Nếu biết hướng thiện làm lành, khi mạng chung thì liền được siêu sanh về Non Tiên Cực Lạc, hay siêu sanh lên các tầng Trời hưởng phước.

*     *     *

Hỏi: Vì sao Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Đạo vũ trụ là Đạo của Vua thờ, còn dân không được thờ?

Đáp: Đó là cách đây hơn mấy nghìn năm thời Hùng Vương. Còn thời này thì dân có quyền được thờ. Văn Hóa Cội Nguồn là Đại Đạo Tối Cao vũ trụ, Đạo Luật công bằng xã hội, cán công công lý dùng để Trị Quốc, cứu dân độ thế, cái Đạo của Vua thờ. Thế Thiên hành Đạo, Hành theo Đạo Luật vũ trụ.

*     *     *

A - NHỮNG ÍCH LỢI KHI THỜ TỰ ĐÚNG THEO VĂN HÓA CỘI NGUỒN

Thờ tự là một điều tối linh thiêng trong Văn Hóa Cội Nguồn, khó có người nào hiểu được mà tôn giáo cũng khó có thể vượt qua được. Nó là một trong những Pháp Ấn để mà độ người, độ hàng loạt gia đình.

Thờ tự trong Văn Hóa Cội Nguồn chính là một linh bùa tối linh giúp cho:

+ Gia đình thịnh vượng

+ Khí vận gia đình, quốc gia được giữ vững

+ Làm cho linh khí và âm đức nhiều đời nhiều kiếp của Ông Bà Tiên Tổ hội tụ vào gia đình của mình, khiến cho gia đình cường thịnh về sau, con cháu phát quang, tránh được nhiều họa tai.

+ Cho dù người khác có ếm yểm mảnh đất đó đi chăng nữa, nhưng nhờ khí vận đó mà tạo ra khiên đỡ, làm cho đức năng thắng số, bảo vệ cho toàn bộ gia đình.

+ Nhờ sự tối linh đó mà củng cố đức tin cho những người theo Văn Hóa Cội Nguồn, giúp cho họ tinh tấn và trụ yên nơi Cội Nguồn mà hành đạo.

+ Giúp cho con người hoàn thành được nhân đạo của mình mà tu hành tiến hóa lên ngôi Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.

Thờ tự trong Văn Hóa Cội Nguồn chính là một dạng của Kinh Dịch Phong Thủy của Đạo Trời, sử dụng đức năng hội tụ mà thắng số mệnh. Nghĩa là sử dụng đức năng của Trời Đất, Tổ Tiên, Ông Bà, Cha Mẹ giúp giữ vững linh mạng cho gia đình. Người mà đạt tới phong thủy tối thượng là người biết sắp xếp Kinh Dịch theo đúng chu kỳ của Tạo Hóa trước, rồi sau đó mới áp dụng vận mệnh của mình vào bên trong thì người đó mới có thể vận dụng Kinh Dịch như ý được. Thờ tự cũng vậy. Thờ mà không hiểu hết ý nghĩa của nó thì lúc sáng, lúc không. Người mà sắp xếp thứ tự các ngôi thứ trật đi, thờ tự sai thì không được như ý, vẫn đi vào chỗ bế tắc, không hội tụ được linh khí. Nếu các vị không hiểu và làm sai về thờ tự thì không bao giờ đạt được sự linh ứng như ý. Cái gì đúng thì mới được như ý, cái không đúng thì không bao giờ như ý. Cũng giống như con người đi ngược lại với lương tâm dù có niệm Nam Mô A Men thì cũng mất đi chữ A Men, khó mà được như ý, không cách gì mà viên mãn như ý được.

Trong thờ tự, ngày giờ để khai mở ấn chú cũng rất quan trọng. Nên chọn ngày tốt, hợp với cung mạng của người khai mở ấn chú thờ tự, thì mới tốt.

Nói tóm lại, Thờ Tự trong Văn Hóa Cội Nguồn là một kinh dịch tối thượng dựa vào nguyên lý của sự trường tồn bất diệt của Linh Giác Vũ Trụ (Khai Hóa Tổ Tiên) hay của chính Chân Tâm, Chân Tánh. Nên Thờ Tự trong Văn Hóa Cội Nguồn là tối đại linh thiêng và phước đức vô tận không thể nghĩ bàn.

--------------------------------------------------

B - Ý NGHĨA CỦA CÁC NGÔI THỜ TỰ TRONG VĂN HÓA CỘI NGUỒN

Ngôi số 1: Thờ Thiên Ấn

Dưỡng Nuôi, Bảo Vệ, Hội Tụ, Kết Nối, Liên Thông, Linh Ứng, Cơ Cảm, Quyền năng, Thần Thông

Ngôi số 2: Thờ Cha Trời, Mẹ Trời

Tận Độ và Phước Báo 1,

Ghi Ơn, Đáp Nghĩa, Hiếu Kính và Báo Hiếu

 

Ngôi số 3: Thờ Quốc Tổ hoặc Thờ 100 Ông Bà Tổ Tổ Tổ

Tận Độ và Phước Báo 2

Ghi Ơn, Đáp Nghĩa, Hiếu Kính và Báo Hiếu

Ngôi số 4: Thờ Ông Bà nhiều đời đến Ông Bà Cha Mẹ hiện tại.

Ghi Ơn, Đáp Nghĩa, Hiếu Kính và Báo Hiếu

=> THỜ ÔNG BÀ NHIỀU ĐỜI ĐẾN Ông bà CHA MẸ HIỆN TẠI

1 - NGÔI SỐ 1: THỜ THIÊN ẤN

Mang ý nghĩa dưỡng nuôi bảo vệ gia đình, hội tụ linh khí, kết nối các linh địa xung quanh nhà, liên thông cơ cảm với Trời Đất, mà dẫn tới linh ứng, quyền năng và thần thông. Khi các vị để hình thờ tự có Thiên Ấn chính là nhịp đập sự sống, trái tim của gia đình mình đều do Thiên Ấn che chở.

Nhờ Thiên Ấn này hút linh khí của vũ trụ và dưỡng nuôi âm đức của gia đình, xã hội và đất nước v.v.... mà tạo ra phước đức vô tận, khiến cho gia đình, xã hội và đất nước luôn luôn thịnh vượng và phát triển đi lên, con cháu luôn thuận hòa và xã hội đất nước bình an.

2 - NGÔI SỐ 2: THỜ CHA TRỜI, MẸ TRỜI

Mang ý nghĩa tận độ, phước báu số một. Trên đời này không ai có phước đức hơn được Cha Trời, Mẹ Trời. Chỉ có Cha Trời mới tận độ được tất cả nhân loại con người. Chỉ có Mẹ Trời mới dưỡng nuôi được tất cả vạn vật muôn loài sự sống.

Ở cõi Âm Phủ, một người chỉ cần tưởng nghĩ tới Trời thì liền siêu thoát khỏi Âm Phủ, cho dù đang ở bất cứ tầng Địa Phủ nào đều được siêu thoát. Mục Kiền Liên muốn cứu mẹ phải nhờ công đức của mười phương chư Phật, mà mười phương chư Phật chỉ là một phần nhỏ của Trời. Nên phước đức của Trời lớn vô tận vô biên mà không vị Phật nào có phước đức lớn hơn. Đức Phật cũng chưa bao giờ dưỡng nuôi hết muôn loài vạn vật, hay cây cỏ. Như các vị thấy đó, các Ngài vẫn còn ăn chay, chứ đâu có dưỡng nuôi cây cỏ. Không có vị Phật hay Bồ Tát nào có phước đức hơn được Cha Trời, Mẹ Trời, dù cho đó là vị Tổng Đà La Ni đi chăng nữa. Cha Trời và Mẹ Trời, một người là chủ của linh hồn, một người là chủ của vật chất, đều dưỡng nuôi hết tất cả. Chỉ có Trời mới có thể tận độ tất cả linh căn linh hồn, dưỡng nuôi sự sống muôn loài vạn vật, dưỡng nuôi hết tất cả. Nên phước đức của Trời không ai có thể hơn được nữa, không thể nghĩ bàn, tính đếm được. Cho nên khi các vị thờ Trời trong gia đình mình nghĩa là các vị đi vào tận độ, phước báu số một. Con người mà biết thờ Cha Trời Mẹ Trời là người biết ghi ơn, đáp nghĩa, hiếu kính và báo hiếu. Có nghĩa là người đó lần lần đạt tới đại hiếu như Mục Kiền Liên hay các vị Phật tổ, Thánh tổ, Tiên tổ, Chúa tổ, Thần tổ. Cho nên khó có người hiểu được thờ tự trong Văn Hóa Cội Nguồn. Những người thờ tự theo Văn Hóa Cội Nguồn được Thầy hướng dẫn chính thức, họ đều hiểu được mật độ tâm linh lớn mà họ có đức tin và nhận phước báu lớn trong tương lai. Các vị ở cõi Trời Trung Thiên Giới trên đầu đều tôn thờ hai ngôi này, đó là đấng Tổ Tiên Khai Hóa và Cha Trời, Mẹ Trời. Những ai không hiểu được những điều nói trên mà mang tâm coi thường hay sanh tâm bất kính, thì họa tai khó tránh và lần lần mất trí.

 

3 - NGÔI SỐ 3: THỜ QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG HOẶC THỜ 100 ÔNG BÀ TỔ TỔ TỔ (ĐẦU TIÊN CỦA NHÂN LOẠI CON NGƯỜI)

a) Quốc Tổ Hùng Vương

 Là anh cả trong một trăm con Trời năm màu da anh em, là Đấng Chí Tôn, người thay thế Cha Trời, Mẹ Trời tổng trì Đà La Ni Tạng Tánh của Vũ Trụ trong năm tiểu Kiếp của cơ Tận Độ (kéo dài 84 triệu năm). Cho nên Quốc Tổ đứng vào ngôi tận độ, phước báu số hai. Phước báu của Quốc Tổ lớn khủng khiếp. Hạnh bố thí của Ngài là phân tâm mình mà cấy vào trong tâm thiên hạ của toàn thể năm màu da anh em trong toàn vũ trụ từ cách đây 75 triệu 600 ngàn năm khi Quốc Tổ dẫn con cháu về Trời. Có nghĩa Ngài đã tu hạnh bố thí từ thời đó, mà gieo hạt giống tâm Đà La Ni trong tâm mọi người. Còn cách đây 5 ngàn năm, Quốc Tổ đã gieo năm hạt giống (Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa) vào tâm của Bách Tộc Văn Lang ở Vườn Cấm nước Xích Quỷ, và thường thuyết giáo trong những ngày quan trọng của tuần, của tháng, và của năm ở Đền Hùng, Phú Thọ. Người thờ Quốc Tổ là người biết ghi ơn, biết đáp nghĩa, hiếu kính và báo hiếu, để rồi tâm linh của họ lần lần đạt tới đạo hạnh của một bậc đại hiếu vũ trụ. Đại hiếu của vũ trụ là một trong 8 muôn 4 ngàn Đà La Ni tạng tánh. Những con người đạt tới đại hiếu là những người trở thành những vị Phật lớn trong vũ trụ này.

Đối với người Việt, những người mang dòng máu đỏ da vàng, thuộc giống dân Hồng Ngọc thờ tự như vậy là chính xác. Ông Tổ của người Việt máu đỏ da vàng chính là Quốc Tổ Hùng Vương. “Quốc Tổ” mà đảo ngược lại từ, chính là “Tổ Quốc”. Cho nên tổ quốc non sông chính là Quốc Tổ Hùng Vương khai mở. Trên thế giới, không nước nào có Quốc Tổ đâu. Chỉ có nước Việt mới có Quốc Tổ thôi. Đó là điều tối thượng của vũ trụ dành cho dân tộc Việt.

b) 100 Ông Bà Tổ Tổ Tổ

 Là phụ thân, phụ mẫu đầu tiên của nhân loại 5 màu da anh em, cũng là những người Thầy nối tiếp Cha Trời và Mẹ Trời đầu tiên dìu dắt cháu con hội nhập Cội Nguồn tiếp theo. 100 Ông Bà Tổ Tổ Tổ thay thế Cha Trời, Mẹ Trời luôn Dưỡng Nuôi, Duy Trì, Bảo Vệ, Hội Tụ, Kết Nối, Liên Thông, Linh Ứng, Cơ Cảm, Quyền năng, Thần thông, Vận Hành, v.v. trong khắp cùng vũ trụ để giúp những linh hồn mê muội trở về Cội Nguồn. Một trăm người con của Đức Cha Trời LẠC LONG QUÂN và Địa Mẫu ÂU CƠ hiện đang làm Phật Tổ, Thánh Tổ, Tiên Chúa, Mẫu Hoàng, Phật Mẫu, Tiên Mẫu, Thánh Mẫu cai quản khắp tầng trời, Tam Thiên Đại Thiên Vũ Trụ. Làm con người phải biết Ghi Ơn, Đáp Nghĩa, Hiếu Kính và Báo Hiếu với 100 Ông Bà Tổ Tổ Tổ này.

Trong thờ tự, nếu quý vị thờ thêm những Ông Bà Tổ Tổ Tổ trong 100 người con Trời, nên để ảnh Quốc Tổ ở vị trí chính giữa, ảnh các Ngài để 2 bên, cạnh Quốc Tổ Hùng Vương, như vậy mới đúng theo nguyên lý của kinh dịch.

100 Ông Bà Tiên Tổ thường có bốn tên gọi:

+ Hiện danh (thay đổi tùy vào thời kỳ mà các Ngài độ sanh). Ví dụ: Quốc Tổ Hùng Vương, Phật A Di Đà, Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, Chúa Giêsu, Thầy Nhân Thập…

+ Pháp danh: mỗi danh tánh của các vị Tổ Tổ Tổ đều khế hiệp Như Lai Tạng Tánh Khai Hóa Tổ Tiên, Như Lai Tạng Tánh Thanh Tịnh Hư Không Vũ Trụ, Hiến Tạng, Mật Tạng Vũ Trụ. (xem Long Hoa Thiên Tạng Kinh để hiểu rõ hơn).

+ Mật danh (ẩn danh): Ví dụ mật danh của Quốc Tổ Hùng Vương là “A Di Đa”, mật danh của Đức Liên Hoa Giáo Chủ là “A Lại Da’’… Mật danh của 100 vị Con Trời đều bắt đầu bằng chữ “A”.

+ Tên gọi theo pháp độ chân tâm. Ví dụ Quốc Tổ Hùng Vương là “Hư Không Tạng”.

PHÁP DANH 100 VỊ CON TRỜI, ÔNG BÀ TỔ TỔ TỔ

STT

DA VÀNG

DA TRẮNG

DA ĐEN

DA CHÀM

DA ĐỎ

1

VÔ TÁNH
LÃO TỔ TỔ TỔ

VIÊN ĐỐN ĐẠI NGỘ
PHẬT PHẬT TỔ

VÔ TƯỞNG CỨU CÁNH
TỔ TỔ TỔ

HẠNH HẢI PHỔ HIỀN
TỔ TỔ

ĐẠI QUANG
LÃO TỔ TỔ TỔ

2

VÔ TƯỚNG
TIÊN TIÊN TỔ

QUANG MINH ĐẠI QUANG
THÁNH THÁNH TỔ

VÔ SANH VÔ DIỆT
THÁNH THÁNH TỔ

ĐỐN NGỘ
PHẬT PHẬT TỔ

NHIÊN ĐĂNG
PHẬT PHẬT TỔ

3

VÔ VÔ BIÊN
TỔ TỔ TỔ

QUẢ ĐỨC ĐẠI HẠNH VIÊN DUNG
TIÊN TIÊN TỔ

VÔ LƯỢNG QUANG
PHẬT PHẬT TỔ

ĐẤU CHIẾN THẮNG
PHẬT TỔ TỔ

TRÍ QUANG
TIÊN TIÊN TỔ

4

QUANG ÂM PHỔ ĐÀ
TỔ TỔ TỔ

MINH TÂM ĐẠI HUỆ
PHẬT PHẬT TỔ

HƯ KHÔNG VÔ VI
PHẬT PHẬT TỔ

VIÊN GIÁC PHẬT ĐÀ
TỔ TỔ TỔ

VÔ VI ĐẠO
ĐẠO TỔ

5

PHÁP TẠNG NGUYỆN LỰC
TỔ TỔ TỔ

THƯỜNG TRỤ CHÂN NHƯ
TIÊN TIÊN TỔ

VÔ NIỆM KHÔNG KHÔNG
TIÊN TIÊN TỔ

BỔN GIÁC THIÊN LINH
THÁNH THÁNH TỔ

TỊCH DIỆT
TIÊN TIÊN TỔ

6

PHỔ ĐỨC ĐẠI LINH
TỔ TỔ TỔ

TỰ TẠI ĐẠI ĐỊNH
PHẬT PHẬT TỔ

VÔ TRÍ TỊNH KHÔNG
TIÊN TIÊN TỔ

TRÍ MINH ĐẠI QUANG
PHẬT PHẬT TỔ

PHÁP VÂN
PHẬT PHẬT TỔ

7

PHỔ MINH THANH TỊNH
PHẬT PHẬT TỔ

TRÍ KHÔNG ĐẠI TRÍ
THÁNH THÁNH TỔ

VÔ THỈ VÔ CHUNG
PHẬT PHẬT TỔ

DIỆT TẬN ĐỊNH KHÔNG KHÔNG
TIÊN TIÊN TỔ

VÔ TƯỞNG
THÁNH THÁNH TỔ

8

PHỔ QUANG AN ĐỊNH
THÁNH THÁNH TỔ

GIÁC KHÔNG ĐẠI GIÁC
LÃO LÃO TỔ

DIỆT TẬN ĐỊNH
THÁNH THÁNH TỔ

PHÁP KHÔNG KHÔNG PHÁP THƯỜNG TRỤ
TỔ TỔ TỔ

DIỆT TẬN ĐỊNH
TỔ TỔ TỔ

9

CHỦNG TRÍ ĐẠI HUỆ
TỔ TỔ TỔ

ĐẲNG GIÁC KIM QUANG
TIÊN TIÊN TỔ

VÔ VÔ THỨC ĐẠI ĐỊNH
TỔ TỔ TỔ

TÁNH KHÔNG KHÔNG TÁNH AN LẠC
TỔ TỔ TỔ

NĂNG BIẾN SỞ BIẾN
TỔ TỔ TỔ

10

KIM CANG ĐẠI QUANG
PHẬT PHẬT TỔ

VIÊN MINH GIÁC TRÍ
TIÊN TIÊN TỔ

SẮC KHÔNG VÔ VI
PHẬT PHẬT TỔ

TƯỚNG KHÔNG KHÔNG TƯỚNG VÔ BIÊN
TIÊN TIÊN TỔ

DUYÊN DIỆT
TỔ TỔ TỔ

11

DIỆU QUANG PHỔ HÒA
TIÊN TIÊN TỔ

CỨU CÁNH ĐẠI GIÁC
THÁNH THÁNH TỔ

VÔ CHỨNG VÔ ĐẮC
PHẬT PHẬT TỔ

TỊNH KHÔNG
THÁNH THÁNH TỔ

VÔ GIỚI
TIÊN TIÊN TỔ

12

NHƯ NHƯ ĐẠI ĐỊNH
PHẬT PHẬT TỔ

DIỆU PHÁP PHỔ VĂN
PHẬT PHẬT TỔ

VIÊN GIÁC KHÔNG KHÔNG
TIÊN TIÊN TỔ

VÔ TƯỚNG KHÔNG KHÔNG
PHẬT PHẬT TỔ

HIỂN LINH
GIÁO GIÁO TỔ

13

VÔ NHIỄM MINH TÂM
THÁNH THÁNH TỔ

DIỆU CHÂN TỊNH ĐỘ
PHẬT PHẬT TỔ

LẮNG YÊN THANH TỊNH
TỔ TỔ TỔ

VÔ THỨC KHÔNG KHÔNG
THÁNH THÁNH TỔ

CHÂN NGUYÊN
LÃO LÃO TỔ

14

KIẾN TÁNH NHƯ LAI
PHẬT PHẬT TỔ

TRÍ NGỘ TỊNH AN
THÁNH THÁNH TỔ

NHẤT NIỆM KHÔNG KHÔNG
TỔ TỔ TỔ

NHƯ NHƯ ĐẠI ĐỊNH
TỔ TỔ TỔ

HUỆ QUANG
THÁNH THÁNH TỔ

15

VÔ NGẠI ĐẠI BI
PHẬT PHẬT TỔ

VÔ LƯỢNG ĐẠI NGHĨA ĐÀ LA NI
PHẬT PHẬT TỔ

TỰ TÁNH THANH TỊNH
THÁNH THÁNH TỔ

KIM CANG ĐẠI NGUYỆN
PHẬT PHẬT TỔ

TRÍ ĐỘ
TIÊN TIÊN TỔ

16

PHÁ TƯỚNG KHÔNG KHÔNG
THÁNH THÁNH TỔ

HIỂN TÁNH ĐẠI LINH
TIÊN TIÊN TỔ

VÔ NGẠI ĐẠI TRÍ
TIÊN TIÊN TỔ

BỔN GIÁC THẬT TƯỚNG
TỔ TỔ TỔ

VIÊN ĐỊNH
PHẬT PHẬT TỔ

17

VÔ VÔ VI
PHẬT TỔ TỔ TỔ

ĐẠI LỰC KIM CANG
LÃO LÃO TỔ

KHÔNG VÔ BIÊN
LÃO TỔ TỔ TỔ

ỨNG HÓA VÔ BIÊN
TIÊN TIÊN TỔ

GIÁC QUANG ĐẠI NGỘ
PHẬT PHẬT TỔ

18

VIÊN GIÁC
PHẬT PHẬT TỔ

QUANG MINH ĐẠI QUANG
TIÊN TIÊN TỔ

VÔ LƯỢNG THỌ QUANG
PHẬT PHẬT TỔ

VÔ CHẤP TRỰC HIỀN
THÁNH THÁNH TỔ

ĐỐN NGỘ
THÁNH THÁNH TỔ

19

THIÊN TẠNG
TIÊN TIÊN TỔ

GIÁC KHÔNG CHÁNH GIÁC
THÁNH THÁNH TỔ

TỈNH LẶNG BẤT ĐỘNG
TỔ TỔ TỔ

THỈ GIÁC CHÂN NHƯ
PHẬT PHẬT TỔ

CHÂN TÁNH
THÁNH THÁNH TỔ

20

HUYỀN CƠ DIỆU PHÁP
LÃO LÃO TỔ

VÔ CẤU VÔ NHIỄM
PHẬT PHẬT TỔ

GIÁC LINH ĐẠI GIÁC
THÁNH THÁNH TỔ

TRI KIẾN GIÁC TRI
TỔ TỔ TỔ

VÔ NGẠI ĐẠI BI
PHẬT PHẬT TỔ

*     *     *

4 - NGÔI SỐ 4: THỜ ÔNG BÀ NHIỀU ĐỜI ĐẾN ÔNG BÀ CHA MẸ HIỆN TẠI

Nói về vị trí & thứ tự trong thờ tự thì bên dưới 100 Ông Bà Tổ Tổ Tổ chính là Ông Bà gia tiên, Ông Bà nhiều đời đến Ông Bà, Cha Mẹ hiện thời. Họ là những Phụ Thân, Phụ Mẫu lưu truyền từ 100 Ông Bà Tổ Tổ Tổ cho đến bây giờ, là nhánh của chính chúng ta. Với công ơn sinh thành, dưỡng nuôi, giáo dục, dạy bảo, cùng đức tánh hi sinh vô cùng to lớn, thì đến bao giờ chúng ta mới đền đáp lại được tất cả những công ơn ấy. Ngoài ra, quý vị cần hiểu, Ông Bà, Cha Mẹ chính là những con người làm theo di chí của Tổ Tiên sanh con lưu truyền thân xác tiểu thiên vũ trụ, để duy trì Định Luật tiến hóa của linh hồn con người, giúp linh hồn có thân xác tứ đại, có đủ 8 muôn 4 ngàn giác tánh mà tu hành tiến hóa để trở về hội nhập Cội Nguồn, lên ngôi Chánh Đẳng, Chánh Giác. Cho nên, thờ Ông Bà nhiều đời và thờ Ông Bà, Cha Mẹ hiện tại là thể hiện tấm lòng hiếu nghĩa, hiếu kính, báo hiếu với Ông Bà, Cha Mẹ.

Còn với những người sống mà quên ơn Ông Bà, Cha Mẹ hiện tại, quên ơn Ông Bà, Cha Mẹ nhiều đời nhiều kiếp là đi vào bất nhân, bất nghĩa, vô lễ và bất hiếu. Những người này dù tu đến cỡ nào, chứng ngộ được đến đâu đi nữa cũng không thể thành quả vị Phật, quả vị Thánh, quả vị Tiên, quả vị Thần, quả vị Chúa được. Nếu không có Ông Bà, Cha Mẹ thì làm sao chúng ta có thân xác tiểu tiểu thiên vũ trụ để tu học được, và cũng không có cách gì để tiến hóa linh hồn được. Trần gian là nơi trường thi tiến hóa linh hồn nhanh nhất, hễ có thân xác con người là chúng ta có cơ hội để tiến hóa.

--------------------------------------------------

CHƯƠNG I
NHỮNG ĐIỀU CƠ BẢN VỀ THỜ TỰ TRONG VĂN HÓA CỘI NGUỒN

1 - ĐỨC KHAI HÓA TỔ TIÊN LÀ AI?

Đức Khai Hóa Tổ Tiên là bản thể Linh Giác Tối Cao, Khai Hóa, Tạo Hóa, Tổ Tiên, bản thể Linh Giác Vũ Trụ. Hay còn gọi là Chúa Trời, Đấng Tạo Hóa, Như Lai. Tuy có nhiều danh từ để gọi nhưng rốt lại chỉ là Khai Hóa Tổ Tiên mà thôi.

Khai Hóa Tối Thượng Tổ Tiên, khai tạo lập lên vũ trụ, tam thiên, đại thiên, thế giới, 28 tầng Trời, 18 tầng Địa Phủ, núi Tu Di, thất sơn châu báu, nhật, nguyệt, tinh tú, thiên hà, ngân hà, bốn cõi trần gian, núi Thiết Vi, địa luân, phong luân, thủy luân, ba cõi vũ trụ, thiên đàng, trần gian, địa phủ, ba giới tâm linh, dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Chuyển vận vũ trụ, tạo ra ngày giờ, năm, tháng, lập lên thế giới vạn vật, côn trùng, thảo, mộc, muôn loài cầm thú, bò sát. Khai Hóa Tổ Tiên, khai tạo lập lên tất cả, xong rồi hiện thân ra CHA TRỜI, ĐỊA MẪU, sanh con đẻ cái lưu truyền nòi giống con người, tiên rồng, cho đến ngày nay.

Cách đây khoảng hai nghìn năm trăm lẻ ba triệu năm, ở vào khoảng thời gian ấy Vũ Trụ TA BÀ chỉ là một khoảng chân không. Trong khoảng chân không rộng lớn cùng khắp ấy có một BẢN THỂ LINH GIÁC TỐI CAO, rộng lớn như hư không chỗ nào cũng có, đó là BẢN THỂ LINH GIÁC TỐI CAO, KHAI HÓA, TẠO HÓA, TỔ TIÊN, BẢN THỂ ĐỘC LẬP, TỰ DO, BÌNH ĐẲNG.

Bản Thể Khai Hóa TỔ TIÊN, thể tướng như Hư Không, VÔ TƯỚNG. VÔ TƯỚNG chính là thật tướng của TỔ TIÊN, không những thể tướng của Tổ Tiên là thể tướng vô tướng, mà thể tánh của Tổ Tiên là VÔ TÁNH, vô tánh cũng là tánh, thật tánh của TỔ TIÊN.

Bản Thể Linh Giác Tối Cao Tổ Tiên, BẢN THỂ VÔ VI TRONG SẠCH, không cấu nhiễm, ví như hoa sen gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Chính vì sự không cấu nhiễm trong sạch nầy, là tối đại linh thiêng của LINH GIÁC BẢN THỂ, Linh Giác Tối Linh LIÊN HOA HẢI TẠNG VŨ TRỤ.

Bản thể Linh Giác TỐI CAO TỔ TIÊN, không những vô vi trong sạch, không cấu nhiễm, mà cả CHÂN TÂM, CHÂN TÁNH cũng trong sạch vô vi. Cũng chính vì sự trong sạch vô vi không cấu nhiễm, cũng như sự trong sạch chân tâm chân tánh trở thành bản thể minh tâm kiến tánh vũ trụ. Bản Thể Linh Giác Tối Cao Vũ Trụ, TÂM KHÔNG, trong sạch vô vi, TÁNH KHÔNG trong sạch vô vi, TƯỚNG KHÔNG trong sạch vô vi, Ý KHÔNG, trong sạch vô vi, THỨC KHÔNG trong sạch vô vi. Nên tự Bản Thể Linh Giác Tối Cao Vũ Trụ THẤY - NGHE - HAY - BIẾT, khắp cùng vũ trụ. Sự thấy, nghe, hay, biết, ở đây là sự thấy nghe hay biết toàn Bản Thể Hư Không Vũ Trụ, cái thấy khắp cùng, cái nghe khắp cùng, cái hay khắp cùng, cái biết khắp cùng.

Bản Thể Linh Giác Tối Cao Vũ Trụ, Linh Giác TỔ TIÊN, không những không cấu nhiễm trong sạch vô vi, mà còn trong sạch, không MÀU, không SẮC, không MÙI, không VỊ, và cũng chính sự trong sạch không cấu nhiễm, không màu, không sắc, không mùi, không vị nầy, không những tự Bản Thể Linh Giác thấy, nghe, hay, biết, toàn năng toàn giác toàn bản thể, mà còn PHẢN KHÁNG, CẢM ỨNG, PHẢN TỈNH ĐO LƯỜNG, trở thành CÁN CÂN CÔNG LÝ BẢN THỂ VŨ TRỤ. Cán cân công lý công bằng bình đẳng vũ trụ.

Bản Thể Linh Giác Tối Cao, Linh Giác KHAI HÓA TỔ TIÊN, bản thể Linh Giác ĐẠI ĐỒNG, ĐỘC LẬP, TỰ DO, BÌNH ĐẲNG, và cũng chính bản thể đại đồng, độc lập, tự do, bình đẳng nầy trở thành bản thể CHÂN LÝ tối cao của sự sống, trở thành Thiên Luật tối cao vũ trụ, trở thành Thiên Ý của Đức Cha Trời. Sự sống tối cao vũ trụ chính là Bản Thể Linh Giác CỘI NGUỒN bản thể tối cao của tất cả sự sống. Bản thể KHAI HÓA TỐI CAO tạo lập nên tất cả, là bản thể HỢP NHẤT, bản thể ĐẠI ĐỒNG, ĐỘC LẬP, TỰ DO, BÌNH ĐẲNG.

Bản thể đại đồng, độc lập, tự do, bình đẳng, là bản thể Cội Nguồn tối cao HIẾN TẠNG, PHÁP TẠNG, LUẬT TẠNG tối cao vũ trụ, khi chưa khai hóa tạo lập vũ trụ. Bản Thể Linh Giác Tối Cao HIẾN TẠNG, PHÁP TẠNG, LUẬT TẠNG tối cao vũ trụ, khai hóa tạo lập vũ trụ, khai tạo lập lên tam thiên, đại thiên thế giới, các tầng TRỜI, các tầng ĐỊA PHỦ, TRẦN GIAN, bốn cõi, thiên hà, ngân hà, nhật nguyệt, tinh tú, muôn sanh linh sự sống, côn trùng, cỏ cây, cầm thú, cho đến con người, v.v... Thì bản thể HIẾN TẠNG, PHÁP TẠNG, LUẬT TẠNG, CỘI NGUỒN TỐI CAO VŨ TRỤ, chuyển thành THIÊN LUẬT VŨ TRỤ, THIÊN Ý CHA TRỜI, cán cân CÔNG LÝ VŨ TRỤ.

Bản Thể Linh Giác TỔ TIÊN tối cao vũ trụ là bản Thể linh giác tối cao của sự TỰ NHIÊN, không ai sanh ra, cũng không mất đi, trường tồn bất diệt, trước sau như một, không có sự khởi đầu, không có sự kết thúc, không quá khứ chẳng vị lai, một bản thể như hư không bao trùm vũ trụ, bao trùm hoàn vũ, không đi không đến, tất cả sự sống đều nằm trong sự sống Đại Đạo tối cao nầy.

Bản thể linh giác tối cao vũ trụ linh giác TỔ TIÊN, không những như như thường còn, mà còn mãi mãi tột thế vô tận của vị lai, vì vậy danh từ NHƯ LAI TỔ TIÊN vẫn là danh từ khế hợp nhất.

Bản Thể Linh Giác Khai Hóa Tổ Tiên, bản thể BẤT SANH, BẤT DIỆT, BẤT CẤU, BẤT NHIỄM, BẤT TĂNG, BẤT GIẢM, KHÔNG SẮC, KHÔNG MÀU, KHÔNG MÙI, KHÔNG VỊ, Ý KHÔNG, THỨC KHÔNG, TÂM KHÔNG, TÁNH KHÔNG, TỰ NHIÊN TRONG SẠCH VÔ VI chính là bản thể Hiến tạng, Pháp tạng, Luật tạng, Bản Thể Linh Giác Tối Cao Vũ Trụ, Linh Giác ĐẠI ĐỒNG, ĐỘC LẬP, TỰ DO, BÌNH ĐẲNG.

Vì thế nhân loại con người là CON CHÁU của Khai Hóa TỔ TIÊN, hướng về CỘI NGUỒN cũng chính là hướng về CÔNG BẰNG, BÌNH ĐẲNG, ĐỘC LẬP, TỰ DO, đi vào hợp nhất theo luật công bằng, theo luật bình đẳng, theo luật độc lập, theo luật tự do, theo luật tự nhiên tự thể của bản thể ĐẠI ĐỒNG HỢP NHẤT thể.

Hướng về CỘI NGUỒN khác với hội nhập CỘI NGUỒN. Hướng về Cội Nguồn là hướng về công bằng, bình đẳng, hướng về độc lập, tự do. Còn hội nhập Cội Nguồn là sự hội nhập bọt nước hội nhập vào bản thể Nước, Bọt nước trở về là Nước, Linh Thức trở thành Linh Giác, Thức tâm, Thức tánh, trở thành Chân tâm Chân tánh. Chân tâm chân tánh chính là TÂM KHÔNG, TÁNH KHÔNG, TRÍ KHÔNG, Ý KHÔNG, THỨC KHÔNG. LÀM CHỦ CHÂN TÂM CHÂN TÁNH cũng có nghĩa là LÀM CHỦ SỰ CÔNG BẰNG, BÌNH ĐẲNG, ĐẠI ĐỒNG, ĐỘC LẬP, TỰ DO, TỐI CAO VŨ TRỤ.

Bản Thể Linh Giác Tối Cao TỔ TIÊN, ví như NƯỚC, còn Linh THỨC, linh hồn muôn sinh linh sự sống, ví như BỌT NƯỚC. Cũng chính vì NƯỚC SANH RA BỌT NƯỚC, LINH GIÁC SANH RA LINH THỨC, CHÂN TÂM CHÂN TÁNH, SANH RA THỨC TÂM THỨC TÁNH, nên nước - bọt nước, linh giác - linh thức, chân tâm chân tánh - thức tâm thức tánh, không khác nhau, đồng tánh thể, bản thể, NƯỚC có những gì, thì BỌT NƯỚC cũng y như vậy, linh giác có những gì, thì linh thức cũng y như thế. Chân tâm chân tánh có những gì, thì thức tâm thức tánh cũng có y nhau, bản thể của NƯỚC, công bằng, bình đẳng, độc lập, tự do, thì BỌT NƯỚC cũng có những đức tánh ấy, ẨN TÀNG TRONG BỌT NƯỚC. Đây chính là sự tương thông đồng nhất giữa bản thể NƯỚC và BỌT NƯỚC, tương thông giữa Linh Giác TỔ TIÊN ĐẠI LINH HỒN VŨ TRỤ, với LINH THỨC TIỂU LINH HỒN CON CHÁU.

Bản Thể Linh Giác, NƯỚC tối cao vũ trụ, bản thể đại đồng, công bằng, bình đẳng, độc lập tự do, thì linh thể LINH THỨC BỌT NƯỚC, cũng có thể tánh của nước, thành chủng tánh của bọt nước, chủng tánh đại đồng, công bằng, bình đẳng, độc lập tự do.

Nhân loại hướng về ĐẠI ĐỒNG, hướng về CÔNG BẰNG, hướng về BÌNH ĐẲNG, hướng về ĐỘC LẬP, hướng về TỰ DO, chính là hướng về CỘI NGUỒN. Lần lần hội nhập Cội Nguồn theo Hiến Tạng, Pháp Tạng, Luật Tạng tối cao vũ trụ, ẨN TÀNG trong mỗi linh hồn con người.

(xem Long Hoa Thiên Tạng Kinh sẽ nói rõ hơn).

*     *     *

2 - CHA TRỜI, MẸ TRỜI LÀ AI?

ĐỨC KHAI HÓA TỐI THƯỢNG TỔ TIÊN, hiện thân ra con người, tức là ĐỨC CHA TRỜI, ĐỨC ĐỊA MẪU MẸ TRỜI, sanh con đẻ cái lưu truyền nòi giống con người. Để cho con cháu cai quản trông coi Thế Giới Vũ Trụ do mình sáng tạo lập ra. Điều đáng nói ở đây, TỔ TIÊN hiện thân ra đức CHA TRỜI, MẸ TRỜI, bằng cách nào, khi bản thể pháp thân Linh Giác Tổ Tiên là pháp thân linh giác Vô Vi không có hình tướng.

TỔ TIÊN muốn hiện thân ra Đức Cha Trời, Đức Địa Mẫu Mẹ Trời. Tổ Tiên phải dùng đến ý niệm thần thông qua thần lực, tóm thâu tiên thiên chơn dương tinh hoa vũ trụ, giống như lực nam châm hút lấy sắt, thép, kẽm, chì, mà không cần dùng đến tay, chân, gì cả.

TỔ TIÊN dùng ý niệm thần thông qua thần lực, tóm thâu tiên thiên CHƠN DƯƠNG tinh hoa vũ trụ, hiện thân ra Đức Cha Trời 32 tướng tốt 80 vẻ đẹp cốt Rồng hào quang rực rỡ. ĐỨC CHA TRỜI hay còn gọi là CHÚA TRỜI, TỐI CAO THƯỢNG ĐẾ.

TỔ TIÊN lại tiếp tục dùng ý niệm tóm thâu tiên thiên CHƠN ÂM, tinh hoa vũ trụ, hiện thân ra Đức Mẹ Trời, Địa Mẫu 32 tướng tốt 80 vẻ đẹp cốt Tiên hào quang rực rỡ.

 - Tên tộc bí danh của Đức Cha Trời là LONG HOA.

 - Tên tộc bí danh của Đức Mẹ Trời là TIÊN CƠ.

 - Uy danh của Đức Cha Trời là ẤN QUANG TỐI THẮNG NHƯ LAI.

 - Uy danh của Đức Mẹ Trời là ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH NHƯ LAI.

 - Tên khi đã có con của Cha Trời là LẠC LONG QUÂN.

 - Tên khi đã có con của Mẹ Trời là ÂU CƠ.

Đức Cha Trời Lạc Long Quân và Đức Địa Mẫu Mẹ Trời Âu Cơ là Chánh Thân - Chánh Mẫu, hiện thân của Đức Tổ Tiên, ba ngôi TỐI CAO CỦA VŨ TRỤ. Còn Phụ Thân, Phụ Mẫu, cha mẹ hiện tiền là hai bậc sanh thành, tiếp nối lưu truyền nòi giống con người.

*     *     *

3 - QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG LÀ AI?

Nguồn gốc tiền thân Quốc Tổ Hùng Vương

Đức Quốc Tổ Hùng Vương chính là Đức Giáo Tổ, Chí Tôn Thiên Đế đầu thai xuống trần, là một trong trăm người con của Địa Mẫu ÂU CƠ và Cha Trời LẠC LONG QUÂN, sanh ra tại dãy núi Long Hoa, chốn Hồng Trần, cách đây 75 triệu 600 nghìn năm, giữa tiểu kiếp thứ 5. Một trăm người con của Đức Cha Trời LẠC LONG QUÂN và Địa Mẫu ÂU CƠ hiện đang làm Phật Tổ, Thánh Tổ, Tiên Chúa, Mẫu Hoàng, Phật Mẫu, Tiên Mẫu, Thánh Mẫu cai quản khắp tầng Trời, Tam Thiên Đại Thiên vũ trụ. Đức Giáo Tổ Chí Tôn là anh cả, theo di chí Tổ Tiên, làm theo lời dạy của Đức Cha Trời.

Cho đến cách đây hơn năm nghìn năm, nơi tầng Trời thứ 11 trung Thiên Giới, nơi tầng Trời Thiên Vân, cõi Long Vân, Đức Giáo Tổ Chí Tôn ra khỏi Thiên Cung nhìn về chốn trần gian, trong lòng bỗng nhiên hồi hộp, một chuyện lạ chưa từng có, không hiểu chuyện gì sắp xảy ra. Thời thấy vũ trụ bỗng nhiên tối đen như mực, cuồng phong nổi dậy ù ù, tiếng gào thét kêu la thật thảm thiết. Đức Chí Tôn suy nghĩ, đây là cuồng phong chốn nhân gian, tiếng gào thét kêu la từ Địa Ngục sao lại bay lên tới tận Trung Thiên nơi này hay là Đức Cha Trời có điều chi dạy bảo, đang suy nghĩ, thời thấy Chư Thiên nhiều vô số vô biên lâm phàm, bị vô minh vây phủ, không trở về Trời được nữa, không biết bao nhiêu là Chư Thiên rơi luôn xuống Địa Ngục âm phủ thống khổ vô cùng.

Đức Chí Tôn thở dài, bỗng chốn hư không ba đạo hào quang, kéo theo hàng loạt tiếng sấm lớn, tức thời màn đêm từ từ biến mất. Vũ trụ giờ đây đã trở lại yên bình, hiện ra vô số hoa sen báu, sau đó thời biến mất. Biết Đức Cha Trời có điều muốn dạy, Đức Chí Tôn liền chấp tay vái lạy chốn hư không khấn rằng: Thưa Đức Cha Trời, hiện tượng vừa hiện ra nơi vũ trụ, con đây chẳng rõ, vừa mừng vừa lo. Xin Đức Cha Trời dạy bảo cho con hiểu.

Lời khấn vái của Đức Chí Tôn xong, thời nơi chốn hư không phát ra tiếng nói: này A DI ĐA con là anh cả trong 100 người con của ta, nay ta giao cho con việc lớn. Tiểu kiếp thứ 9 sắp kết thúc, chuyển sang tiểu kiếp thứ 10. Con đem Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Đạo vũ trụ truyền xuống chốn nhân gian, mở đường đưa nhân loại về Trời. Qua khỏi sông mê đến bờ giác, mùa gặt hái linh hồn đã đến. Nhân loại tu luyện tiến hóa Linh Hồn đã trải qua 16 triệu 800 nghìn năm, thời kỳ trình độ dân trí tiến hóa lần đến chỗ chí cao. Nhân loại cần có đường để về Trời, tiến lên Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Còn những Linh Hồn chậm tiến sẽ ở lại chốn nhân gian, tiếp tục đầu thai chuyển qua tiểu kiếp thứ 10, tiếp tục tu luyện chờ mùa gặt sau.

Nơi chốn hồng trần dãy núi Long Hoa, sau một thời gian sụp lở đã thấp xuống, gãy khúc lổm chổm tạo ra núi non trùng điệp. Nay mực nước biển đã xuống thấp, Địa Long đã lộ ra, dọc theo bờ biển từ Nam cho tới Bắc. Con hãy đầu thai xuống chốn nhân gian, sanh vào dòng dõi KINH DƯƠNG VƯƠNG, lớn lên dùng gươm trí huệ, hàng phục ma quân, đại quỷ yêu quái, hàng phục Thần Giáo lập lên Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Đạo vũ trụ, Đất Nước Văn Lang. Đóng đô ở Đầu Địa Long hình chữ S. Con phải đầu thai ba lần con mới làm xong sứ mệnh.

Lần thứ nhất: Con đem Thiên Ấn Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Đạo vũ trụ xuống nhân gian, lập nên Nền Quốc Đạo Tiên Rồng. ẤN TRUYỀN xuống con cháu thay nhau gìn giữ. Nhưng không bao lâu thời Thiên Ấn thất truyền, con cháu Tiên Rồng nhân loại con người phàm trở lại rơi vào cảnh tối tăm. Cho nên con phải đầu thai lần thứ 2.

Lần thứ hai: Không phải đầu thai làm con Quốc Vương trở thành Thái Tử Điện Hạ, quyền thế uy nghi mà đầu thai vào gia đình trung nông bình thường, mồ côi mồ cút, sống trong cảnh chiến tranh loạn lạc, thiếu ăn thiếu mặc, lang thang khắp chốn, rồi trở thành cư sỉ ẩn dật, chịu nhiều khảo đảo của ác Ma và ác Quỷ, gian truân khốn khổ trăm bề suốt 30 năm. Lúc này nhân loại trên đà văn minh vật chất cao, đã chế tạo ra giấy bút mực tinh xảo, đầy đủ nhân duyên cho con để lại cả ẤN lẫn BÚT. Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Đạo vũ trụ lại tiếp tục ra đời, Long Hoa Hội tiếp tục khai mở. Kinh luân lưu truyền đến tiểu kiếp thứ 15 thời mãn. Thời Long Hoa kéo dài 84 triệu năm, chuyển sang giai đoạn Liên Hoa Hải Tạng.

Lần thứ ba: Con đầu thai xuống chốn nhân gian, giữa tiểu kiếp thứ 10, làm Chuyển Luân Thánh Vương, xuất gia tu hành, làm tổng trì cho Tổ Tiên Khai Hóa, thay Cha Trời, Địa Mẫu chuyển Đại Pháp Luân. Thị hiện Bản Thể, Bất Cấu, Bất Tịnh, Bất Tăng, Bất Giảm, trong sạch, Bản Thể Đại Đồng, Tánh Đại Đồng, Tướng Đại Đồng, Trí Đại Đồng, quá khứ vị lai cũng chỉ là một. Thọ ký cõi nước trang nghiêm cho những người có công lớn trong Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Đạo vũ trụ.

Đức Cha Trời truyền dạy xong, nơi không trung bỗng nhiên ba Đạo Hào Quang hiện ra chiếu xuống đầu Đức Chí Tôn, tức thời nhục kế trên đỉnh đầu Đức Chí Tôn liền trong suốt hóa thành gươm Thiên vũ trụ. Trí Huệ của Đức Cha Trời, thần thông trí huệ quảng đại vô biên.

*     *     *

Quốc Tổ Hùng Vương: (Cao Hùng Lan) là Chí Tôn Thiên Đế, con cả trong 100 người con của Đức Cha Trời đầu thai xuống trần, dựng nước Văn Lang, mở ra Văn Hóa Cội Nguồn, Nền Quốc Đạo Tiên Rồng, theo Thiên Ý của Đức Cha Trời, nên Quốc Tổ có quyền năng vô hạn.

 - Sinh ngày 20 tháng 02 năm Giáp Thìn tức vào năm 2989 trước công nguyên.

 - 16 tuổi Quốc Tổ đi tìm chân lý cứu nhân độ thế. Quốc Tổ mất 6 năm thiền định để tìm ra Văn Hóa Cội Nguồn.

 - 22 tuổi Quốc Tổ chuyển đại pháp luân khai hội Long Vân tại Vườn Cấm nước Xích Quỷ vào ngày 02 tháng 03 năm Ất Sửu.

 - 25 tuổi Quốc Tổ dẫn quân Âu Lạc tiến về đất Lãnh Nam vào năm Mậu Thìn. Khai dựng lên nước Văn Lang, cũng như Bách Việt Văn Lang.

 - 30 tuổi Quốc Tổ lên ngôi Quốc Vương vào ngày 02 tháng 09 năm Quí Dậu. Cũng như công bố nền Quốc Đạo Văn Hóa Tiên Rồng ra đời.

 - Năm 41 tuổi Quốc Mẫu Phụng Cơ sanh Hùng Quí Lân.

 - 109 tuổi Quốc Tổ truyền ngôi cho con cả là Hùng Quí Lân năm Nhâm Thìn, 2880 trước công nguyên.

 - 79 năm Quốc Tổ ở ngôi dựng nước.

 - 3 năm ở ngôi Thái Thượng Hoàng Giáo Tổ Quốc Đạo.

 - 112 tuổi Quốc Tổ về Trời vào ngày mùng 10 tháng 03 năm Ất Mùi.

 - Năm 2959 trước công nguyên. Nhà Nước Văn Lang chính thức ra đời.

(xem Long Hoa Mật Tạng Kinh sẽ nói rõ hơn).

Đức Chí Tôn Thiên Đế, Quốc Vương Thủy Tổ Hùng Vương, Long Hoa Giáo Tổ, Phật Di Lặc, tuy nhiều danh xưng ở những ngôi vị kiếp sống khác nhau nhưng cũng chỉ là một.

Quốc Tổ Hùng Vương để lại 2 di sản quý cho dân tộc Việt Nam nói riêng và nhân loại thế giới nói chung.

1 là Non Sông đất nước Việt Nam

Khai mở địa long của nhân loại con người, nơi cái nôi của nhân loại con người ra đời: 5 màu da anh em trở về Nguồn Cội.

2 là Văn Hóa Cội Nguồn

Khai mở tâm điền của nhân loại con người, dân tộc Việt Nam nói riêng và 5 màu da anh em nói chung đều trở về Nguồn Cội. Nhân loại con người sống theo Thiên Quyền Nhân Chủ. Nền Văn Hóa Tối Cao của nhân loại.

Những kẻ hủy báng Quốc Tổ sẽ bị giảm tuổi, lại gặp bao điều xui rủi, Thần, Thánh, Phật, Tiên không độ mạng, con cháu sanh nghịch tử.

Những người trước đây không hiểu nên đã phạm tội. Nên Long Thần Hộ Pháp, Thần Thánh còn tha thứ. Đã gặp lời Kinh dạy rồi mà còn vi phạm, dù là người ngoại quốc cũng không tránh khỏi đại họa, huống chi là con cháu Tiên Rồng. Chỗ nào cũng Trời, chỗ nào cũng Đất, Thiên La Địa Võng tránh đâu cho thoát.

Tổ Tiên ta thường dạy, dù con cháu có đi đến đâu, nơi đâu, chân trời góc biển cũng mang triết lý lời dạy Ông Bà Tổ Tiên đến đó để thờ phụng, giữ gìn Văn Hóa Cội Nguồn đừng để mất. Lời dạy ấy đã thấm nhuần trong tim của người dân Đại Việt, vì vậy con cháu Đại Việt đi đến đâu, thì đền thờ Cha Trời Lạc Long Quân, đền thờ Địa Mẫu Âu Cơ, đền thờ Hùng Vương đến đó. Dù là ở nước ngoài cũng thế, huống chi là trong nước, có như vậy mới xứng đáng là Con Lạc Cháu Hồng, Con Rồng Cháu Tiên.

Cây có Cội nước có Nguồn

Con Chim có Tổ con người có Tông

Mất đi Nguồn Gốc Tiên Rồng

Như cây mất Gốc, như sông mất Nguồn.

*     *     *

4 - VÌ SAO ĐỨC LONG HOA CHA TRỜI CÒN GỌI LÀ CỬU HUYỀN THẤT TỔ?

Chữ CỬU là chín, TỔ TIÊN hiện thân ra con người CHA TRỜI, MẸ TRỜI, có chín khiếu: Hai mắt, hai tai, hai lỗ mũi, miệng, lỗ tiểu, lỗ tiện. Chín khiếu thông thương khắp vũ trụ.

Còn chữ HUYỀN, là nói đến thân người là tinh hoa vũ trụ thu nhỏ, tiểu thiên vũ trụ, không khác gì đại thiên vũ trụ, con người là động vật tối linh của trời đất. HUYỀN LINH không động vật nào linh bằng. Như vậy hai chữ Cửu Huyền là có ý nghĩa như trên.

THẤT TỔ là nói đến CHA TRỜI CỬU HUYỀN khai ra THẤT GIÁO:

1) PHẬT GIÁO, 2) THÁNH GIÁO, 3) TIÊN GIÁO, 4) CHÚA GIÁO, 5) THẦN GIÁO, 6) NHƠN GIÁO, 7) THẦY GIÁO.

Bảy đại giáo nầy, CỬU HUYỀN CHA TRỜI sáng lập truyền xuống nên gọi là Cửu Huyền THẤT TỔ.

TỔ TIÊN KHAI HÓA, HIỆN THÂN RA CHA TRỜI, CỬU HUYỀN THẤT TỔ, hay còn gọi là Chúa Trời ĐẤNG CHA LÀNH ĐỘC TÔN VÔ NHỊ, TỐI CAO VŨ TRỤ.

Ở PHẬT GIÁO có vô lượng PHẬT TỔ,

Ở THÁNH GIÁO có vô lượng THÁNH TỔ,

Ở TIÊN GIÁO có vô lượng TIÊN TỔ,

Ở THẦN GIÁO có vô lượng THẦN TỔ,

Ở THIÊN GIÁO có vô lượng CHÚA TỔ,

Ở ĐỊA GIÁO có vô lượng ĐỊA TỔ (Ông Tổ của các ngành nghề),

Ở NHƠN GIÁO có vô lượng THẦY TỔ,

Tuy bảy giáo nhưng thật ra chỉ có một Ông Tổ Tối Cao đó là Đức CHA TRỜI, bảy nhánh chung cùng một Cội.

*     *     *

5 - HỒN THIÊNG DÂN TỘC LÀ AI?

Như chúng ta đã biết, những ai có Huệ Nhãn đều thấy rõ thế giới Tâm Linh. Từ khi lập nước Văn Lang đến bây giờ trải qua năm nghìn năm, Nhà nước Văn Lang vẫn tồn tại trong thế giời Vô Hình. Những Vương, Quan anh linh chưa về Trời vẫn thống lãnh cai quản Hồn Thiêng Dân Tộc tới bây giờ. Quốc Tổ Hùng Vương là chủ anh linh Hồn Thiêng Dân Tộc hơn năm nghìn năm Văn Hiến. Hồn Thiêng Dân Tộc đông vô số vô biên không thể tính đếm cho hết được.

Người không vi phạm Thần Linh, thì Thần Linh không hại người. Người tôn trọng Thần Linh, thì Thần Linh phù hộ người. Nhà Nước Tâm Linh Văn Lang. Luôn phù hộ cho Dân Tộc Bách Việt Văn Lang.

Chỉ khi nào Con Cháu Tiên Rồng quên Cội quên Nguồn. Không nghĩ gì đến Truyền Thống Anh Linh Ông Cha. Thì sự Linh Hiển không còn nữa. Đối với Thế Hệ con cháu Bất Trung, Bất Hiếu. Thời tai họa thường ập xuống. Khó mà thoát khỏi Quỷ xơi, Ma nuốt rơi vào cảnh Nô Lệ.

Đến khi nào con cháu Rồng Tiên trở về Cội Nguồn. Tưởng nghĩ đến Truyền Thống Anh Linh Ông Cha. Thì Khí Thiêng Sông Núi trỗi dậy. Hồn Thiêng Dân Tộc phù trì bảo bọc che chở, tai qua nạn khỏi. Văn minh trở lại, tỏa sáng rực rỡ. Dân giàu, nước mạnh an vui hạnh phúc.

Hữu hình trần gian bao thời đại thay đổi, hết triều đại này đến triều đại khác, hết chế độ này đến chế độ khác nhưng nhà nước Văn Lang ở cõi Vô Hình không gì thay đổi. Chế độ Nhà Nước Cộng Sản, Quốc Gia chỉ ở cõi đời mà thôi. Khi chết đi linh hồn Cộng Sản, Quốc Gia nhập vào Hồn Thiêng Dân Tộc, dưới sự cai quản điều hành Nhà Nước Vô Hình Văn Lang.

Nhà Nước Vô Hình Văn Lang đang điều khiển Hồn Thiêng Dân Tộc hằng hà sa số bảo hộ Kinh Luân. Những người hủy báng kinh luân thì không tránh khỏi BỊ TAI HỌA GIÁNG XUỐNG, thậm chí sẽ BỊ HỒN THIÊNG DÂN TỘC SÁT HẠI. Dù cho đó là ai Bí Thư, Chủ Tịch, Tổng Thống cũng bị tai họa như thường. Con Cháu Tiên Rồng Việt Nam hãy nhớ kĩ những lời nói trên. Còn những thiện nhân tri thức phát tâm đọc tụng, biên, chép, truyền bá cho người. Phước đức người nầy không biết đâu mà lường.

+ TRÊN ĐẦU CÓ CHA MẸ TRỜI PHÙ HỘ.

+ ĐI ĐỨNG NẰM NGỒI ĐỀU CÓ PHẬT THÁNH TIÊN THẦN CHÚA CHE CHỞ.

+ QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG BẢO BỌC.

+ HỒN THIÊNG DÂN TỘC PHÙ TRÌ.

+ VƯỢT QUA TẤT CẢ KIẾP NẠN. LÀM GÌ CŨNG THUẬN BUỒM XUÔI GIÓ. CON CÁI HIỂN ĐẠT CÔNG DANH.

Nền Quốc Đạo Tâm Linh Văn Lang linh thiêng, hiển linh kỳ lạ. Cộng với Địa Linh Địa Cầu. Nhất là Địa Long hình chữ S, Nam Văn Lang (NAY LÀ ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM). Các thế lực ngoại xâm khiếp sợ trước sự linh thiêng kỳ bí nầy. Nên ra sức ếm, yểm. Không từ một thủ đoạn nào. Sự ếm, yểm kéo dài hết lần ngoại xâm nầy, đến lần ngoại xâm khác, hàng trăm năm. Vì thế nền Quốc Đạo Tâm Linh Văn Lang giảm đi sự linh thiêng, hiển linh. Dân Tộc Văn Lang phải chịu rơi vào kiếp nạn hơn hai nghìn năm mới hết. Đến khi Thiên Ấn, Thiên Bút ra đời. Thì nền Quốc Đạo Tâm Linh Văn Lang Tỏa Sáng, triển khai thi hành mệnh lệnh Thiên Ấn Thiên Bút. Phán Xét Phân Xử hành sự theo Thiên Ý Luật Tạng Vũ Trụ. Do Đương Kim Vũ Trụ Quốc Tổ Vua Hùng Tái Sanh Chuyển Xoay.

Như những gì đã viết trong Kinh:

+ ĐỌC ĐƯỢC NHỮNG LỜI KINH NẦY THÌ CON CHÁU TIÊN RỒNG PHẢI ĐỀ PHÒNG SỰ ẾM YỂM CÁC LINH HUYỆT (tức là Địa Cuộc quan trọng của Đất Nước từ Bắc vào Nam hình chữ S).

+ CŨNG NHƯ KHƠI DẬY TRUYỀN THỐNG ANH LINH CỘI NGUỒN.

Thì nhất định Dân Tộc Tiên Rồng Việt Nam sẽ nở hoa sang giàu cũng như anh linh văn minh nhất thế giới. Đưa dân tộc Việt Nam tỏa sáng khắp năm châu bốn biển. Gươm thiên trấn quốc, độc lập tự do, thái bình an lạc muôn năm. Mùa xuân mãi mãi nở trong lòng người, xuân giàu sang, xuân hạnh phúc trên khắp đất nước quê hương.

*     *     *

HÌNH ẢNH: THIÊN ẤN

QUẢ TIM VŨ TRỤ THU NHỎ

D:\SEN\VHCN\KINH CHÚ\Kinh Sách Đã Chỉnh\2 - Bìa Kinh\Hình Thiên Ấn Gỗ\THIÊN ẤN VÀNG 500X500.png

6 - THIÊN ẤN LÀ GÌ?

a) Chú giải Thiên Ấn

1, Thiên Ấn là Bảo Vật Tối Linh Vũ Trụ

2, Ấn Linh Vũ Trụ thu nhỏ

3, Nhìn thấy Ấn Linh, coi như đã thấy tổng thể mầu nhiệm Vũ Trụ, tương thông với ba ngôi Tối Cao Vũ Trụ. Tổ Tiên Tạo Hóa Như Lai, Cha Trời, Mẹ Trời.

4, Những điều tối linh, cũng như sự tối may mắn, tối quyền năng, đều ẩn tàng hết trong Thiên Ấn.

5, Thiên Ấn là Quả Tim Vũ Trụ thu nhỏ, nhịp đập sự sống đem lại sự bình yên cho nhân loại toàn Vũ Trụ. Quả Tim Đại Đồng nhân loại Trần Gian và Chư Thiên.

I - Bản thể Cội Nguồn Tối Cao Vũ Trụ là Bản Thể Trường Sanh luôn tạo ra nhịp đập sự sống Vũ Trụ. Sự Sống của Tam Thiên Đại Thiên thế giới. Sự sống của Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ. Sự Sống Thiên Hà, Ngân Hà, Nhật, Nguyệt, Tinh Tú, cũng như Thiên Địa Càn Khôn. Quả Tim vận động Tuần Hoàn Vũ Trụ.

 - Bản thể sự sống Vũ Trụ ấy đã được thu nhỏ thành Thiên Ấn Vũ Trụ.

 - Tổng Thể Thiên Ấn, chính là Quả Tim nhịp đập Vũ Trụ. Liên thông đến tất cả sự sống toàn Vũ Trụ. Từ Quả Tim Vũ Trụ tạo ra vô số sự sống quả tim lớn, nhỏ, như hạt bụi vô tận.

 - Quả Tim Thiên Ấn hình Cơ. Quả Tim Huyền Cơ, Quả Tim Cơ Cảm, Quả Tim Cơ May. Quả Tim Thiên Cơ, Quả Tim Tâm Địa Vũ Trụ nẩy mầm lên tất cả sự sống. Tương Thông Quả Tim Mẹ Trời Địa Mẫu Âu Cơ. Quả Tim của sự chân thật, yêu thương lòng Mẹ Âu Cơ.

II - Quả Tim Thiên Ấn được phân làm hai phần. Bên Âm - bên Dương, mỗi bên đều có 9 chấm, tượng trưng cho chín khiếu Vũ Trụ, chín khiếu bên Âm, chín khiếu bên Dương.

Chín khiếu lưu thông toàn Vũ Trụ, nên gọi là Cửu Huyền, Một bên là Cửu Huyền Cha Trời, một bên là Cửu Huyền Địa Mẫu Mẹ Trời. Chín khiếu Vũ Trụ tương thông đến chín khiếu con người. Hai Mắt - Hai Tai - Hai Lỗ Mũi - Lỗ Miệng - Lỗ Tiểu - Lỗ Tiện.

Âm - Dương tương hiệp, vạn vật hóa sinh, lúc nhúc muôn ức vạn hình tạo lên sự sống khắp cùng Vũ Trụ.

Như Vậy: Những ai may mắn nhìn thấy Quả Tim Thiên Ấn Vũ Trụ, mà không có sự thất kính, lại mến mộ thì coi như đã gặp vạn sự may mắn, tiêu tan vô lượng tội lỗi. Đạo Bùa Tối Linh Vũ Trụ.

III - Trong Quả Tim Thiên Ấn là Hình Người, biểu tượng Thập Tự, kéo dài xuống thành Thập Tự Giá. Biểu tượng Hình Người, con người là trung gian giữa Trời và Đất. Đầu đội Trời, chân đạp Đất. Làm chủ cả Thiên - Địa càn khôn. Quyền năng vô tận vô biên, quyền năng điều hành Vũ Trụ. Làm chủ Vũ Trụ.

C:\Users\HP\Downloads\THIÊN ẤN CỦ - SỐ.png

Hình Nhân Thập, trong quả Tim Vũ Trụ. Có năm ngôi thứ tự từ trên xuống dưới.

* Ngôi thứ 1: tượng trưng cho Bản Thể Linh Giác Vũ Trụ, Khai Hóa Tổ Tiên

* Ngôi thứ 2: tượng trưng cho Cửu Huyền Cha Trời và Mẹ Trời (chánh thân, chánh mẫu)

+ 2a: Cha Trời chủ quản linh hồn

+ 2b: Mẹ Trời chủ quản vật chất

* Ngôi thứ 3: tượng trưng cho Ông Bà Tiên Tổ (100 vị con Trời đầu tiên), Ông Bà cao cho đến Ông Bà thấp gần nhất của mình (ông ngoại, bà ngoại, ông nội, bà nội).

* Ngôi thứ 4: cha mẹ hiện thời của mình (phụ thân, phụ mẫu)

* Ngôi thứ 5: bản thân mình, vợ/ chồng, con cháu, anh chị em hiện thời của mình. Kế ngôi con cháu là Đạo Vuông, Tròn.

Để hiểu rõ thứ tự của 5 ngôi từ Tổ Tiên xuống con cháu, câu Thánh Chú như sau.

Nam Mô Khai Hóa Tổ Tiên

Hiện Thân Hai Đấng Cửu Huyền Tối Cao

Sanh ra nhân loại Con Người

Ông - Bà, Cha - Mẹ, đến thời Chúng Con

A Men

IV - kế theo sau ngôi con cháu, là Đạo Hạnh con người, Đạo Vuông, Tròn. Đạo thờ Tổ Tiên, Cha Trời, Mẹ Trời. Trong lễ hội Đền Hùng, bánh dày, bánh chưng, Vuông, Tròn tượng trưng cho Trời và Đất.

V - Hình Thập Tự Giá có biểu tượng hình người, một tay chỉ Trời, một tay chỉ Đất. Nói lên trong Trời, Đất con người là trên hết, chủ nhân của muôn loài vạn vật. Thay thế Trời Cha chủ quản giang san Vũ Trụ.

VI - Con Người là trung gian giao cảm giữa Thiên và Địa, quyền năng vô tận tột cùng. Con số tham Thiên lưỡng Địa là con số 5, con số Trung Ương của Tạo Hóa.

Như vậy Thiên Ấn Vũ Trụ gồm đủ Vô Cực, Thái Cực, Lưỡng Nghi, Âm - Dương, Tứ Tượng, Bát Quái, Ngũ Hành, bộ máy Vũ Trụ. Trong đó hiện rõ hai con số, số 9 và số 5.

Số 9 là con số Cửu Huyền tương thông khắp cùng Vũ Trụ. Mà còn tương thông đến chòm sao, Thủy Diệu, Mộc Đức, không sức mà ăn mà hưởng.

Số 5 không những là con số tham Thiên lưỡng Địa Trung Ương, mà còn tương thông đến chòm sao Thái Dương, Thổ Tú. Vinh Hoa Phú Quý.

Thiên Ấn là cả Huyền Cơ Mật Tạng Vũ Trụ không thể giải cho hết sự mầu nhiệm cũng như uy quyền và sự may mắn. Tương thông hết thảy, nên Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa Tôn thờ Thiên Ấn như tôn thờ Ba Ngôi Tối Cao Vũ Trụ.

VII - Thiên Ấn Vũ Trụ là Bùa Hộ Mạng Tối Cao trên tất cả Bùa Hộ mạng. Đeo Thiên Ấn vào người thì không Ma, Quỉ nào xâm nhập được. Dù là bằng chất liệu gì. Đã là con người thì ai cũng có quyền đeo Thiên Ấn, bảo bọc che chở, cầu đâu linh đó, tiêu tan nghiệp chướng, giải trừ kiếp nạn. Còn được Phong Ấn là một chuyện khác. Chỉ có Quốc Tổ mới có quyền Phong Ấn, Phong Ấn chính là Phong Thánh. Hoặc hội Đồng Thánh Đức mới có Quyền Phong Ấn.

*     *     *

b) Quyền năng Thiên Ấn

Những ai nhìn thấy Thiên Ấn Vũ Trụ, thành tâm sùng kính, hoặc cúng dường Thiên Ấn, thời liền tiêu tan vô lượng ức kiếp tội lỗi. Huống chi phụng lập tôn thờ, hoặc đeo trong người. Thì những người nầy lúc nào cũng có ba ngôi Tối Cao Vũ Trụ hộ độ phù trì. Không còn sa xuống Địa Phủ nữa, mãn kiếp trần gian siêu sanh Thiên Giới.

Những lợi ích của Thiên Ấn Vũ Trụ không bao giờ nói cho hết. Hãy thờ Thiên Ấn và đeo Thiên Ấn. Trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa con Trời, về Trời và làm chủ Vũ Trụ.

Thấy Ấn như thấy Trời Cha

Quyền năng Thiên Ấn tối cao tột cùng

Dù cho tai họa trùng trùng

Biến tan hết thảy không còn tiêu bay

Thấy Ấn như thấy Âu Cơ

Mẹ Trời che chở bến bờ bình yên

Thiên Ấn linh ứng vô biên

Chuyển xoay tất cả cứu nguy linh hồn

Dù cho sa đọa tam đồ

Bái lạy Thiên Ấn tức thời thoát ra

Cúng dường Thiên Ấn Như Lai

Muốn chi đặng nấy không sai tí nào

Mau thành Phật, Thánh, Tiên, Thần

Về Trời hưởng phước vĩnh hằng an vui

*     *     *

c) Hướng dẫn cách kích hoạt và cầu nguyện bằng Thiên Ấn

* Tên uy danh:

Uy danh của Tổ Tiên:

Khai Hóa Tối Thượng Tổ Tiên Vô Biên Như Lai

Uy danh của Cha Trời:

Long Hoa Cửu Huyền Thiên Phụ Ấn Quang Tối Thắng Như Lai

Uy danh của Mẹ Trời:

Tiên Cơ Đức Mẹ Địa Mẫu Dưỡng Sanh Như Lai

Uy danh của Quốc Tổ:

Đức Hư Không Tạng Diệu Không Vô Biên Như Lai.

“Muốn cho thấu hiểu Kinh Luân

Thành tâm kính bái Âu Cơ Mẹ Trời

Muốn cho hiểu được Văn Từ

Thành tâm kính bái Cha Trời Long Quân

Muốn cho thông suốt Mật Kinh

Thành tâm lễ lạy Anh Linh Vua Hùng”

* Trước khi đeo:

 

* Đặt Thiên Ấn vào lòng bàn tay, đưa ngang mặt, hướng các đầu ngón tay lên Trời, sử dụng ni pháp nhận (như ảnh).

* Niệm danh hiệu 3 ngôi Tối Cao, Đức Quốc Tổ và đọc Ấn Chú (Thánh Chú) Cội Nguồn như sau:

NAM MÔ KHAI HÓA TỐI THƯỢNG TỔ TIÊN VÔ BIÊN NHƯ LAI

NAM MÔ LONG HOA CỬU HUYỀN THIÊN PHỤ ẤN QUANG TỐI THẮNG NHƯ LAI

NAM MÔ TIÊN CƠ ĐỨC MẸ ĐỊA MẪU DƯỠNG SANH NHƯ LAI

NAM MÔ A MEN

NAM MÔ ĐỨC HƯ KHÔNG TẠNG DIỆU KHÔNG VÔ BIÊN NHƯ LAI

Nam Mô Khai Hóa Tổ Tiên

Hiện Thân Hai Đấng Cửu Huyền Tối Cao

Sanh Ra Nhân Loại Con Người

Ông - Bà, Cha - Mẹ, Đến Thời Chúng Con

A Men.

Nam Mô A Men.

* Lưu ý:

+ Nếu tặng ông bà, cháu nhỏ, thời các vị có thể tự mình khai mở ấn chú cho Thiên Ấn trước khi đem tặng.

+ Các vị có thể sử dụng một hay nhiều Thiên Ấn như đồ trang sức của mình và cũng để tùy ý sử dụng cho linh hoạt. Khi nào đeo, thì các vị kích hoạt Thiên Ấn và đeo vào người.

* Sử dụng Thiên Ấn trang sức để cầu nguyện

Gồm 2 bước như dưới đây:

Bước 1: Các vị đặt Thiên Ấn vào lòng bàn tay, sử dụng ni pháp nhận, niệm danh hiệu 3 ngôi Tối Cao, Đức Quốc Tổ và đọc câu Thánh Chú Cội Nguồn (như trên).

Bước 2: Cầu ngôi nào thời BẤM vào ngôi ấy trong hình thập tự giá 5 ngôi và đọc lời cầu.

Đọc xong lời cầu, các vị niệm Nam Mô A Men. (để lời cầu nguyện của mình có được sự linh ứng, như ý).

Rồi thả tay khỏi nút bấm. Kết thúc việc cầu nguyện.

*     *     *

Thầy lấy ví dụ:

+ Cầu cho bản thân mình: muốn thông hiểu Bản Thể Linh Giác Tổ Tiên bấm vào nút số 1 Tổ Tiên, cầu Cha Trời bấm vào nút Cha Trời, cầu mẹ Trời bấm vào nút mẹ Trời, cầu Quốc Tổ bấm vào nút số 3 Ông Bà.

+ Cầu cho cha mẹ phúc đức vạn thọ, sống lâu trăm tuổi, tai qua nạn khỏi, bệnh tật tiêu trừ, bấm vào nút số 4 cha mẹ. Nếu cầu cho cha mẹ và con cái, thì mình cầu cho cha mẹ xong mới cầu cho con cái.

+ Cầu cho con, cháu khoẻ mạnh, vợ/ chồng anh em hòa thuận, trọn đạo nhân luân hiếu nghĩa, bấm vào nút số 5 vuông tròn.

+ Cầu cho đất nước Việt Nam sớm chuyển mình đổi mới theo theo thiên ý Trời Cha, bấm vào nút Cha Trời. Cách cầu tốt nhất (cho đất nước) là bấm luân chuyển của cả 3 nút: Tổ Tiên - Cha Trời - Mẹ Trời, để đạt sự linh ứng cao nhất.

Nếu các vị KHÔNG BẤM vào ngôi nào, nghĩa là các vị cầu cho toàn thể pháp giới, khắp cùng chúng sanh.

Thầy sử dụng ni pháp nhận để cầu cho toàn pháp giới, chuyển công đức đến toàn nhân loại, cầu cho muôn loài chúng sanh đều được Cha Trời, Mẹ Trời phù hộ, độ trì. Và công đức của Thầy chuyển khắp cùng pháp giới.

*     *     *

* Lời cầu nguyện mẫu

“ - Niệm danh hiệu 3 ngôi Tối Cao Vũ Trụ, Quốc Tổ.

 - Đọc Thánh Chú Cội Nguồn.

 - Bấm vào nút trên hình thập tự giá 5 ngôi.

 - Nam Mô + tên uy danh (của Tổ Tiên, Cha Trời, Mẹ Trời, Quốc Tổ) hoặc tên danh hiệu (100 người con Trời).

 - Cầu nguyện + Khai Hóa Tổ Tiên/ Cha Trời Lạc Long Quân/ Mẹ Trời Âu Cơ/ Đức Quốc Tổ Hùng Vương/ tên 100 vị con Trời… + phù hộ, độ trì/ khai tâm, khai trí, giúp cho (ai đó), được (làm sao)…..

Nam Mô A Men. (sau đó các vị thả tay khỏi nút bấm).

Các vị có thể thêm phần phát nguyện (làm việc gì đó)….. hoặc hồi hướng công đức của mình (cho ai)….. nếu muốn. Việc này tuỳ thuộc vào tâm đạo của các vị.

Nam Mô A Men.”

d) Lưu ý:

+ Sự linh ứng và chuyển vận theo lời cầu nguyện lâu hay mau, được nhiều hay được ít là tuỳ thuộc vào tâm đạo và phước đức của mình.

+ Lời cầu nguyện theo đúng lương tâm, thuận theo thiên ý thời nhất định được như ý.

+ Nếu các vị không biết cầu chỗ nào, nghĩa là các vị chưa làm chủ được cái tâm của mình. Cho nên các vị không biết cầu vào đâu. Thật sự không mấy người hiểu được hết về Thiên Ấn, ngay cả một số vị tu lâu trong Cội Nguồn.

+ Nút Âm Dương bát quái mang nhiều triết lý ý nghĩa, nếu các vị không hiểu được, thời các vị không nên dùng. Nút này dành cho những vị thông về kinh dịch và vận chuyển âm dương của lực, khí, nước, gió, lửa, đất, v.v… để giúp dân giúp nước. Mật tạng vũ trụ còn nhiều ý nghĩa nữa.

*  *   *

7 - NAM MÔ A MEN NGHĨA LÀ GÌ?

Nam Mô A Men Không phải của riêng Phật hay riêng Chúa. Mà là Cội Nguồn của Phật Giáo cũng như Thiên Chúa. Nam Mô: là chỉ cho bản thể Cội Nguồn, hư không Tối Cao Vũ Trụ Tổ Tiên Như Lai Tạo Hóa. A Men: là chỉ cho bản thể Như Ý Tạo Hóa Tổ Tiên Như Lai. Thần thông Như Ý, quyền năng Như Ý, khai lập vũ trụ Như Ý, Tạo Vật Như Ý, Linh Ứng Như ý. Nghĩa của A Men là như vậy.

Khi chúng ta cầu lên ba ngôi Tối Cao Vũ Trụ. Tổ Tiên Như Lai Tạo Hóa, Cha Trời, Mẹ Trời. Nam Mô A Men sẽ được Như Ý. Như vậy Nam Mô là cầu lên bản thể Tối Cao Vũ Trụ Tổ Tiên Như Lai Tạo Hóa, A Men là lời cầu nguyện được như ý.

Tóm lại: Nam Mô A Men là cầu nguyện lên Cội Nguồn, của Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Nơi tối cao tối linh thiêng nhất Vũ Trụ. Sự cầu nguyện chân chính, nhất là sự cầu nguyện cứu nước cứu non, nhất định thành công. Hãy ĐỒNG LOẠT CẦU NGUYỆN đi, huyền cơ sẽ chuyển theo lời cầu nguyện của toàn dân, cũng như tập thể, cá nhân. Tất cả đều nằm trong ĐỨC TIN, NIỀM TIN của chính mình.             

Sự cầu nguyện lên Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa với Nam Mô A Men cũng linh nhưng không bằng cầu lên ba ngôi Bản Thể TỐI CAO VŨ TRỤ, TỔ TIÊN KHAI HÓA, CHA TRỜI, MẸ TRỜI. Cha Trời cũng chính là Chúa Trời. Niệm 4 chữ Nam Mô A Men bằng niệm hằng hà sa số Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Không có gì lợi ích hơn là niệm Nam Mô A Men trước và sau khi cầu nguyện, sẽ được Linh Ứng Như Ý.

NAM MÔ A MEN.

Nam Mô Khai Hóa Tối Thượng Tổ Tiên Vô Biên Như Lai (lạy)

Nam Mô Long Hoa Cửu Huyền Thiên Phụ Ấn Quang Tối Thắng Như Lai (lạy)

Nam Mô Tiên Cơ Đức Mẹ Địa Mẫu Dưỡng Sanh Như Lai (lạy)

Nam Mô Đức Hư Không Tạng Diệu Không Vô Biên Như Lai (lạy)

-> Cầu nguyện: Đức Khai Hóa Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu, Đức Hư Không Tạng…

NAM MÔ A MEN.

*     *     *

8 - Ý NGHĨA CỦA LẠY 4 LẠY - BÁI 4 BÁI

a) 4 LẠY

 Chỉ có bốn cấp trên đầu, trên cổ thiên hạ chúng ta, hay còn gọi là bốn ngôi.

1: Đó là Tổ Tiên Khai Hóa. Đấng tạo lập lên Vũ Trụ.

2: Là Hai Đấng Cửu Huyền Cha Trời Lạc Long Quân và Địa Mẫu Âu Cơ.

3: Ông Bà Tổ chúng ta cũng như ông bà nhiều đời nhiều kiếp, ông bà hiện tại.

4: Là Cha Mẹ sinh ra chúng ta song thân Phụ Mẫu.

Còn ta là ngôi số 5 ngôi con cháu. Chúng ta lạy bốn lạy là lạy bốn ngôi trên. Bên trong Thiên Ấn thể hiện thứ tự 5 ngôi này, từ trên xuống dưới.

b) 4 BÁI

Còn bái bốn bái.

1: Là ơn Đồng Bào.

2: Là ơn Tổ Quốc.

3: Là ơn Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.

4: Là ơn Thầy, Cô dạy dỗ.

Nói chung 8 ngôi này là 8 ngôi Chí Thánh Chí Linh, công ơn như non như biển. Trong 8 ngôi ấy có 2 ngôi không thể nghĩ bàn. Đó là Ngôi Tổ Tiên Khai Hóa. Ngôi Cửu Huyền Cha Trời Lạc Long Quân và Địa Mẫu Âu Cơ. Hai ngôi này tuy 2 là 1, tuy 1 mà 2, có thể nói Tổ Tiên Khai Hóa khai tạo lập nên vũ trụ rồi hiện thân ra Đức Cha Trời, Đức Địa Mẫu để mà cai quản điều hành vũ trụ, sanh con đẻ cháu. Chánh Thân, Chánh Mẫu của nhân loại con người.

*     *     *

9 - VÌ SAO CHỈ ĐỂ MỘT LƯ HƯƠNG TRÊN BÀN THỜ?

Ngày xưa các vị thường thờ rất nhiều lư hương như để trên bàn Phật một lư hương, để trên bàn thờ Gia Tiên một hoặc ba lư hương, để nhiều lư hương khác nữa... Nghĩa là các vị phân định phước họa khác nhau. Có nghĩa phước họa của Gia Tiên tùy thuộc theo họa phúc của Gia Tiên, thờ Phật Bồ Tát thì được phước họa của Phật Bồ Tát. Hoặc để ba lư hương là các vị phân định ra mỗi thứ một phước họa riêng biệt khác nhau. Khi các vị đã sử dụng, kích hoạt Thiên Ấn từ trên xuống dưới, nghĩa là khai mở toàn bộ cơ tận độ từ trên xuống dưới, từ Tổ Tiên Khai Hóa cho đến Ông Bà, Cha Mẹ hiện tại của mình. Có nghĩa là tất cả đều nằm trong sự thông suốt của phước đức từ trên xuống, mà họa tai không còn nữa. Cũng có nghĩa phước của Khai Hóa Tổ Tiên, Cha Trời Mẹ Trời, một trăm vị Ông Bà Tổ Tổ Tổ (một trăm vị con Trời), đặc biệt là Quốc Tổ Hùng Vương, sẽ bao trùm và tận độ, phước báu, bảo hộ, duy trì sự sống. Nếu các vị để một lư hương có nghĩa là MỘT TÂM HƯƠNG. Mỗi con người chỉ có một tâm hương của mình, cho nên tâm hương của mình sẽ ứng hiện vào một lư hương đó và ba cây nhang để mà phân định. Khi các vị thắp hương trên bàn thờ gia đình mình có nghĩa là mình sẽ kích hoạt phước đức và bảo hộ cho mình từ Tổ Tiên Khai Hóa cho đến Ông Bà hiện thời của mình. Nếu Cha Mẹ đã qua đời thì họ vẫn đứng vào ngôi như Ông Bà. Nhờ vậy mà linh đức của gia đình và cả Gia Tiên được bao bọc, được duy trì. Nếu gia đình mình có đức mà không thờ tự đúng thì chắc gì đã duy trì được đức độ đó. Muốn duy trì nó thì phải có người giữ đức độ đó chính là Cha Trời, Mẹ Trời, và các vị như Quốc Tổ, những người đứng vào cơ tận độ, họ mới giữ được phước, đức năng đó cho gia đình mình. Cũng giống như quý vị đi làm nhưng ngân hàng giữ tiền cho mình, chứ không để trong nhà vì dễ mất. Quý vị có hiểu vì sao gọi là hương linh? Các vị đọc Long Hoa Thiên Tạng sẽ thấy Cha Trời gọi muôn loài vạn vật bằng cách tạo ra muôn loại hương như huệ hương, trí hương, lạc hương... Sau này người ta muốn gọi linh hồn cũng đều sử dụng hương. Ở Trung Quốc họ không những đốt nhang mà còn đốt trầm hương. Một số vị vua chúa thời xưa thường sử dụng trầm hương mà giúp cho linh hồn của họ khỏe ra. Các vị đọc Long Hoa Mật Tạng sẽ thấy, khi Quốc Tổ Hùng Vương lâm phàm thì các hương hoa tỏa ra, mà khó có người hiểu được. Cho nên khi các vị “thắp nén tâm hương”, chỉ cần sử dụng một lư hương mà thôi.

*     *     *

10 - Ý NGHĨA CỦA VIỆC SỬ DỤNG CHIÊNG - TRỐNG - CHUÔNG - MÕ

Ngày nay khó có người hiểu được ý nghĩa của việc gõ chiêng, gõ trống trong đời thường và gõ chuông, gõ mõ trong tu hành, và làm như thế nào để gõ chuông, gõ mõ cho đúng. Vì không hiểu mà nhiều người gõ chuông mõ loạn xạ. Chuông - chiêng, trống - mõ cũng đều có ý nghĩa như nhau.

Chuông, mõ có từ vô lượng xa xưa rồi, từ khi con người sống theo bầy đàn nên cần có cái báo hiệu và cái để thúc giục làm việc và hành.

Chuông mang ý nghĩa là báo. Tiếng chuông đầu tiên của buổi Lễ là sự mở đầu đi vào Nghi Lễ. Người theo Văn Hóa Cội Nguồn khi hành lễ ở nơi thờ cúng mà có sử dụng chuông thì sau khi niệm xong mỗi danh hiệu của Tổ Tiên, Cha Trời, Địa Mẫu, Quốc Tổ lại gõ một tiếng chuông, rồi sau đó lễ lạy. Trước khi tụng niệm kinh luân, người ta cũng thường gõ chuông để báo cho tất cả mọi người xung quanh hoặc khai mở lời kinh. Chuông nhà thờ hay chuông chùa cũng mang ý nghĩa như vậy. Có nghĩa làm cho Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa và tất cả đều hướng về nơi có sự kiện để mà chứng tri công đức hay việc làm nào đó. Thường thì người ta gõ chuông mà không hiểu đúng ý nghĩa của nó. Sau khi đọc xong kinh kệ, người ta lại gõ tiếng chuông, chứ không phải vừa gõ chuông vừa đọc. Việc này có nghĩa là bảo vệ công đức viên mãn.

Còn mõ nghĩa là thúc giục, hay hành. Dù cho mình gõ mõ, tụng kinh ở chùa hay ở trong nhà thì toàn bộ thế giới âm cảnh và các vị long thần hộ pháp họ đều hướng về, chuẩn bị lắng nghe lời kinh kệ đó mà hưởng phước đức của họ. Vậy tại sao vừa tụng kinh lại vừa gõ mõ? Vì ý nghĩa của việc gõ mõ cũng tương tự như gõ trống. Gõ mõ có nghĩa là giục hay khiến cho toàn bộ tạng tánh (bao gồm cả tánh mê, tánh ngộ) của mình hướng về lời kinh đó và giục tâm mình cùng tất cả sở nghiệp của mình hướng theo, khiến cho tâm của người đó buông bỏ tất cả, an nhập vào từng lời kinh mà không cần biết đến mọi thứ xung quanh. Nên sau khi tụng kinh gõ mõ, tụng niệm kinh luân xong, thì tâm họ rất nhẹ nhàng.

Khi các vị tụng kinh thì ma quỷ khó mà xâm nhập được vì các tạng tánh của mình nhờ tiếng mõ mà giục tâm hành theo lời kinh. Đây chính là pháp độ của các vị Phật. Ở chùa, khi gõ chuông tất cả thế giới âm cảnh, ma quỷ khắp cùng đều hiện hữu hướng về, nghe kinh để hưởng phước. Một số người tụng kinh, gõ mõ mà bị các linh hồn âm cảnh quấy phá là do họ không hiểu và tâm của họ không an trụ được vào lời kinh. Các vị thầy đạt tới đỉnh cao, họ dùng tiếng mõ để trị tâm ma, đi thẳng, an trụ vào bên trong mà không sợ ma quỷ. Nếu biết sử dụng tiếng mõ để tụng kinh thì người đó rất mau thành đạo, vì tâm linh, tạng tánh của họ bị giục nên dễ tiến gần đến thanh tịnh. Nhưng mõ cũng chỉ là phương tiện dành cho những người tu chưa ngộ đạo mà thôi.

Chiêng, trống cũng có từ thời rất lâu xa rồi. Trong đời sống, con người sử dụng trống với ý nghĩa là thúc giục, hành động, chiêng mang ý nghĩa là báo. Ngày xưa khi đánh trận, người ta dùng tiếng chiêng để báo hiệu chuẩn bị đánh, dùng tiếng trống để thúc giục toàn quân, tất cả mọi người đều xông lên, đi theo tiếng trống, dù cho đó là binh sĩ già hay yếu cũng đều hành theo, khiến cho thế trận trở nên mãnh liệt nhất. Vào thời Quốc Tổ Hùng Vương, chiêng và trống được kết hợp thành trống đồng. Trên mặt trống đồng thời đó còn mang cả linh bùa nữa (chính là hình vẽ của Thiên Ấn trên mặt trống và vô số dịch kinh trên trông đồng nữa), nên khi xông pha đến đâu là linh địa, khí trận dồn đến đó, phá tan các bùa chú của thiên hạ. Nhờ đó mà khó ai làm gì nổi con Rồng cháu Tiên. Quốc Tổ là bậc đại giác ngộ, nên khó có người hiểu được những lời và việc làm của Quốc Tổ. Các làng mạc, họ đúc trống đồng cũng bởi họ muốn giữ vững sự thịnh trị của các làng mạc đó, vì có linh bùa trên trống.

Chuông kim cang, Trống bát nhã: là tên gọi của hành pháp. Chuông là báo để hướng về thành pháp kim cang. Trống là dục bát thức hành theo lời kinh trở thành trống bát nhã.

*     *     *

 chim hac

11 - Ý NGHĨA CỦA VIỆC THỜ CHIM HẠC

Trong kinh Long Hoa Mật Tạng có viết: Chim Hồng Lạc (chim hạc) là loại chim khôn ngoan, hiền lành. Khi Long Lang Sùng Lãm lên ngôi Quốc Vương Hoàng Đế. Thường có các giống Chim quí như Chim Hồng Lạc bay đến đậu khắp kinh thành. Non Sông Đất Nước yên bình, âu ca thịnh trị, thái bình an lạc. Long Lang lên ngôi Quốc Vương lấy niên hiệu là Kinh Dương Vương, đời thứ nhất. Từ đó về sau cứ mỗi lần giống Chim Hồng Lạc xuất hiện, là dân chúng được mùa trúng lớn và cho người vẽ giống chim này ở các nơi thờ tự.

Chim hồng lạc là một trong những biểu tượng linh vật của Việt Nam, tượng trưng cho hòa bình, sự may mắn và nền văn minh lúa nước của người Việt... Nên việc để chim hạc ở những nơi thờ tự như Đền, nhà thờ Tổ đều rất tốt và linh ứng.

*     *     *

12 - Ý NGHĨA CỦA ĐÔNG BÌNH TÂY QUẢ

Tại sao Tây để quả và Đông để bình (hoa)? Điều này có ý nghĩa là:

 - Mặt Trời mọc hướng Đông, có nghĩa là buổi sáng chúng ta trổ đóa hoa trí tuệ, để gặt quả về chiều. Như cuối ngày chúng ta sẽ gặt thành quả lao động, nên người ta gọi là Đông Bình - Tây Quả.

 - Đông trổ hoa, chính là hương hoa, hoa của trí tuệ, ẩn tàng chính là hương linh, đi vào thế giới của tâm linh. Điều này cũng có nghĩa Đông là chủ về tâm linh.

 - Tây trổ quả, kết quả. Tây là chủ về vật chất.

Tuy nhiên, nếu bàn thờ nhỏ, các vị để mâm ngũ quả ở giữa cũng không ảnh hưởng gì.

*     *     *

13 - Ý NGHĨA CỦA MÂM NGŨ QUẢ

Trong đạo, mâm ngũ quả tượng trưng cho những người hành đạo mà thành 5 quả vị: quả Phật, quả Thánh, quả Tiên, quả Thần, quả Chúa. Con số 5 mang nhiều ý nghĩa từ thời Quốc Tổ Hùng Vương tới tận bây giờ, như trống đồng thời Hùng Vương có 14 tia cũng là con số 5 (1+4=5). Con số 5 chính là con số của tham thiên lưỡng địa. Trên Thiên Ấn thờ Trời cũng có con số 5 trong đó.

Ngoài ra còn có thể hiểu ngũ quả 5 màu chính là tượng trưng cho sự đoàn kết của 5 màu da anh em, mà màu vàng (hành thổ, thường là nải chuối) ở giữa, chính là vị trí trung tâm của mâm ngũ quả.

*     *     *

14 - THỜ NỘI NGOẠI CHUNG MỘT BÀN THỜ

Mang ý nghĩa nhân sinh thì nội hay ngoại đều có công như nhau. Bất kể thứ gì cũng cần có sợi dây kết nối mới không xung khắc. Như sợi dây nối của anh em chính là ông bà, cha mẹ, khiến cho anh em tránh được sự xung khắc. Ngày xưa, các vị thờ theo sự riêng biệt, phước ai nấy hưởng, họa ai nấy chịu, nên cuối cùng sanh ra sự chia rẽ. Nghĩa là bên dương (nội) không chịu bên âm (ngoại), và bên âm cũng không chịu bên dương mà dẫn tới chia rẽ. Vậy muốn đạt tới âm dương dung hòa thì phải có sự kết nối. Ví như bóng đèn sáng cần có điện từ âm, dương và sợi dây tóc bóng đèn để dung hòa và chuyển đổi năng lượng mà tỏa sáng.

Một số vị Thầy nói không nên thờ nội ngoại chung vì có sự chia rẽ bên nội, bên ngoại để rồi cuối cùng dẫn đến sự phân biệt. Mà sự phân biệt chính là nguồn gốc sâu xa của toàn bộ các sở nghiệp (quả nghiệp) sau này. Ví dụ, quý vị có 2 đứa con mà phân biệt đứa học giỏi, đứa học dở, thương nhiều, thương ít thì liền sanh ra sở nghiệp chính là những hành động phân biệt đối xử. Mọi gốc gác linh hồn của con người bể ra khỏi bản thể Linh Giác Vũ Trụ đều là do có sự phân biệt mà tạo ra. Sự phân biệt chính là nguồn gốc của họa và phước.

Để con người trở về nguồn gốc, không còn sự phân biệt nữa cần có mối liên hệ chung. Đó chính là cội gốc con người. Thờ tự cũng vậy, nếu các vị thờ tự theo Văn Hóa Cội Nguồn thì nhờ có sợi dây nối chính là Bản Thể Linh Giác, Cha Trời, Mẹ Trời, Ông Bà Tổ Tổ Tổ mà sự tận độ, bảo dưỡng, độ trì, phước báu đó khiến cho Âm Đức hiệp chuẩn nhau, giúp cho các vị Gia Tiên đều được trở về Non Tiên Cực Lạc, hoặc tái sanh làm người, và làm mất đi các nghiệp quả của sở nghiệp ác, chỉ còn sở nghiệp của thiện lành. Nhờ sở nghiệp của thiện lành đó mà các Âm Đức ĐỒNG QUY NHẤT BỔN, kết nối trở lại, làm cho phước đức, âm đức của gia đình được hội tụ. Có thể nói, thờ tự trong Văn Hóa Cội Nguồn chính là hội tụ linh đức của gia đình. Vì vậy mà bên nội hay bên ngoại đều thờ chung được. Các linh hồn đó đều có dây nhân duyên với nhau hết, lại còn chung dây nối Bản Thể Linh Giác, Cha Trời, Mẹ Trời và Quốc Tổ mà làm cho phước đức của gia đình được tăng lên nhanh chóng và phước quả to lớn vô cùng.

*     *     *

15 - THỜ THẦN TÀI, THỔ ĐỊA, ÔNG CÔNG, ÔNG TÁO

Để tránh nhầm lẫn, Thầy cũng nói thêm, Bàn thờ Gia tiên chỉ dành để thờ các vị từ Cha Mẹ, Ông Bà... Quốc Tổ Hùng Vương (Phật Di Lặc), Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật A Di Đà, Phật Dược Sư, Chúa Giesu, Quán Thế Âm Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát... (nói chung 100 vị con Trời, Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, Ông Bà Tổ Tổ Tổ), ở vào cơ tận độ, cho tới đỉnh cao, nguồn gốc của con người và Vũ Trụ, chính là Cha Trời, Mẹ Trời, Bản Thể Linh Giác Khai Hóa Tổ Tiên Tối Cao của Vũ Trụ. Bàn thờ Gia Tiên đi vào tận độ, phước báu và sự hội tụ linh ứng.

 Còn các vị thờ Thần Tài, Thổ Địa, họ giữ thổ cư, là công vụ không phải tận độ nhân loại nên thờ dưới đất, chứ không thờ chung trên bàn thờ Gia Tiên. Mặc dù vậy, trong Gia Tiên cũng có nhiều linh hồn được làm Thần Tài, Thổ Địa, hoặc làm Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa khắp cùng.

Còn thờ Ông Công, Ông Táo là thờ tại gian bếp trong gia đình, đi vào sự ứng hiện của nhiệm vụ. Hiện nay, ở một số nơi, họ chưa hiểu hết được ý nghĩa sâu xa của việc thờ tự mà dẫn đến thờ tự lộn xộn, nhầm lẫn nên làm giảm hoặc mất đi sự linh ứng cho chính gia đình mình.

*     *     *

16 - CÓ NÊN CÚNG CÁC VỊ HÀNH KHIỂN, HÀNH BINH, PHÁN QUAN VÀO ĐÊM GIAO THỪA KHÔNG?

Việc cúng 12 vị hành khiển, hành binh chi thần, phán quan là có từ thời hậu thiên bát quái ra đời. Người ta mường tượng ra thêm và sử dụng các vị linh thần địa la cả ác lẫn thiện, các vị đó có pháp thuật thần thông, để tạo ra quyền phép cho họ. Cũng giống như con người tạo ra tiền, nhưng tiền lại có linh hồn (do con người tạo ra, vì con người là tiểu thiên vũ trụ) hút lại con người chạy theo vậy. Cho nên họ sử dụng cái đó để làm giàu cho các vị ở bên Trung Hoa. Việc này không nằm trong kinh dịch tự nhiên của Trời, không thuộc về linh khí của Trời, mà đi vào địa la thần trong hậu thiên bát quái, lần lần đi đến mê tín dị đoan. Giống như đi đến một mảnh đất, họ sẽ biết các vị thần ở mảnh đất đó, mà họ sử dụng các vị thần đó đứng vào trong bát quái đó, cho nên họ càng cúng nhiều, các vị đó càng hưởng dương khí nhiều, và có phép thuật càng nhiều. Rồi đến khi các vị không còn cúng theo yêu cầu của họ nữa thì họ sẽ rời bỏ đi dẫn tới không còn linh nghiệm nữa. Còn nếu các vị theo họ, thì họ làm cho các vị lần lần trở thành nô lệ của thế giới tâm linh đó. Hoặc đến một lúc nào đó, xuất hiện những thành phần cao tay hơn, thì họ sẽ phá đi những điều đó. Cho nên nó giống như thắng làm vua thua làm giặc vậy, vì vậy được mất không biết lúc nào. Cho nên cúng 12 vị hành khiển đi vào mê tín dị đoan nhiều hơn, có nghĩa mình đi vào nô lệ thần quyền, chứ không phải là sự giải thoát của đắc đạo, không đúng với kinh dịch của Trời. Con người là tiểu thiên vũ trụ, cũng chính là ông Trời thứ 2, nên con người cũng tạo ra đồng tiền có linh hồn, con người cũng tạo ra hậu thiên bát quái, để mà điều khiển linh địa ở nơi đó, nghĩa là sử dụng các vị thần.

Thầy sẽ giải thích thêm để cho các vị hiểu. Trong Bát Quái có Tiên Thiên bát quái và Hậu Thiên bát quái. Hậu Thiên bát quái, người ta sử dụng Địa La Thần. Nghĩa là họ sử dụng các thần khí, phép thuật của các vị Địa La Thần để trấn giữ vào trong bái quái đó. Khi sử dụng Hậu Thiên bát quái, các vị thường phải cúng vái nhiều lắm. Người Trung Quốc cũng vậy, họ cúng rất nhiều vì thần khí của gia đình đều dựa vào thần khí của địa la thần, của các cung chủ, của các vị thần, các vị Atula… trấn giữ các cung, phương hướng, chi của hậu thiên bát quái. Càng cúng nhiều thì các vị thần càng gia hộ nhiều nên dẫn tới linh thiêng khắp cùng. Mỗi lần cúng là mỗi lần linh thiêng nên dẫn đến càng lúc càng mê tín, nhưng được mất không do mình làm chủ mà phụ thuộc vào họ, hoặc sự tranh hùng tranh tài của các vị thầy cúng, chứ không phải tự nhiên của tiên thiên chân khí, không phải tự nhiên của khí hóa vũ trụ. Sức mạnh của hậu thiên bát quái là dựa vào sức mạnh của các vị thần. Cúng càng nhiều thì các vị thần đó hưởng phước càng nhiều, họ thu nạp linh khí càng nhiều nên họ trấn giữ càng nhiều. Nên về sau người Trung Hoa, hay những người sử dụng hậu thiên bát quái, kinh dịch thường đi vào quyền phép cục bộ. Ví dụ đối với nhà của mình, họ thường sử dụng các vị thần ở trong các khu vườn nhà mình để trấn giữ trong các hậu thiên bát quái. Nhưng gặp những người cao cơ hơn, họ phá hết phép thuật trong nhà mình. Cho nên hậu thiên bát quái đánh trận tuỳ thuộc vào con người, do năng lực cao thấp của mỗi con người, tuỳ thuộc vào linh chủ trong địa đất đó, linh chủ trong gia đình đó. Nhờ vậy mà người làm về hậu thiên bát quái họ mới có thể kiếm tiền được. Họ khiến cho những người giàu có phải si mê quyền phép cục bộ của những người đó. Họ cúng kiếng rất nhiều, dần dần dẫn tới mê tín dị đoan khắp cùng mà làm sai lệch đi kinh dịch, lần lần người ta không hiểu kinh dịch lúc nào đúng, lúc nào sai. Khi các vị linh chủ đó quở phạt và không đứng vào hậu thiên bát quái nữa, thì gia chủ cũng tiêu. Sử dụng hậu thiên bát quái lâu dần khiến con người biến thành nô lệ của kinh dịch thần quyền. Đa số mọi người không hiểu được điều này. Khổng Minh cũng vậy, Khổng Minh sử dụng hậu thiên bát quái để triển khai binh hùng tướng mạnh. Nhưng nếu có người khác cao cơ hơn, họ có thể hóa giải hậu thiên bát quái của ông. Cho nên về sau khó có người hiểu hết được kinh dịch.

Còn tiên thiên bát quái đi vào kinh dịch của Trời. Trong Văn Hóa Cội Nguồn, Thầy không sử dụng hậu thiên bát quái. Kinh dịch trong Văn Hóa Cội Nguồn là kinh dịch của thiên, của khí hóa vũ trụ, có nghĩa là sử dụng linh khí tự nhiên của vũ trụ. Mà khi linh khí của vũ trụ hội tụ thì các vị long thần hộ pháp cũng phải theo kinh dịch của Trời, cho nên nó làm chủ cả tiên thiên và hậu thiên bát quái. Người theo Văn Hóa Cội Nguồn không cần phải cúng các vị đó, vì nó đi vào nô lệ thần quyền, không phải đi vào giải thoát linh hồn. Dần dần con người dẫn tới lệ thuộc, mê tín dị đoan khắp cùng, đi vào thần quyền quá lớn và dần dần đi vào lạc cội lạc nguồn.

*     *     *

17 - Ý NGHĨA CỦA NGÀY TẾT NGUYÊN ĐÁN TRONG VĂN HÓA CỘI NGUỒN

Xu hướng hiện nay, Tết Nguyên Đán đã đi vào thoái trào, khiến cho con người quá nặng nhọc về vật chất, không hiểu ý nghĩa của tâm linh, không hiểu ý nghĩa của văn hóa ngày Tết vì văn hóa đã bị lạc Cội lạc Nguồn. Thầy nghe một phát biểu của GS Võ Tòng Xuân về việc nên gộp Tết Nguyên Đán vào Tết dương lịch và Việt Nam chỉ đón Tết Dương Lịch như các nước trên thế giới, để hội nhập với thế giới. Có nghĩa là bỏ văn hóa của mình, chạy theo văn hóa phương Tây, làm mất đi văn hóa của người Việt. Ở nước ngoài, như ở các trường đại học nước Mỹ, họ nghỉ đón năm mới từ 23/12 đến 05/01, thời gian khoảng 2 tuần. Còn bây giờ Tết của Người Việt bận rộn đủ thứ như quà, biếu, cúng kiếng, ăn nhậu tùm lum… khiến con người thêm bao nhiêu gánh nặng. Đó đều không phải sự thoải mái trong tâm linh, sự thoải mái trong văn hóa. Vì các vị không hiểu và bỏ quên ý nghĩa tâm linh của nó, nên dẫn tới làm sai lệch và chán nản.

Trong xã hội hiện đại bây giờ, một số gia đình giàu có họ thấy ảnh hưởng tới đời sống riêng tư của họ, nên họ bỏ đi nước ngoài du lịch, mà họ không hiểu gì về ý nghĩa của ngày Tết. Những người đó họ sống vì lợi ích cá nhân của mình là chính, chứ không phải sống vì gia đình, vì anh em đồng bào. Có nghĩa là họ là người quên ơn, quên nghĩa, quyên truyền thống văn hóa, không biết gì. Nên cuối năm dẫn nhau đi du lịch cho riêng mình, không biết gì ơn, không biết gì nghĩa. Những gia đình đó không hiểu gì về truyền thống, lạc Cội mất Nguồn, nên thường hết phước rồi tới hoạ.

Ngày mồng 1 Tết là ngày hội tụ của gia đình, để chỉ dạy cho con cái hiểu biết về nhân luân đạo hiếu với ông bà để cho con cháu biết nhớ ơn và tưởng nhớ tới công ơn sanh thành, dưỡng dục. Vì vậy, ngày đó mọi người luôn hướng về gia đình, Tổ Tiên, nhà thờ Họ để tưởng nhớ tới ân đức của các bậc tiền nhân: ơn Tổ tiên, Cha Trời, Mẹ Trời, ơn Quốc Tổ, ơn đất nước, quê hương, và cả những người có ơn với mình… Nó là ngày hiếu kính, ngày hướng về Ông Bà, Tổ Tiên, Quốc Tổ, Cha Trời, mẹ Trời, Nguồn Cội, chứ không phải như hiện nay, các gia đình thường đi thăm cô, dì, chú, bác, cậu, mợ… mà khiến cho con người mệt mỏi và chán nản. Đó là ngày hội họp, chứ không phải đi tới các gia đình để chúc Tết thăm nhau. Ở phương Tây cũng vậy, vào ngày Christmas, họ tụ hộp về nhà cha mẹ hay ông bà để mà chia sẻ với nhau.

Trong họ tộc, người nào cao nhất còn sống thì đó chính là nơi hội tụ, để anh em, con cháu gặp mặt nhau. Hễ ông bà mất rồi, thì nơi đó chính là nhà của cha mẹ mình. Nhà thờ Tổ bên ngoại, nhà nhờ Tổ bên nội cũng là những nơi hội tụ, nơi giảng truyền nhân luân hiếu nghĩa, giảng truyền đạo đức, truyền thống của gia đình, chúc mừng, hoan hỉ với phước thọ của mỗi con người. Còn thời gian rảnh mới làm những việc khác mà có ý nghĩa cho mình. Gặp nhau không phải để uống rượu, ăn chơi quá đà, mà gặp nhau để truyền dạy cháu con mai sau về nhân nghĩa, cách làm người, hay chia sẽ những kinh nghiệm quý giá về những cách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội cho năm mới, cả những cách báo hiếu cho cha mẹ, bề trên và v.v…

Theo quan niệm của người Việt xưa thì mồng 1 Tết Cha, mồng 2 Tết Mẹ, mồng 3 Tết Thầy. Trong mọi tôn giáo đều có những người Thầy như Thích Ca Mâu Ni, Thầy dạy đạo, thầy dạy nghề,… nên ngày mồng 3 Tết, chúng ta nên đi đền chùa để tạ ơn. Nếu nhà thờ có thờ Cha Trời, Mẹ Trời, thì con người cũng nên đến nhà thờ để tưởng nhớ công ơn của Cha Trời, Mẹ Trời. Vì lạc Cội lạc Nguồn, lạc mất văn hóa truyền thống, cho nên làm lẫn lộn văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Một số người chán ghét văn hóa Trung Hoa, và thiếu hiểu biết về văn hóa truyền thống, nên tưởng rằng ngày Tết truyền thống của dân tộc là theo văn hóa Trung Quốc chứ họ đâu biết rằng đất nước chúng ta có bề dày lịch sử lâu đời, là cái nôi của nền văn minh văn hóa tâm linh tinh thần từ thời Quốc Tổ Hùng Vương (cách đây 5000 năm). Vì thiếu hiểu biết nên họ mới mong muốn đem văn hóa dân tộc hòa nhập rồi tiến tới hòa tan vào văn hóa phương Tây. Đây đều không phải là điều tốt đẹp gì. Có thể nói, chính họ đã dẫn con cháu vào chỗ bất trung, bất hiếu. Chúng ta nên biết, ý nghĩa tâm linh lớn nhất của ngày mồng 1 chính là biết phụng kính, tưởng nhớ tới 3 ngôi tối cao vũ trụ, ngày hội tụ của các gia đình, ngày hội lớn trên khắp quê hương, đất nước.

Hiểu được những ý nghĩa đó, ngày Tết trở nên thiêng liêng chứ không giống như mọi người vẫn thường làm hiện nay, ngày Tết biến tướng đủ thứ, mang nặng yếu tố vật chất, hơn thua, ganh ghét, thăm mỗi nhà mỗi ly rượu, đó không phải là ly rượu mừng mà là ly rượu giết người, làm hại, suy giảm trí tuệ con người, dẫn tới những vụ tai nạn thương tâm vào những ngày Tết. Ngày Tết người Việt bây giờ không còn linh thiêng nữa, tồn tại khắp nơi sự án ngữ của các vị địa la thần, mất đi văn hóa truyền thống ý nghĩa của người Việt. Đa số người Việt vì không hiểu ý nghĩa tâm linh ngày Tết mà thường đem cái phụ làm cái chính, cái chính thì bị che mất, bị bỏ đi. Mà cái chính mới là cái quan trọng. Cuối cùng sống trong cái phụ: mồng 1 đi đền chùa cúng bái, lễ lạy thần linh mải miết mà quên đi Tổ Tiên, Cha Trời, Mẹ Trời (chánh thân, chánh mẫu), ngày hội tụ gia đình. Nên họ quên mất điều chính yếu, ngày Tết là ngày hội tụ, ngày hưởng lạc, ngày về Nguồn về Cội, nên dẫn tới khổ liên miên. Đa số con người bây giờ vừa bảo thủ, vừa chấp vào trong tâm mình quá nhiều, lại thêm lối sống ích kỷ, cá nhân mà khiến cho gia đình xào xáo, xã hội rối ren, lộn xộn đẫn tới cả tâm linh và thể xác lạc cội lạc nguồn.

Văn Hóa Cội Nguồn chính là văn hóa tối thượng của đất nước Việt Nam. Ngày Tết mở đầu cho mùa xuân, mùa của trăm hoa đua nở, mà mùa xuân là thế giới của đa nguyên, là thế giới của đạo trong Văn Hóa Cội Nguồn. Người nào hiểu được Tết mùa xuân của người Việt, thì người đó hành xử rất văn minh, có trí tuệ, giữ được hiếu hạnh, truyền thống tốt đẹp của bách tộc Văn Lang, chứng được quả đạo của Cội Nguồn.

*     *     *

18 - NHỮNG NGÀY LỄ TRONG VĂN HÓA CỘI NGUỒN

 (những ngày Lễ dưới đây tính theo âm lịch của Người Việt)

MÙNG MỘT TẾT

Cúng giao thừa và làm lễ đầu giờ Thìn (7h - 9h) buổi sáng ngày mùng 1 Tết vô cùng quan trọng. Vì ngày này chính là ngày TỔ TIÊN. Hiện Thân ra CHA TRỜI, MẸ TRỜI. Ba ngôi tối cao vũ trụ.

Cũng chính là ngày vía LONG HOA GIÁO CHỦ, DI LẶC, QUỐC VƯƠNG THỈ TỔ HÙNG VƯƠNG tiếp nối di chí ÔNG CHA. Được coi như là ngày hội tụ, về Cội về Nguồn. Đền ơn đáp nghĩa.

NGÀY RẰM TỨC LÀ NGÀY 15 GIỮA THÁNG

Là ngày Cha Trời Mẹ Trời hiện thân xuống chốn nhân gian sanh con đẻ cái, được coi như là ngày tình thương mang lại an vui cho muôn loài vạn vật. Vì nó là ngày tình thương, ngày đem lại an vui cho nên hồi xưa ở nhà, Thầy thường đem hương, hoa, trà, quả ra ngoài sân cúng để tạ ơn Trời Đất. Rồi Thầy đem công đức của mình mà hồi hướng cho nhân loại, hồi hướng cho cả thế giới của âm cảnh lẫn thế giới của hiện tại. Cho nên trả ơn, trả nghĩa là đem tình thương phân bố cho tất cả. Vào ngày Rằm, hễ ai làm được công đức gì thì nên đem công đức đó mà phân phát cho thế gian, thì đó chính là người chân tu, chứ không phải là giữ nó làm của riêng cho mình. Vì ngày Rằm là ngày tình thương nên cúng ngoài sân thì các vị phải sử dụng pháp thí của cho, còn trong nhà thì các vị sử dụng pháp thí của nhận.

Thầy thấy trong dân gian, có một phong tục vẫn còn lưu truyền cho đến tận ngày nay. Đó là rất nhiều người dân Việt Nam thường dâng hương, sắp lễ cúng tại bàn thờ Gia Tiên vào hai ngày mùng 1 và 15 hàng tháng, để tưởng nhớ công ơn Tổ Tiên, Ông Bà, Cha Mẹ, người thân đã qua đời. Đây là một việc làm thể hiện được truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, Uống Nước Nhớ Nguồn. Vì thế, trong Văn Hóa Cội Nguồn, quý vị vẫn nên duy trì việc làm ý nghĩa này.

NGÀY MÙNG 5 THÁNG 5

Là ngày Mẹ Địa Mẫu Âu Cơ khai hoa nở nhuỵ, sanh ra nhân loại con người, Ông Bà Tổ Tổ Tổ, 5 màu da nhân loại anh em cách đây 75 triệu 600 ngàn năm. Một năm chỉ có một ngày: vừa ngày 5, vừa tháng 5, nghĩa là tròn, là ngày đại đoàn kết 5 màu da anh em, chứ không phải chỉ riêng cho dân tộc Việt Nam. Ý nghĩa lớn hơn, đây chính là ngày đoàn kết tam thiên, đại thiên thế giới. Dân gian gọi là ngày Tết Đoan Ngọ, hoặc Tết giết sâu bọ, nguyên nhân do văn hóa độc hại phương bắc xâm nhập vào giai đoạn Văn Hóa Cội Nguồn thất truyền, nên mới có sự biến đổi phi lý này, nên họ biến ngày 5/5 thành ngày giết sâu bọ, không phải ngày của đại đoàn kết. Các loại cây lá hái trong ngày này, đặc biệt vào giờ ngọ (11h - 13h) thường có tác dụng chữa bệnh tốt nhất, trở thành vị thuốc nam, nên ở một số nơi các thầy thuốc thường lên núi hái thuốc. Nguyên do là khi Đức Mẹ Âu Cơ sanh con, thì dòng sữa chính là 100 loại ngũ cốc ra đời, các linh mộc, cây cối đều được hưởng khí chất rất lớn nên trở thành các loại thuốc để trị bệnh cho con người. Chứ không phải tự nhiên vào ngày 05/05 mà các cây cỏ có dược tính lớn như vậy đâu. Đó chính là sự bí truyền mà lâu nay người ta chưa khám phá được hay hiểu biết về nó.

 - Ngày 20 Tháng 2 là ngày sinh Cao Hùng Lan, Quốc Tổ Hùng Vương.

 - Mùng 10 tháng 3 ngày giỗ Quốc Tổ về Trời.

 - Chủ Nhật:

Là ngày cuối tuần, chính là ngày mở màn cho tuần tiếp theo, là ngày Cha Trời, Mẹ Trời dạy bảo con cái. Chủ nhật được coi là ngày di chí cũng là ngày thuận hiếu, của con cái đối với Cha Trời, Mẹ Trời. 7 ngày, cũng tượng trưng cho 7 giáo, mà Cha Trời sẽ dạy cho 7 giáo này những lời dạy bảo của Trời. Cha Trời cũng chính là bậc thầy lớn nhất của vũ trụ. Nên đền ơn đáp nghĩa, cũng là ngày này, là ngày lắng nghe những lời dạy bảo của Trời, mà để hành xử cho đúng lương tâm.

 - Ngày 2 Tháng 9 Năm Quý Dậu, Quốc Tổ Khai sinh ra nhà nước Văn Lang.

 - Ngày 2 Tháng 3 Năm Ất Sửu, Quốc Tổ thuyết giáo nói ra Văn Hóa Cội Nguồn Đại Đạo Vũ Trụ.

--------------------------------------------------

CHƯƠNG II
LONG HOA LƯỢC TRUYỆN SỐ 36:
BÍ MẬT PHƠI BÀY KHÓ CHE MẮT THÁNH

Ngôi nhà cổ ở thôn Vĩnh Tân đang yên lắng bỗng nghe tiếng xe Honda chạy vào trên xe một chàng trai trẻ người ấy là Đạt. Đạt nhanh chóng xuống xe bước vào nhà không thấy Phong liền hỏi người thanh niên già dặn lớn tuổi hơn Đạt. Anh Trực anh đến chơi lâu chưa Phong đâu rồi, Trực chưa kịp trả lời. Phong từ trong phòng bưng bộ ly cùng bình trà bước ra chuyện gì vậy Đạt, Đạt cười nói hôm nay mầy có rảnh không?

Phong vừa rót trà vừa nhìn Đạt như có vẻ tò mò rảnh thời có rảnh nhưng là chuyện gì nhậu hả.

Đạt nói làm gì có chuyện nhậu chuyện khác kìa, Phong hỏi chuyện gì quan trọng không? Đạt nói quan trọng cũng được mà không quan trọng cũng được, đi với tao đến điện Thánh. Điện Thánh linh lắm cầu gì cũng được miễn là có niềm tin, tín đồ đệ tử rất đông xin xăm bói quẻ để biết trước vận thời. Quan Thánh Đế Quân, thường nhập xác nói cơ sấm rất hay vận mệnh đất nước đều biết rõ, nhất là trị bệnh tà ma giỏi lắm.

Đạt vừa nói vừa tỏ vẻ thành kính khi nhắc đến Quan Thánh Đế Quân, quay sang Trực, Đạt nói anh Trực biết không Quan Thánh chuyện gì cũng biết trước nắm cả quyền lực trần gian địa phủ biết bao nhiêu Linh Hồn được Quan Thánh đưa về Trời.

Phong nghe Đạt ca ngợi Quan Thánh như sấm nổ liền nói từ lâu tao nghe người ta thổi phồng Quan Thánh Quan Công dữ lắm. Đạt nói không phải thổi phồng đâu mà tất cả đều là sự thật mình quy y Điện Thánh hơn năm năm rồi. Quan Thánh hiển linh khắp đất nước chỗ nào cũng có mặt Quan Thánh hễ cầu là có kể gì mấy nghìn Điện Thờ khắp cả nước khối người quỳ lạy cầu Quan Thánh ban cho phúc đức cũng như siêu độ về Trời.

Phong nói theo tao nghĩ toàn là Quan Thánh giả không có Quan Thánh nào là thiệt cả. Đạt nghe Phong nói thế liền cười nói Đạt biết Phong từ lâu rồi đa nghi còn hơn Tào Tháo.

Phong nói không phải là tao không tin, nhưng việc Quan Thánh Đế Quân nhập hồn khắp nơi trên đất nước Việt Nam không có cơ sở để đáng tin. Vì Quan Thánh Đế Quân là người Trung Quốc, không phải là người Việt Nam.

Theo định luật vũ trụ Phật ở nước Phật, Tiên ở nước Tiên không có kiểu Phật đến nước Tiên làm Trời khi chưa cho phép của nước Tiên. Ở trần gian cũng thế thôi dù là Thánh bên Trung Quốc muốn qua Việt Nam làm Trời cũng phải được sự cho phép của truyền thống Anh Linh Dân Tộc. Đằng nầy Quan Thánh người Tàu muốn nhập chỗ nào thời nhập muốn thưởng phạt ai thời thưởng phạt chẳng khác nào là Ông Tổ của nước Việt người dựng lên đất nước nầy.

Phong nhìn Đạt rồi nói, Đạt có nghe nói đến Hồn Thiêng Dân Tộc chưa. Hồn Thiêng Dân Tộc là nói đến năm nghìn năm Văn Hiến từ thời dựng nước đến giờ. Với chiều dài lịch sử trải qua hàng mấy mươi triều đại, triều đại nào cũng đầy rẫy Vua, Vương, Quan, chưa kể vô số anh hùng tướng lĩnh bảo vệ non sông Tổ Quốc. Nước nào cũng thế không nước nào khác nước nào. Tất cả đất nước đều có chủ quyền người sống bảo vệ chủ quyền theo cách người sống. Hồn Thiêng Dân Tộc bảo vệ chủ quyền theo kiểu Hồn Thiêng Dân Tộc, trấn giữ khắp nơi. Từ thời Hùng Vương dựng nước tới giờ năm nghìn năm Văn Hiến con cháu Tiên Rồng thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa phải nói là hằng hà sa số nhất là ở thời đầu dựng nước Văn Lang. Lớp thế hệ đầu thời dựng nước khi qua đời số thời siêu sanh trở về Trời, số thời ở lại theo lệnh Quốc Tổ thành lập Nhà Nước Tâm Linh Văn Lang, cai quản thế giới Tâm Linh. Thời làm sao Quan Thánh Đế Quân người Trung Quốc qua Việt Nam như chỗ không người được. Quan Thánh Trung Quốc muốn qua Việt Nam phải có sự cho phép của Nhà Nước Tâm Linh Văn Lang. Nhà Nước Tâm Linh Văn Lang sống theo Luật hành xử theo Luật được Hiến Định trong Hiến Pháp Văn Lang nền Quốc Đạo Dân Tộc.

Quan Thánh Đế Quân người Trung Quốc chứ đâu phải người Việt, muốn làm gì thời làm. Nói cho cùng sống sao thác vậy những linh Hồn ngoại quốc muốn qua Việt Nam đều phải xin phép không có chuyện ngang nhiên như chỗ không người khi đất nước Việt Nam có Nhà Nước Tâm Linh Việt Nam. Tao khẳng định rằng Quan Thánh nhập xác trên khắp đất nước Việt Nam toàn là Quan Thánh giả. Tất cả chỉ là Ma Việt nhập xác xưng Quan Thánh Đế Quân mà thôi.

Phong nói theo như tao nghĩ con cháu Tiên Rồng Việt Nam khi mãn kiếp trần có người siêu sanh về Trời, có người ở lại chốn trần gian trở thành Hồn Thiêng Dân Tộc. Đạt nên biết con cháu Rồng Tiên Dân Tộc Văn Lang nay là Dân Tộc Việt Nam có máu chống ngoại xâm dữ lắm như Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Quang Trung Nguyễn Huệ, v.v… Cũng đã cho ta thấy Quan Thánh Đế Quân qua Việt Nam không phải dễ. Làm gì có chuyện bắt con cháu Việt Nam quỳ lạy cũng như ban phước giáng họa cho con cháu Tiên Rồng Việt Nam. Làm Như Quốc Tổ Hùng Vương không bằng. Tao khẳng định lần nữa Quan Thánh Đế Quân nhập xác các nơi điện Thánh trong nước Việt Nam đều là Quan Thánh Giả một trăm phần trăm.

Đến lúc nầy Trực mới lên tiếng nói Phong nói có lý đấy, theo Trực nghĩ Quan Thánh hoạt động nhập xác trên khắp đất nước Việt Nam là Quan Thánh giả. Chỉ là những Hồn Ma người Việt giả làm Quan Thánh Đế Quân nhập xác mà thôi.

Đạt nói Trực có gì làm bằng chứng Quan Thánh nhập xác các điện Thánh trong nước đều là giả. Chỉ là Ma Việt nhập xác xưng Quan Thánh Đế Quân.

Trực nói quá rõ ràng rồi còn gì.

1 -  Quan Thánh Đế Quân không phải là Dân Tộc Việt Nam, nếu qua Việt Nam phải được Nhà Nước Tâm Linh Văn Lang cho phép, không có cái kiểu hoạt động khắp đất nước nhập xác nói gì thời nói, ban phước cho ai thời ban, giáng họa cho ai thời giáng mà phải dưới sự quản lý của Nhà Nước Tâm Linh Văn Lang.

2 - Quan Vân Trường, hay còn gọi là Quan Vũ dù cho hiển Thánh trở thành Quan Thánh Đế Quân, cũng chỉ là vị Quan Thánh của thời chiến quốc Trung Quốc không phải là vị Thánh Việt Nam. Nên không được hoạt động trên đất nước Việt Nam như tất cả vị Thánh Việt Nam. Tùy trường hợp Quan Thánh Đế Quân đã nhập Quốc Tịch Việt Nam, thành Hồn Thiêng Việt Nam mới được quyền hoạt động trên đất nước Việt Nam.

3 - Quan Vân Trường chỉ là vị quan theo phò Lưu Bị thời tam quốc. Không thể sánh với Quốc Tổ cũng như 41 đời Hùng Vương, chưa kể các vị Vương, Vua, Quan từ thời An Dương Vương xuống Hai Bà Trưng đến nay những vị anh hùng tự tôn Dân Tộc chống quân xâm lược.

Với ba ý chính trên cho thấy Quan Thánh Đế Quân hoạt động nhập xác dạy đạo trên đất nước Việt Nam là Quan Thánh giả một trăm phần trăm. Những Linh Hồn nhập xác xưng Quan Thánh Đế Quân ấy là Linh Hồn người Việt lạc Cội lạc Nguồn mê tín tôn thờ ngoại bang, tôn thờ Quan Thánh Trung Quốc. Nhưng vì có chút cải tâm hành thiện khi chết Linh Hồn còn ở lại trần gian vì muốn được siêu thoát về Trời nên nhập xác truyền dạy đạo đức không lẽ xưng ta là Ma nên giả danh xưng Quan Thánh Đế Quân. Những người mê tín dị đoan tưởng Quan Thánh thật nên nghe theo làm theo.

Nói tóm lại: Những người tôn thờ ngoại bang phần lớn sa đọa xuống các tầng Địa Phủ với cái tâm u mê cuồng tín chứa nhiều tội lỗi không phân biệt được đâu là lẽ đúng.

Nghe Trực phân tích có cơ sở khoa học, Đạt nghe cũng có lý nhưng vì theo điện Thánh lâu ngày khó mà nhận thức ra chân giả bằng nói hai bạn nói nghe cũng có lý nhưng tớ vẫn tin người nhập xác kia là Quan Thánh Đế Quân, Quan Công thiệt.

Phong nói muốn biết thật giả cũng dễ thôi, mình hỏi thiệt Đạt có mấy Ông Quan Thánh Đế Quân? Đạt trả lời ngay không cần suy nghĩ, làm gì có nhiều Quan Thánh Đế Quân.

Phong lại hỏi: Như vậy các điện Thánh thờ Quan Công Quan Thánh trong nước khi nhập xác xưng ta là Quan Thánh đều chỉ một người? Đạt nói đương nhiên là một Quan Thánh Đế Quân rồi.

Phong lại hỏi Như vậy Quan Thánh ở Điện nầy dạy thời Quan Thánh ở Điện kia có biết không? Đạt nói đương nhiên là biết rồi vì chỉ có một Quan Thánh Đế Quân làm gì có mình nói mà mình không biết. Chỉ trường hợp Quan Thánh giả, Quan Thánh nầy nói Quan Thánh kia mới không biết. Ví như Phong nói gì thời Phong phải biết chớ, chỉ trừ trường hợp Phong là người loạn trí mới nói đằng trước quên đằng sau. Hoặc là nhiều Phong giả nên Phong nầy nói Phong kia không biết.

Phong nói tao muốn đánh cá với Đạt, nếu tao chứng minh là Quan Thánh giả thời Đạt sẽ thế nào? Đạt nói không những tao từ bỏ không theo Quan Thánh mà còn đãi một chầu ra trò. Phong nói Trực làm chứng nhé nếu Phong thua thời Phong sẽ theo Đạt quỳ lạy nghe theo lời dạy Quan Thánh Đế Quân còn đãi một chầu ra trò cho sự thua cuộc của mình.

Trực nghe xong nghĩ trong bụng Phong lấy gì chứng minh là Quan Thánh Đế Quân nhập xác là giả, chứng minh bằng cách nào liền nói Phong có tỉnh táo không vậy. Đạt nói Phong thua là cái chắc khi nhìn thấy Quan Thánh Đế Quân nhập xác dạy đạo.

Phong hỏi: Đạt biết mấy điện Thánh. Đạt nói tao biết ba điện Thánh thuộc tầm cỡ trong huyện nầy. Phong nói thế là đủ rồi Đạt dẫn phong đến điện Thánh thứ nhất đi Phong làm gì thời kệ Phong, Đạt, Trực, làm theo không được hỏi không được nói chỉ chú tâm theo dõi tất cả, mọi sự là do Phong.

Thế là cả ba lên đường Đạt dẫn đến điện Thánh mà xưa nay thường cung phụng tin tưởng đi theo, vừa đến nơi thấy người ta lớp trong lớp ngoài rất đông. Đạt nói vợ ông to bà lớn cũng thường đến đây cúng bái tin theo lời dạy Quan Thánh, Đạt muốn cho Phong, Trực, khẩu phục tâm phục chứng kiến cảnh Quan Thánh nhập xác nên dẫn Phong, Trực đến nơi gần nhất để chứng kiến Quan Thánh nhập xác.

Phong, Trực, nhìn người đàn ông đứng tuổi mà Đạt gọi là xác Thánh. Phong nhìn kỹ người đàn ông gọi là xác Thánh trông có vẻ có gì đó không được bình thường, nhưng ai cũng bái lạy cho là xác Ông. Kề cận xác Ông lúc nào cũng có hai đệ tử để ghi chép lời dạy của Quan Thánh khi nhập xác. Phong bước tới dâng phong bì cúng dường xác Ông, xác Ông chỉ tay nói đưa phong bì cho đệ tử.

Xác Ông bước đến điện thờ, thờ Quan Thánh còn có cả Quan Âm Bồ Tát, Mẹ Diêu Trì Hoàng Mẫu. Quả thật là điện thờ trang nghiêm. Hai đệ tử thắp hương đâu vào đấy đọc hồi kinh kệ tán thán uy danh ca tụng Quan Thánh, Quan Âm Bồ Tát, Mẹ Diêu Trì Hoàng Mẫu.

Xác Ông bước lại cái bàn có để khay thau với đôi đũa lớn đen mun, đệ tử tín đồ đều quỳ xuống, Phong quỳ mọp cúi đầu sát đất trông thành kính lắm. Đạt nhìn Phong cười thầm trong bụng sợ chưa Quan Thánh mà nhập xác thời khiếp vía. Không hiểu xác Ông lâm râm đọc những gì tay cầm đôi đũa tay cầm nhang. Bỗng xác Ông rùng mình đập đôi đũa xống khay cái rầm, dậm chân hét lên. Ta là Quan Thánh Đế Quân từ nơi cung Thái Thượng họp cùng với các chư Tiên bàn việc trần gian xong mới xuống. Thế là các đệ tử xúm nhau cúi đầu mà lạy. Phong lạy lia lạy lịa rồi nói chúng con ngu muội không hiểu thiện ác xin Quan Thánh dạy bảo cho.

Quan Thánh nghe xong rồi nói. Ngươi nghiệp chướng còn nặng lắm may mà ngươi đến đây sớm, nếu không đến đây sớm thời không sao tránh khỏi kiếp nạn. Phong vừa lạy vừa hỏi con phải làm sao cho hết kiếp nạn. Quan Thánh nói ngươi phải làm thế nầy thế nầy. Phong nói Đạt mau ghi lại để khỏi quên.

Đạt được ý nguyện, Phong nói thôi lui ra thế là ba người bước ra ngoài. Ra khỏi nơi chen lấn chật chội Phong thở phào nhẹ nhõm, rồi nói mau chở mình đến ngôi điện Thánh Thứ Hai.

Đạt vì muốn cho Phong, Trực, biết thế nào là quyền năng của Quan Thánh bằng dẫn Phong, Trực, đến điện thánh Phú Xuân nổi tiếng là linh thiêng Đạt cũng thường hay đến đây nghe Quan Thánh Đế Quân truyền dạy. Cũng may Quan Thánh vừa mới nhập xác kẻ quỳ người lạy, Đạt nhờ quen biết với hai đệ tử xác Thánh nên vượt qua số đông đến gần xác Thánh, Phong nhanh chóng móc tiền cúng dường rồi quỳ lạy nói Quan Thánh vừa dạy con cách đây không lâu gần một tiếng con lại quên mất xin Quan Thánh dạy lại cho con để con làm theo.

Quan Thánh nói mấy ngày nay Ta đi khảo sát những tội nhân ở Địa Phủ xem có tội nhân nào nhẹ tội thời đề nghị cho về Trần Gian đầu thai trở lại làm người cho kịp giờ gặp hội Long Hoa làm gì gặp đệ tử mà dạy. Đệ Tử vì nhẹ dạ cả tin, thời mạt pháp nầy thiếu gì những Hồn Ma giả dạng Ta. Ta mới là Quan Thánh Đế Quân, quyền cai quản Trần Gian, Địa Phủ. Ngươi có tánh hay quên vì nghiệp ác còn nặng để Ta hóa giải cho, tức thời Quan Thánh bắt ấn miệng đọc chú phù phép ra toa cho thuốc. Rồi nói nhớ là thường đến đây Ta giải nghiệp cho cũng như ban phước lành thời mọi việc đều tai qua nạn khỏi. Phong, vâng dạ lia lịa rồi lui.

Ra khỏi điện Thánh. Trực nói Quan Thánh nào thiệt Quan Thánh nào giả đây. Đạt chẳng nói gì nhưng sắc mặt thời đã biến đổi. Phong nói Đạt dẫn đến điện Thánh thứ ba đi, nhìn sắc mặt Đạt có vẻ giờ đây hơi khác Phong hiểu rõ điều đó nhưng không nói gì. Đạt nói theo tao thế là ba người đi đến điện Thánh Bà Nhì vì điện Thánh nầy là do Bà Nhì lập lên nghe đâu là người Tàu đến Điện Thánh nầy rất đông. Điện Thánh Bà Nhì trông bề thế còn hơn điện Thánh Đạt thường đến. Cũng may là Quan Thánh chưa đến giờ nhập xác phải chờ nửa tiếng nữa Quan Thánh mới nhập xác.

Cũng như các điện Thánh khác, Phong làm thủ tục cúng dường rồi ngồi chờ đợi Quan Thánh nhập xác truyền dạy. Người đông lớp trong lớp ngoài, nhìn sắc phục hai hộ pháp đệ tử như tướng Trời, nhất là sắc phục xác Quan Công như quan lớn triều đình thời đã khiếp sợ. Ở đây không phải chỉ tụng kinh ca ngợi Quan Thánh, Mẫu Mẹ mà có cả ban nhạc tấu lên làm cho khí thế tôn nghiêm tăng thêm niềm tin tuyệt đối. Trầm hương nghi ngút, đã đến giờ Quan Thánh nhập xác, xác Ông rùng mình đập xuống bàn cái rầm làm khiếp đảm hàng đệ tử. Ta là Quan Thánh Đế Quân từ cung trời Đà La xuống đây giải trừ kiếp nạn cho các hàng đệ tử. Cũng như ban sự may mắn cho các hàng đệ tử. Các hàng đệ tử lạy thôi là lạy. Phong không bỏ qua thời cơ vừa lạy vừa nói con có cái tánh hay quên Quan Thánh mới dạy cho con nhưng con lại quên mất xin Quan Thánh dạy lại cho.

Xác Ông nhìn Phong một hồi rồi nói Ta mới gặp ngươi lần đầu hơn nữa Ta từ cung trời Đà La xuống đây, người ngươi gặp chỉ là Ma giả ra Ta. Tánh hay quên của người là do kiếp trước ngươi có nhiều tội lỗi nên kiếp nầy trí nhớ kém dẫn đến hay quên. Nhưng không sao ta sẽ dùng nước phép hóa giải, xác Ông nhúm hoa bông điệp vào ly nước phất lên đầu của Phong miệng đọc thần chú, sau đó ra toa kê vài vị thuốc về sắc uống thời khỏi. Hai đệ tử theo hầu xác Ông ghi chép rồi đưa cho Phong biểu Phong ra quầy thuốc đưa toa thuốc cho người cắt thuốc với số tiền tùy lòng cúng dường. Quan Thánh nói nhớ là đến đây thường xuyên Ta giải nghiệp ngu si kém trí nhớ cho. Phong chưa chịu lui còn nói Quan Thánh gặp con hai lần rồi mới đây Quan Thánh không nhớ sao.

Xác Ông quát lên làm ai cũng hoảng, cả buổi nay Ta ở cõi Đà La cùng các vị Tiên nghe Mẹ Diêu Trì dạy về Trời làm gì gặp ngươi có lẽ ngươi đã gặp ma quỷ giả ra Ta để gạt ngươi. Ta nói rồi ngươi quên sao, thời đại mạt pháp Ma Quỷ thường mượn danh ta làm mưa làm gió. Cũng may là ngươi đến đây ta nói cho để biết đâu là thiệt đâu là giả. Phong nghe xong bái lạy rồi lui ra.

Ra đến xe Trực nói, một Ông Quan Thánh hội họp ở cung Thái Thượng, Một Ông Quan Thánh phán xét những Linh Hồn nơi Địa Phủ. Một Ông Quan Thánh ở cõi trời Đà La nghe Mẹ Diêu Trì dạy Đạo Trời, biết tin Ông Quan Thánh nào đây.

Đạt thở dài nói tớ đã thua một cách tâm phục khẩu phục, tất cả chỉ là Quan Thánh Đế Quân giả. Đúng là Ma người Việt giả làm Quan Thánh Đế Quân nhập xác khắp cùng Điện Thánh, không con Ma nào biết con Ma nào. Thật tội nghiệp cho những người bị lừa. Vì không có trí huệ để nhận rõ chân tướng. Cũng như không hiểu rõ về Đạo Luật vũ trụ. Phân định chủ quyền của mỗi nước, mỗi quốc gia theo Huyền Cơ Đạo Luật vụ trụ.

Thế là Đạt đãi một chầu ra trò. Đạt rút ra một triệu nói Phong vì muốn chứng minh thật giả mà phải tốn tiền tớ hoàn lại số tiền mà Phong cúng dường. Phong nói tao đã cúng cho Ma Quỷ giả danh rồi tao không nhận lấy tiền của Đạt đâu.

Đạt nhìn Phong hỏi ai bày cho Phong cách phân biệt nhận dạng thiệt giả nầy. Tớ nghĩ Phong không bao giờ nghĩ ra kế sách nầy đâu. Trực xen vào nói tớ cũng nghĩ vậy.

Phong nói Dân Tộc Việt, Nước Việt Nam có Nguồn có Cội, có Truyền Thống Anh Linh năm nghìn năm Văn Hiến, Quốc Tổ khai lập lên đất nước Văn Lang bằng nền Quốc Đạo. Cũng như Nhà Nước Tâm Linh Văn Lang gìn giữ Quốc Hồn Dân Tộc chờ Quốc Tổ trở lại. Chuyển đại Pháp Luân mở ra Văn Hóa Cội Nguồn đưa Dân Tộc Việt Nam con cháu Tiên Rồng sang trang sử vàng, tỏa sáng khắp năm châu.

Thật ra Tớ theo Văn Hóa Cội Nguồn lâu rồi, trí huệ khai mở nên mới nghĩ ra kế chứng minh Quan Thánh thật, Quan Thánh giả. Thật ra Quan Thánh, hay Quan Công bên Trung Quốc muốn đến Việt Nam thời phải xin phép Nhà Nước Tâm Linh Văn Lang, Hồn Thiêng Dân Tộc đang cai quản lãnh thổ, Hồn Thiêng Sông Núi Đại Việt. Nên không có Quan Thánh Đế Quân thật Trung Quốc trên đất nước Việt Nam. Những Hồn Ma nhập xác xưng Quan Thánh Đế Quân ấy là những Linh Hồn tiêm nhiễm Văn Hóa Trung Quốc tôn thờ Quan Thánh. Nhưng vì có chút căn lành nên không bị sa xuống các cõi Địa Phủ ở lại trần gian thọ hưởng hương hoa trà quả nhang khói. Cũng như truyền dạy Đạo lập công hầu mong siêu sanh thiên giới. Được sự cho phép quan sở tại, tướng lĩnh tâm linh địa phương cho phép. Nếu những Hồn Ma nhập xác xưng Quan Thánh ấy làm bậy thời bị bắt như thường. Hoặc bị sa đọa xuống các tầng Địa Phủ.

Đạt nói cảm ơn bạn Phong, đã cứu vớt người bạn lạc Cội lạc Nguồn. Tớ đã ba lần chứng kiến thời không còn nghi ngờ gì nữa. Tớ khẳng định rằng Quan Thánh nhập xác khắp cả nước Việt Nam đều là Quan Thánh giả hiệu, giả dạng Quan Thánh hết thảy. Chỉ tội nghiệp cho những người mê muội không nhận ra sự thật trở thành nô lệ Thần Quyền, nô lệ Văn Hóa Tàu. Đã là nô lệ Thần Quyền thời lấy đâu ra thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Tớ từ nay đi theo Văn Hóa Cội Nguồn, Truyền Thống Ông Cha như bạn Phong đã đi. Không còn nô lệ Văn Hóa Tàu nữa.

Trực xem vào, Văn Hóa Cội Nguồn do Quốc Tổ truyền dạy không đi theo còn đi theo ai nữa. Chúng Ta là con Rồng Cháu Tiên chỉ có thờ Trời, Cha Lạc Long Quân, Mẹ Âu Cơ đi theo con đường Quốc Tổ.

Đạt, Phong, Trực cười vui vẻ trút gánh nặng bấy lâu nay mê tín dị đoan, sai đường lạc Cội.

--------------------------------------------------

CHƯƠNG III
THIÊN ĐÀNG, TRẦN GIAN VÀ ĐỊA PHỦ

1 - ĐỊA NGỤC

Chúng ta nên biết con người thiếu đi văn hóa, nhất là văn hóa đạo đức chính nghĩa, thì không gọi là con người nữa, vì không có lương tâm lương tri của con người, hung tàn, bạo ác, dối trá, giả hình, mánh khóe, thủ đoạn lừa gạt, lòng dạ vô cùng độc hiểm, tham lam, tàn bạo, cướp của giết người không gớm tay, kiêu căng, ngạo mạn, không kể gì đến luân thường đạo lý, chai lì trong tội lỗi, bất nhân, vô ơn, bội nghĩa, biến linh hồn thành quỷ dữ, nhiều khi còn thua loại thú cầm.

Như vậy: xã hội địa ngục là do cái ác nhân xấu của nhiều người, tạo lên một kết quả hiện tại, cũng như tương lai, thành một xã hội địa ngục, xã hội không văn hóa, xã hội không đạo đức, cuộc sống không còn luân thường đạo lý, sống hung bạo, lòng độc hiểm vô cùng, cuộc sống không văn hóa, không đạo đức, là nguyên nhân tạo lên xã hội lạc hậu, khốn khổ vô cùng, chiến tranh, hỗn loạn, tan tóc, cướp bóc, đàn áp, cưỡng bức, thống trị, bóc lột, vơ vét, chiếm đoạt, lao dịch, tù đày, muôn hình vạn trạng của sự cực khổ, khốn khổ, đói khổ.

Xã hội như thế chính là xã hội địa ngục trần gian, xã hội của âm thịnh dương suy, và lẽ đương nhiên những con người lòng dạ độc ác hung bạo mất hết lương tâm lương tri ấy, khi họ chết đi thần hồn của họ mang nhiều ác nghiệp sẽ đưa họ xuống các tầng địa phủ, nơi cõi âm khí hình thành lên xã hội địa ngục, xã hội hung tàn bạo ác gấp hàng trăm lần ở cõi trần gian, xã hội của sự tàn sát xấu xé ăn nuốt lẫn nhau, xã hội của sự tra tấn dã man, không tìm đâu ra chút lương tâm đạo đức.

Như vậy: Những ác tánh là nguyên nhân cội gốc hình thành lên xã hội địa ngục trần gian, cũng như xã hội địa ngục âm phủ.

Có nghĩa là: Cứ một người làm ác là một thành viên, hay một viên gạch xây nên địa ngục trần gian cũng như địa ngục âm phủ. Nhiều người làm ác thì xã hội địa ngục càng rộng, càng đông, càng lớn.

Khai Hóa Tổ Tiên Như Lai, khai lập lên vũ trụ, phân làm ba, Thiên Đàng, Trần Gian, Địa Phủ. Trần Gian là cõi tạm, Thiên Đàng, Địa Phủ là cõi chính, nhân loại Trần Gian hành thiện thì sanh lên các tầng Trời, sanh sống trên Thiên Đàng cực lạc, an vui tự tại. Nhân loại Trần Gian hành ác, thì sa đọa xuống các tầng địa phủ, hình thành lên vô số địa ngục, khốn khổ vô cùng. Thiên luật, Thiên Ý của Cha Trời đã như thế, tùy nhân loại lựa chọn, lên Thiên Đàng hưởng phước, hay xuống Địa Phủ thọ tội đủ thứ loại hành hình thì do mình quyết định.

ĐỊA PHỦ CŨNG CHIA LÀM:

ĐÔNG, TÂY, NAM, BẮC, TRUNG ƯƠNG.

Nhân loại con người năm màu da anh em khi ở chốn trần gian đến thời Mạt Pháp Mạt Kiếp lạc Nguồn, lạc Cội, lạc vào ác đạo, tham tàn bạo ác cũng chia ra nhiều thành phần, vì thế khi đọa xuống tầng địa phủ, ở từng vùng địa phủ khác nhau. Mỗi tầng địa phủ có vô số địa ngục hành hình các tội nhân. Ví dụ: ngục đâm chém, ngục chảo đồng, ngục cối xay sắt, ngục gà mổ heo xơi, ngục chặt khúc, ngục bỏ vào ao giá, ngục bị cung tên bắn, ngục xẻ thịt phân thây, ngục rút gân đục sườn, ngục lột da nạo mặt, ngục moi gan móc tim, ngục móc mắt cắt lưỡi, ngục cưa xẻ, ngục quếch nem, ngục xối nước sôi, ngục ngậm lửa, ngục nướng quay, ngục kéo lưỡi ra cày...

Nơi Địa Phủ không có ánh sáng mặt trời, bóng đêm bao phủ, đất đai không như ở chốn trần gian, mà đất đai toàn là sắt, thép, kẽm, chì, tanh hôi nồng nặc, âm u lạnh lẽo, không có cây cối chi cả, đồ ăn thức uống khan hiếm, phần nhiều chỉ là rong rêu, Quỷ, Cầm, Thú, cai quản, quỷ có quyền lực nhất chính là quỷ Dạ Xoa, thứ nhì là quỷ đầu trâu, mặt ngựa, nơi đâu cũng thấy bóng Quỷ chập chờn tàn sát ăn nuốt những linh hồn sa đọa xuống Địa Phủ, không ai là Vua, không ai là Dân chỉ có lũ ác quỷ, cũng như cái ác đối đầu với cái ác, và sự ăn nuốt lẫn nhau, tai kiếp trùng trùng, khắp nơi khắp chốn, tiếng gào thét tan thây nát thịt, cảnh moi tim, móc ruột, xé xác, xảy ra khắp nơi, không thể nào diễn tả cho hết.

ÂM PHỦ ĐỊA NGỤC có 3 đường khổ và có 18 tầng:

1 - Địa ngục tù đày.

2 - Luân hồi Ngạ Quỷ.

3 - Luân hồi Súc Sanh.

Từ tầng Địa Phủ thứ 1      10: Có mười vị Chư Thiên Đại Thánh phát tâm làm Vua nơi các tầng Địa Phủ, gọi là Thập Điện Diêm Vương.

Theo thông lệ người chết, nhất là người ác Linh Hồn vô cùng sợ hãi. Khi Linh Hồn xuất ra khỏi thể xác liền bị cảnh giới đen luân chuyển, Linh Hồn liền quay ngược đầu trở xuống, sa đọa xuống các tầng Địa Phủ tùy theo ác nghiệp nặng hay nhẹ khác nhau mà sa đọa xuống các tầng Địa Phủ khác nhau. Khi Linh Hồn hoàn Hồn trở lại liền bị Quỷ bắt giam vào ngục. Còn những Linh Hồn nghiệp ác nhẹ hơn tuy không bị bắt giam vào ngục nhưng không bao giờ được yên thân, vì cuộc sống nơi xã hội Địa Phủ vô cùng khốn khổ chém giết cấu xé, tàn sát ăn nuốt lẫn nhau, sống trốn chui, trốn nhủi vào hốc đá nơi hang động đói khát vô cùng, không biết đến chừng nào ra khỏi Địa Phủ để được đầu thai.

Những Linh Hồn lú lẫn là những người già khi còn sống đã lú lẫn, phải trải qua 49 ngày mới hồi phục lại trí giác căn linh trí mạng. Nếu ác Căn lớn liền thấy ác báo kéo tới sợ quá chui trốn vào cảnh giới tối liền bị huyền cơ xoay chuyển xuống tầng Địa Phủ.

Từ tầng Địa Phủ thứ 11     18: Là những tầng Địa Phủ ác nghiệp trong tâm thức hiện ra rồi tự xử lấy, chết đi sống lại liên miên, không có một giây ngừng nghỉ, chết đi sống lại trải qua hàng ngàn, hàng triệu năm.

Sự hành hình nơi tầng Địa Phủ thứ 18 quả thật là khủng khiếp, Ác Nghiệp Linh Hồn tự xử lấy Linh Hồn. Chịu đủ thứ khổ sở nào là đao đâm, kiếm chém, tên bắn, chó sắt xé xác, rắn sắt ăn thịt. Đổ chất đồng sôi vào miệng, móc ruột bằm thây. Vì do tạo nghiệp ác sâu dày nên bị hành hình như thế, không lúc nào ngớt trải qua vô số kiếp, chết đi sống lại không biết bao nhiêu vạn ức lần. Những khí cụ hành hình, như là chĩa ba, đao, kiếm, cung tên, dều hâu sắt, chó sắt, gậy nung đỏ áp vào người, cối giã, cối xay, cưa, đục, chảo dầu sôi. Đói thời ăn toàn sắt nóng, khát thời uống nước đồng sôi, khổ sở nối nhau không một giây ngừng nghĩ. Một ngày muôn vạn lần chết. Đến khi nghiệp ác tiêu hết, Linh Giác Linh Hồn trở thành Vô Thức đầu thai làm Côn Trùng ở trên khô, loài cá ở dưới nước. Linh Hồn tiến hóa muôn triệu ức năm may ra mới được đầu thai làm người.

 - Nếu phạm 5 tội ngỗ nghịch giết Cha, giết Mẹ thời khó mà đầu thai trở lại làm người, dù hết nghiệp họa tai kiếp Địa Phủ, luân hồi chuyển kiếp làm súc sanh. Sự nặng nhẹ trong một hành vi tội ác có ba cấp như sau,

+ Hành vi phạm tội giết CHA MẸ vô ý,

+ Hành vi phạm tội giết CHA MẸ, có ý.

+ Hành vi giết CHA MẸ ác ý. Người nầy nhất định sa đọa vào địa ngục thứ 18 không có ngày ra.

 - Trong một hành vi tội ác đều có sự nặng nhẹ khác nhau, vì thế Linh Hồn sa đọa cũng khác nhau, mức án bị huyền cơ xoay chuyển cũng khác nhau. Ví dụ:

+ Phản nghịch lại Thiên Ý CHA TRỜI chỉ vì sự vô ý, tội nầy tuy có nhưng không cao.

+ Phản nghịch lại Thiên Ý CHA TRỜI, phản nghịch có ý, cố ý tội nầy tuy có nặng, nhưng căn thân Linh Hồn chưa bị hủy diệt.

+ Phản nghịch lại Thiên Ý CHA TRỜI có hành vi ác ý, thời căn thân Linh Hồn nầy nhất định bị hủy diệt, trí huệ ý thức căn thân huệ mạng không còn. Trở lại Linh Hồn Côn Trùng, Thảo Mộc, tiến hóa căn thân ý thức tu hành, tiến hóa lập lại.

+ Hủy báng Cội Nguồn nhưng chỉ là sự vô ý, không nhận thức được lời hủy báng của mình, tuy có tội nhưng không nặng.

+ Phản nghịch lại Văn Hóa Cội Nguồn có hành vi chủ ý, tội nầy tuy có nặng, nhưng biết ăn năng sám hối thời cũng thoát khỏi, có thể tu hành tiến hóa lên Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.

+ Còn những Linh Hồn có ác ý phản nghịch lại Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Ý Cha Trời, Thiên Đạo Vũ Trụ, thời khó mà cứu vãn. Linh Hồn sẽ rơi vào ác đạo tối tăm mãi mãi không biết ngày nào thoát ra.

(xem Long Hoa Pháp Tạng Kinh, Sau Thời Hậu Đế Kinh sẽ nói rõ hơn).

2 - TRẦN GIAN

Nhân loại ở vào thời đại mạt pháp, mạt kiếp nầy, không những lạc Cội, lạc Nguồn, mà còn tiêm nhiễm nặng về chủ nghĩa cục bộ cá nhân, độc quyền, độc tài, độc trị, dẫn đến tham tàn bạo ác, không việc ác nào mà không làm. Thậm chí ăn thịt đồng loại, còn thua cả loài Cầm, Thú, cái ác lên ngôi tuôn ra tràn ngập khắp nơi khắp chốn. Con người không còn lương tâm, lương tri. Thời đạo đức chỉ là đồ bỏ. Linh Hồn con người đã chuyển hóa thành Linh Hồn Ác Quỷ, Linh Hồn Ác Ma.

Lòng quỷ quyệt, dối trá, giả hình, mánh khóe, thủ đoạn, lừa gạt, hiểm độc vô cùng, chỉ biết buông mình trong thú vui dục lạc, lăn lóc mãi trong vũng bùn không hề biết chán, tánh tình dữ tợn, cướp của giết người không gớm tay, tham tàn bạo ác, tham lam vô độ, kiêu căng quá mức xem thường Đạo Trời, không kể gì đến luân thường đạo lý, nhân cách vứt bỏ, phẩm hạnh vùi chôn, không ra thể thống con người nữa. Không những vua, quan, mà ngay cả người dân cũng thế, thời kỳ đen tối bao trùm hiểm họa cùng khắp. Địa Ngục trần gian đã đến hồi cực thịnh.

Cha Trời thường dạy gieo trồng cái nhân Ác sống ngược lại Lương tâm. Chính mình tự đưa mình xuống các tầng Địa Phủ chịu muôn nghìn ức sự khốn khổ.

Nhân loại ở vào thời kỳ mạt vận, mạt pháp, mạt kiếp ác đạo thịnh hành, hầu hết linh hồn con người đã biến thành linh hồn ÁC QUỶ, linh hồn ÁC MA, những người đại gian đại ác tàn bạo quá mức không còn chút lương tâm, lương tri, không kể gì đến đồng loại, tuy là người nhưng Linh Hồn biến thành Linh Hồn Ác Quỷ khi chết đi linh hồn ra khỏi thể xác con người liền sa đọa xuống các tầng Địa Phủ.

Còn những người tuy gian ác nhưng còn chút lương tâm lương tri, chưa đánh mất luân thường đạo lý, khi chết đi Linh Hồn thoát ra khỏi thể xác con người trở thành LINH HỒN MA, không bị sa đọa xuống các tầng Địa Phủ, ở lại cõi trần gian sanh hoạt vào cảnh giới đêm. Nói đến trần gian cõi tạm, là nói Ma cũng như con Người. Sống trên địa cầu nầy đều là sống trên cõi tạm cả. Cuộc sống của Ma cũng thế cuộc sống của Người cũng thế. Nếu cuộc sống của Ma không còn chút Lương tâm, Lương Tri thời liền bị chuyển xoay sa đọa xuống các tầng Địa Phủ. Cuộc sống của Người cũng vậy. Cuộc sống Dương gian cuộc sống Âm cảnh đồng nhất lý. Chẳng khác gì nhau. Thiện thời siêu lên các Tầng Trời sanh sống. Ác thời đọa xuống các tầng Địa Phủ chịu khổ.

Những Linh Hồn Ma có ba cấp, bậc thượng, bậc trung, bậc hạ.

Linh Hồn Ma bậc thượng là những Linh Hồn còn Lương Tâm, Lương Tri, hay tạo phước đức, hay tạo nghiệp lành, hay giúp người, giúp đời, những người nầy khi chết đi cảnh giới màu xanh hiện ra Linh Hồn liền ẩn mình vào đó ở lại chốn nhân gian không sa đọa xuống các tầng Địa Phủ.

Những Linh Hồn Ma bậc thượng nầy, thường là VUA MA, nếu tái sanh trở lại làm người thường là những bậc giàu sang phú quí, hay Quan, Tướng, được mọi người kính nể.

Linh Hồn Ma bậc trung, là những người còn lương tâm, không đánh mất lương tri, luân thường đạo lý vẫn còn, nhưng ít gieo phúc đức, ít hay tạo nghiệp lành, ít giúp đời giúp người, khi chết đi cảnh giới màu xanh lợt hiện ra, liền ẩn mình vào đó không sa đọa xuống các tầng Địa Phủ, ở lại cõi trần gian làm Ma Thần, phò giúp Vua Ma. Nếu đầu thai trở lại làm người, thường là những giàu có, bậc trung, cũng được mọi người yêu mến nhưng không kính nể.

Linh Hồn Ma bậc hạ, là những người còn chút ít Lương Tâm, chút ít Lương Tri, tuy ác nhiều hơn thiện, nhưng không sa đọa xuống các tầng Địa Phủ, vì ánh sáng màu xanh lợt xuất hiện cứu vớt Linh Hồn liền ẩn vào đó khỏi sa xuống các tầng Địa Phủ, ở lại cõi trần gian làm Ma Dân, nếu được đầu thai trở lại làm người, thời phải chịu cảnh nghèo khổ đủ ăn đủ mặc, kém đức hơn nữa thời phải chịu tật nguyền, không mấy ai coi trọng mình.

Nói chung ở thời Mạt Vận, Mạt Pháp, Mạt Kiếp nhân loại con người lạc Cội lạc Nguồn, lạc vào con đường ác đạo. Lại gặp phải chu kỳ Tam Tai khi kiếp nạn hủy diệt muôn loài vạn vật trong đó có con người. Thời những người hung tàn bạo ác đánh mất hết Lương Tâm, đánh mất Lương Tri, Linh Hồn đã hóa thành Linh Hồn Ác Quỷ khi ra khỏi thể xác con người liền sa đọa xuống các tầng Địa Phủ, chịu nhiều đại họa tai kiếp hành hình khốn khổ vô cùng.

Nói tóm lại: dù Linh Hồn Ma, hay Linh Hồn Quỷ, thành tâm trở về với Cội với Nguồn, cung phụng Tổ Tiên, Cha Trời, Mẹ Trời. Thời Linh Hồn Quỷ, Linh Hồn Ma chuyển hóa thành Linh Hồn Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, ngay.

Nếu có công trong Văn Hóa Cội Nguồn, tức là có công trong Thiên Luật Vũ Trụ, Thiên Ý Cha Trời, cũng như có công cứu khổ nhân loại con người thoát khỏi Địa Ngục thời thành Phật Tổ, Thánh Tổ, Tiên Tổ, Thần Tổ, Chúa Tổ, không sai không có gì bàn cãi cả.

Theo Thiên Luật huyền cơ vũ trụ hễ gieo giống gì thời trổ ra giống nấy, gieo ác gặt họa, gieo thiện gặt phúc, gieo giống đại thừa thời gặt quả đại thừa. Hiếu Thuận với Đức Cha Trời thời Cha Trời ban phúc lành cho. Đức Cha Trời dạy hãy sống theo Đạo Luật, thời Thiên Luật Tự Nhiên trợ giúp, gieo giống gì trổ ra giống nấy chuyển xoay vận mệnh của chính mình.

Người nắm rõ Thiên Luật, không phạm Thiên Luật. Sống theo Tự Nhiên chính là nắm quyền tạo hóa muốn gì được nấy. Không hiểu rõ Thiên Luật, hành Ác sẽ bị huyền cơ Thiên Luật xoay chuyển, khó mong thoát khỏi sa đọa, siêu đọa do mình, không ai có quyền làm cho mình siêu, đọa cả, hễ Linh Hồn Thiện thời siêu, Linh Hồn Ác thời đọa, ác thiện do mình tất cả không ai khác, gieo ác thời gặt ác Linh Hồn sa đọa xuống các tầng Địa Phủ, thời gặt ác họa liên miên không lúc nào dừng nghỉ, đến lúc nầy ăn năn không còn kịp nữa, chịu khổ mãi nơi Địa Phủ.

Còn gieo ác gặt họa nơi trần gian chỉ là sự khởi đầu, bước vào giai đoạn đầu của sự quả báo mà thôi.

3 - THIÊN ĐÀNG

Như chúng ta đã biết hướng Thiện là hướng tới cuộc sống tốt đẹp, cuộc sống giàu sang vui tươi lành mạnh, cuộc sống độc lập, tự do, thái bình, an lạc, cuộc sống dân giàu nước mạnh, văn minh công bằng, bình đẳng, tôn trọng lẽ phải, tôn trọng nhân quyền, tự do mưu cầu hạnh phúc.

Muốn có cuộc sống như thế, thì con người cần có văn hóa, nhất là Văn Hóa Chính Nghĩa, văn hóa Hiến Pháp Luật Pháp, Đạo Pháp, không những một người có văn hóa, mà nhiều người nói chung là toàn xã hội, ai ai cũng nhận thức được văn hóa đạo đức chính nghĩa, là nền tảng xây dựng lên xã hội thiên đàng cực lạc. Trước mắt là xã hội thiên đàng trần gian, sau đó là xã hội thiên đàng trên các cõi Trời.

Có nghĩa là: Cứ một người giác ngộ sống theo Văn Hóa Đạo Đức Chính Nghĩa, sống theo Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp đạo đức xã hội, là một thành viên xây dựng lên xã hội thiên đàng cực lạc, thiên đàng trần gian cũng như thiên đàng thiên giới. Càng nhiều người có văn hóa, sống theo Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp đạo đức xã hội, thời xã hội đó càng thêm hưng thịnh giàu sang, kéo dài sự độc lập, thái bình an lạc, dân giàu nước mạnh.

Thiên giới (Thiên Đàng) chia làm 3 phần:

1) Thượng Thiên vũ trụ:

Có 4 tầng Trời Vô Sắc Giới, tính từ cao xuống thấp:

4: Phi tưởng phi phi tưởng xứ,

3: Vô sở hữu xứ,

2: Thức vô biên xứ,

1: Không vô biên xứ.

2) Trung Thiên vũ trụ:

Có 18 tầng Trời, tính từ cao xuống thấp:

18: Tầng Trời Sắc Cứu Cánh.

17: Tầng Trời Thiện Hiện.

16: Tầng Trời Thiện Kiến.

15: Tầng Trời Vô Nhiệt.

14: Tầng Trời Vô Phiền.

13: Tầng Trời Vô Tưởng.

12: Tầng Trời Quảng Quả.

11: Tầng Trời Phước Sanh (Thiên Vân), Chỗ Đức Chí Tôn Ngự (xem Long Hoa Thiên Tạng Kinh).

10: Tầng Trời Vô Vân.

9: Tầng Trời Biến Tịnh.

8: Tầng Trời Vô Lượng Tịnh.

7: Tầng Trời Thiểu Tịnh.

6: Tầng Trời Quang Âm.

5: Tầng Trời Vô Lượng Quang.

4: Tầng Trời Thiểu Quang.

3: Tầng Trời Đại Phạm.

2: Tầng Trời Phạm Phụ.

1: Tầng Trời Phạm Chúng

3) Hạ Thiên vũ trụ:

Có 6 tầng Trời cõi Dục là (Tính từ cao xuống thấp):

Tầng 6: Trời Ma La Thiên.

Tầng 5: Trời Tha Hóa Thiên.

Tầng 4: Trời Hóa Lạc Thiên.

Tầng 3: Trời Đâu Suất Thiên.

Tầng 2: Trời Dạ Ma Thiên.

Tầng 1: Trời Đao Lợi Thiên.

*     *     *

Dưới nữa là Tứ Đại Thiên Vương trấn giữ Đông - Tây - Nam - Bắc. Bốn phương lưng chừng núi Tu Di Sơn rồi đến Cung Điện, Cung Động trên núi, dưới núi, trong lòng núi.

Nơi Hạ Thiên vũ trụ 6 tầng Trời cõi Dục. Ở tầng Trời Đâu Suất Thiên. Có vị Phật Tổ Di Lặc Thiên Tôn làm giáo chủ, giáo hóa Thiên chúng làm theo lời dạy của Đức Cha Trời, Long Hoa Cửu Huyền Lạc Long Quân.

Lại nữa ở tầng Trời Đao Lợi Thiên, trên đỉnh núi Tu Di có vị Ngọc Hoàng Huyền Khung Cao Thượng Đế Đại Thiên Tôn (hay còn gọi là Ngọc Hoàng Đại Đế) ngự trị tại Cung Linh Tiêu. Trên cai quản 6 tầng Trời. Dưới cai quản 18 tầng Địa Ngục.

*     *     *

4) Hạ Hạ Thiên vũ trụ

Hay còn gọi là Tiên Giới, Non Tiên Cực Lạc.

Như vậy từ tầng Trời Đao Lợi Thiên trở xuống, Chư Thiên ở Cung Trời rồi đến Cung Điện, Cung Động. Tổng cộng là 36 Cung Trời, 72 Cung Động Cung Điện trên núi, dưới núi, trong lòng núi cùng khắp Hạ Hạ Thiên vũ trụ.

Có 7 núi chính lớn nhỏ cao to xa gần, Núi Tu Di Sơn nằm ở giữa:

1: Là núi Trì Địa Sơn.

2: Là núi Chướng Ngại Sơn.

3: Là núi Mã Nhĩ Sơn.

4: Là núi Thiện Kiến Sơn.

5: Là núi Đảm Mộc Sơn.

6: Là núi Trì Trục Sơn.

7: Là núi Song Trì Sơn.

Bảy núi nầy xa gần ở giáp vòng núi Tu Di Sơn.

Lại nữa núi Tu Di Sơn không những to, cao, lớn mà xung quanh còn có 7 Kim Sơn bao bọc đó là:

1: Là núi Du Kiện Đà La.

2: Là núi Y Sa Đà La.

3: Là núi Kiệt Địa Lạc Ca.

4: Là núi Tô Đạt Lê Xá Na.

5: Là núi Án Thấp Phược Yết Noa.

6: Là núi Tỳ Na Đát Ca.

7: Là núi Ni Dân Đạt La.

36 Cung Trời 72 Cung Động Cung Điện.

Hạ Hạ Thiên vũ trụ: Thánh - Thần - Phật - Tiên - Tà Giáo - Chánh Giáo phân nhau để ở (Xem Kinh Long Hoa Pháp Tạng sẽ nói rõ hơn). Sống ở Hạ Hạ Thiên vũ trụ từ Cung Trời Đạo Lợi Thiên trở xuống.

*     *     *

Khai Hóa Tổ Tiên, khai lập lên ba cõi, Thiên đàng, Trần gian, Địa phủ, như chúng ta đã biết trần gian là cõi tạm, thiên đàng, địa phủ là hai cõi chính thức, một cõi cực khổ, một cõi cực vui, sự sống kéo dài tuổi thọ hai cõi nầy vô tận vô biên. Địa Ngục thì khổ mãi. Thiên Đàng thì vui mãi.

Vì thế sống nơi Địa Phủ thì khổ triền miên, sống nơi các tầng Trời hưởng phước vô tận, 28 tầng Trời là cõi dương, 18 tầng Địa Phủ là cõi âm, còn Trần Gian là cõi tạm âm tạm dương nên gọi là Trần Gian cõi tạm, hễ hành thiện thì hợp với chơn dương về Trời, hễ hành ác thì hợp với chơn âm về Địa Phủ. Thiên Ý Cha Trời, Thiên Luật Vũ Trụ đã như vậy, thì mãi mãi như vậy không có gì thay đổi, hễ hướng Thiện thì siêu sanh về Trời, hễ hướng Ác thì sa đọa xuống các tầng Địa Phủ, nhất định là như thế, đạo luật vũ trụ trước cũng như sau không có gì thay đổi.

Vì thế lên Thiên đàng hay xuống các tầng Địa phủ tự mình quyết định, cũng như xã hội thiên đàng hay xã hội địa ngục do toàn dân quyết định.

Cha Trời, Địa Mẫu, Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, luôn ủng hộ cho sự lựa chọn Nhân Thiện, nếu nhân loại quyết định cho việc làm ác, không nghe lời dạy của Cha Trời Địa Mẫu, không nghe lời dạy của Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, thì Cha Trời, Địa Mẫu, Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, cũng phải đành bó tay, không thể cứu vớt được, chiếu theo thiên luật mà hành xử.

Như vậy lên Thiên đàng, xuống Địa ngục là do con người quyết định tất cả. Tất cả sự sống muôn loài vạn vật trong đó có sự sống con người. Đều bị Thiên Luật xoay chuyển gieo nhân nào hưởng quả nấy không gì để bàn cải nữa, hành Ác về cõi ác, hành Thiện về cõi thiện. Vì thế một khi con người hành Thiện, là lẽ đương nhiên phù hợp với chơn dương rồi, tâm thiện nhiều hay thiện ít, mà phù hợp với các tầng Trời. Nhất định những người nầy, một khi họ qua đời, lẽ đương nhiên họ sẽ siêu sanh lên các tầng Trời để hưởng phước.

Con người ở cõi Trần Gian giả tạm nầy, một khi họ giác ngộ hướng về Cội Nguồn, sống có văn hóa, sống theo Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp đạo đức xã hội, không nói chúng ta cũng biết, những người giác ngộ hướng về Cội Nguồn ấy, tất cả linh hồn của họ đều được siêu sanh lên các tầng Trời, tùy theo mức độ giác ngộ Thiện lành của họ mà hưởng phước có thấp cao, đó là lẽ công bằng của Thiên Luật vũ trụ, Thiên Ý của Cha Trời.

Như vậy những người biết tôn trọng lời dạy của Đức Cha Trời, sống theo Thiên Ý Cha Trời, Thiên Luật vũ trụ, quyết tâm hành thiện, dám hi sinh đời mình, xa lìa vui thú dục lạc tầm thường, làm hộ pháp cho Trời, cứu khổ nhân loại anh em, thì những người ấy sẽ được hưởng phước báo xứng đáng, với tầm cỡ vũ trụ, mà Tổ Tiên, Cha Trời đã dành riêng cho họ. Con cháu của họ sẽ đời đời làm vua làm chúa, còn bản thân của những người ấy là chủ nhân của vũ trụ, thay thế Tổ Tiên, Cha Trời, Mẹ Trời, kế thừa sự nghiệp của Ông Cha.

--------------------------------------------------

CHƯƠNG IV
NHÂN - NGHĨA - LỄ - TRÍ - TÍN
TRONG VĂN HÓA CỘI NGUỒN

1 - Ý NGHĨA CỦA NHÂN - NGHĨA - LỄ - TRÍ - TÍN

Nhân - nghĩa - lễ - trí - tín, không thuộc về tôn giáo đạo giáo nào, mà đó là lẽ sống của con người, mà CHA TRỜI đã dạy cho con cái của người, cái lẽ thường sự sống, như người cần khí để thở, cần cơm để mà ăn, không thở là chết, không ăn là chẳng còn.

Nhân: là lòng thương yêu, trung, hiếu, rộng lớn biết đối nhân xử thế, tôn trọng những quyền cơ bản con người.

Bất nhân: là đi ngược lại nhân luân đạo đức con người. Người Ác.

Nghĩa: là đền ơn đáp nghĩa lòng dạ thủy chung.

Bất nghĩa: là bội bạc bề trên, bội bạc người ân, những người sanh ra mình, những người dạy bảo mình, những người cứu mình, mà mình phản bội lại (Bạc Ác).

Người bất nhân, bất nghĩa, là kẻ Đại Ác. Người trần gian thì đọa xuống địa ngục âm phủ. Người Tiên thì bị sa đọa trở lại trần gian, khó mong trở lại Thiên Đàng được nữa.

Lễ: là khuôn phép của đạo đức con người hành xử tôn nghiêm thành kính, là sự tôn nghiêm cấp bậc, là sự khiêm cung đạo đức con người, là nhân cách ứng xử, đối xử, tôn trọng lẫn nhau của đạo làm người.

Vô lễ: là kẻ vô học ngu si, mất tư cách đạo đức không coi ai ra gì, làm rối loạn kỷ cương đạo đức, vi phạm vào đại kị, tôn nghiêm của cuộc sống, gây rối loạn cuộc sống, ác nghiệp xoay chuyển người trần thời sa đọa vào cầm thú súc sanh. Người Tiên liền sa đọa trở lại Trần Gian, khó mong trở lại Thiên Đàng được nữa.

Trí: không những là trí khôn, mà còn gắn liền với lẽ phải, biết thiện, biết ác, biết phước, biết họa, biết siêu biết đọa, v.v...

Người mất trí khôn không hiểu lẽ phải trái, không phân biệt được thiện ác, phước họa, siêu đọa, thì linh hồn liền tối tăm. Người trần thời sa đọa vào ba đường ác Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh. Người tiên thì sa đọa xuống Trần Gian, khó mong trở lại Thiên Đàng được nữa.

Tín: là báu vật của uy quyền, niền tin của sự sống, người hay bội tín, là tự mình làm hại lấy mình, dù sanh vào cõi nào cũng trở nên thấp hèn.

2 - NHÂN ĐẠO CÁI GỐC TẤT CẢ CÁC ĐẠO

 (LONG HOA LƯỢC TRUYỆN SỐ 75)

Vào thời dựng nước nơi thượng viện Quốc Đạo Quốc Tổ truyền giáo cho hàng Vương Quan. Quốc Tổ truyền xong căn bản Nhơn Đạo. Để dễ hiểu, dễ nhớ, Quốc Tổ tóm lại những điều chính yếu cốt lõi cơ bản trong Nhơn Đạo:

1 là có Nhân,

2 là có Nghĩa,

3 là có Lễ,

4 là có Trí,

5 là có Tín,

6 là có Trung,

7 là có Hiếu,

8 là biết Thuận Hòa,

9 là biết Liêm Sỉ,

10 là lòng Quảng Đại Bao Dung.

Những ai chỉ cần làm được ba điều trong 10 điều căn bản Nhơn Đạo, thời không còn sa đọa vào ba đường ác Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh. Những ai không vi phạm 10 điều căn bản Nhơn Đạo, lại sống theo đó mà hành sự đối nhân xử thế thời nhất định trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Vì sao lại nói như thế, vì Nhơn Đạo là cái Gốc của tất cả Đạo.

Khi ấy có một vị tên là Cao Tổ chấp tay hướng về Chí Tôn Thiên Đế thưa rằng: Thưa Chí Tôn Thiên Đế, đã là con người, con cái nhà Trời, sao còn phải sa đọa vào tam đồ khổ Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh.

Quốc Tổ nói: Khá khen cho Đạo Sư Cao Tổ, Ông vì Vương Quan, cũng như những thế hệ sau nầy hiểu rõ về sa đọa luân hồi mới hỏi như vậy.

Quốc Tổ thuyết giảng rằng: Con người chỉ là bộ máy xác thân tiểu thiên vũ trụ do Tổ Tiên Tạo Hóa Như Lai thâu tóm Chơn Âm, Chơn Dương, Tinh Hoa Vũ Trụ hiện thân ra Cha Trời, Mẹ Trời. Chánh Thân Chánh Mẫu. Rồi từ Chánh Thân, Chánh Mẫu sanh tạo ra con người, con người chỉ là Bộ Máy Xác Thân Tiểu Thiên Vũ Trụ, nên con người không quyết định sự luân hồi, cũng như thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa hay lên Thiên Đàng xuống Địa Phủ, mà chính là Linh Hồn con người quyết định tất cả.

Linh Hồn con người là Tiểu Linh Hồn vũ trụ do Đại Linh Hồn vũ trụ phân hóa pháp thể Linh Giác tạo ra. Ví như Nước tạo ra Bọt Nước. Bọt nước cũng chính là nước. Ví như Lực tạo ra Điện. Điện cũng chính là Lực. Ví như Bột làm ra Bánh, Bánh cũng chính là Bột. Vì vậy Đại Linh Hồn Tổ Tiên Tạo Hóa Vũ Trụ bất tử, không sanh không diệt. Thời mỗi tiểu Linh Hồn cũng bất tử, không sanh không diệt. Không khác gì Đại Linh Hồn Tổ Tiên Vũ Trụ.

Tiểu Linh Hồn đầu thai vào Bộ Máy Xác Thân Tiểu Thiên vũ trụ con người, tu luyện tiến hóa Linh Hồn, cho đến khi thành Đạo làm Người, trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Nếu tu luyện tiến hóa chưa thành Đạo làm Người. Có nghĩa là: Linh Hồn đầu thai làm người rồi, nhưng chưa tiến hóa thành Đạo làm người. Linh Hồn tức là Linh Căn còn ở dạng Súc Sanh, Cầm, Thú, Bò Sát. Khi mất thân người rồi, tái sanh đầu thai làm người trở lại tu luyện cho đến khi nào thành Nhơn Đạo làm người, thành tựu 10 điều căn bản như đã nói trên. Thời trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa siêu sanh lên các tầng Trời, cõi Trời sanh sống trong thế giới Thiên Đàng Cực Lạc an vui hạnh phúc tự tại.

Nói cho dễ hiểu, mỗi Tiểu Linh Hồn đầu thai làm người tu luyện chừng nào cho có Lòng Nhân, không còn Bất Nhân. Cũng như tu luyện thành tựu Nhân Nghĩa, không còn Bất Nghĩa. Tu luyện đến khi nào biết đối nhân xử thế lấy Lễ làm đầu không còn Vô Lễ. Tu luyện đến chừng nào tiến hóa Ý Thức Nhận Thức phân biệt được ác - thiện, đúng - sai, phước - họa, sa đọa - siêu thăng. Nói chung là đạt đến cảnh giới trí tri, việc gì nên làm việc gì không nên làm ra khỏi Ngu Si. Trở thành người có Trí. Tu luyện cho đến khi nào thành tựu lòng tin nơi Cội Nguồn cũng như làm việc gì cũng phải giữ chữ Tín. Tu luyện cho đến khi nào đạt đến Lòng Trung Thành, có trách nhiệm đối với Cội Nguồn, non sông, đất nước, dân chúng. Có nghĩa là không phản bội lại Cội Nguồn, Non Sông, Đất Nước, Dân Chúng. Trung thành tuyệt đối với Cội Nguồn, Non Sông Tổ Quốc, Dân Chúng. Tu luyện cho đến khi nào thành tựu chữ Hiếu không quên ơn sanh thành dưỡng dục. Chánh Thân, Chánh Mẫu, Phụ Thân, Phụ Mẫu, công ơn dạy bảo các Bậc Tôn Sư. Tu luyện cho đến khi nào thành tựu Nhân Đức trên Thuận dưới Hòa sống biết Liêm, biết Sỉ. Tu luyện cho đến khi nào thành tựu lòng Quảng Đại, cũng như sự Bao Dung sống vì người không vì mình. Tánh Khiêm Hòa, không Cố Chấp, biết tha thứ, tình thương rộng lớn đối với nhân loại anh em. Thời nhất định trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa trở lại Thiên Đàng Cực Lạc an vui tự tại. Vì sự thành tựu Nhơn Đạo khó khăn như thế nên mỗi Tiểu Linh Hồn phải trả qua không biết bao nhiêu số kiếp. Cứ 16 triệu 800 ngàn năm, một tiểu kiếp cho một đại khóa tu luyện tiến hóa Linh Hồn.

Mười điều căn bản Nhơn Đạo nói trên chính là Phật Tánh, Thánh Tánh, Tiên Tánh, có trong Lương Tâm chính là Lương Tri của mỗi con người. Không cần tìm cầu đâu xa chỉ cần làm sáng mười đều căn bản Nhơn Đạo trong Lương Tâm. Thời trên đầu liền có hào quang. Thậm chí là Vô Lượng Quang.

Những ai hành động trái ngược lại Lương Tâm thời những người ấy còn ngu si, mê muội. Nói chung là Thiếu Hiểu Biết. Thời coi như chưa đắc đạo Nhơn Luân. Nhơn Đạo chưa thành còn ở tánh Thú, Cầm. Phải chịu luân hồi tùy theo ác, thiện nhận lấy quả báo.

Không có Tánh người đương nhiên phải chịu đầu thai trở lại kiếp thú, cầm. Đã không có tánh người còn làm ác hại người đương nhiên phải sa đọa xuống các tầng Địa Phủ hoặc biến thành Ngạ Quỷ. Luật Trời phân định hai cảnh giới rõ ràng Thiện thời siêu sanh Thiên Đàng Cực Lạc. Ác phải chịu sa đọa xuống các tầng Địa Phủ Cực Khổ. Vì Trong cõi Âm Phủ có hình thành vô số Địa Ngục hành hình tội nhân.

Nói tóm lại: Mười điều cơ bản của Đạo Làm Người thành tựu trọn vẹn thời Linh Hồn đã tiến hóa lên Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Nếu thành tựu được bảy tám điều thời khi mãn kiếp trần chết đi liền đầu thai trở lại làm người, thường có uy quyền cũng như sự giàu có thông minh sáng láng. Nếu tiếp tục tu hành đạt đến mười điều cơ bản Đạo Làm Người, Thời trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa siêu sanh về các tầng Trời, các cõi Trời, hưởng phước sống trong sự giàu sang sung sướng muốn gì được nấy, an vui tự tại.

Lúc bấy giờ trong pháp hội có vị Đạo Sư tên là Cao Tông chấp tay hướng về Chí Tôn Thiên Đế thưa rằng, thưa Đức Chí Tôn Thiên Đế:

Những người xưa nay lầm đường lạc lối rời xa Lương Tâm của chính mình trở thành những người Bất Nhân, Bất Nghĩa, Vô Lễ, không có chữ Tín, chẳng Trung chẳng Hiếu, thường gây gổ, không biết Liêm, Sỉ là gì. Tánh Keo Kiệt lại hung sùng ác sát. Nay nghe được lời dạy bảo của Đức Chí Tôn. Ăn Năn sám hối Tu luyện tiến hóa, biết Phân Biệt Thiện Ác, có Nhân, có Nghĩa, có Lễ, có lòng Khoan Dung Độ Lượng, có Trung có Hiếu, Biết Cội Biết Nguồn, nói giữ lời, biết hòa thuận anh em. Khi mãn trần những người nầy có bị sa đọa xuống các Tầng Địa Phủ cũng như luân hồi trở lại Cầm, Thú không?

Quốc Tổ nói khá khen cho Cao Tông Ông vì Pháp Hội, cũng như hậu thế về sau mà thưa hỏi như vậy.

Chí Tôn Quốc Tổ dạy rằng: Những người biết sai thời sửa, tự mình lấp cửa sa đọa, lại biết tu hành tiến hóa Linh Hồn, được như vậy thời tội ác trước kia đâu còn, ác căn tiêu trừ hết thảy. Trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa coi như vĩnh viễn không còn luân hồi trở lại loài Cầm, Thú. Mãi Mãi sống trên quê hương Thiên giới. Nghe xong Vương Quan ai nấy cũng chứng quả Nhân Luân thành Đạo Con Người, trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.

Khi ấy trong pháp hội có vị Đạo Sư tên là Cao Tằng chấp tay hướng về Chí Tôn Thiên Đế thưa rằng:

Thưa Đức Chí Tôn Thiên Đế:

Những người thành Đạo Nhân Luân trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa có cần phải tu luyện tiến hóa Linh Hồn nữa không?

Chí Tôn Quốc Tổ nghe xong thời khen rằng. Khá khen cho Cao Tằng, ông vì pháp hội, cũng như vì hậu thế mai sau mà thưa hỏi như vậy, ta sẽ vì Ông mà nói.

Những người đã đắc Đạo Nhân Luân, thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Nhưng muốn gặt hái thành quả Phật, quả Thánh, quả Tiên, quả Thần, quả Chúa. Thời phải ra sức cứu khổ cứu nạn nhân loại con người cũng như dìu dắt nhân loại con người trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, tức thời lên ngôi Phật Tổ, Thánh Tổ, Tiên Tổ, Thần Tổ, Chúa Tổ thành lập cõi nước Trời, cõi nước Phật, cõi nước Thánh, cõi nước Tiên, cõi nước Thần, cõi nước Chúa thành quả viên mãn an vui tự tại.

Quốc Tổ thuyết giảng xong Vương Quan đều chứng ngộ quả vị Nhơn Đạo cái Gốc thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa trên đầu phát tỏa hào quang.

Khi ấy có vị Vương Quan chấp tay hướng về Quốc Tổ thưa rằng. Thưa Đức Quốc Vương: Về sau nếu ai nghe được Kinh nầy mà không tin có phải là ngu si mê muội đáng tiếc lắm không?

Quốc Tổ khen, Ông quả thật là người có đức, muốn khai mở thật trí thật chứng về cơ duyên nên mới hỏi như vậy.

Việc khó được, hôm nay đã được.

Việc khó gặp, hôm nay đã gặp.

Nhân duyên tốt đẹp như vậy, may mắn được làm người, may mắn gặp Chánh Pháp. Không lo tu luyện tiến hóa Linh Hồn trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, sanh tâm hành ác phải chịu luân hồi trở lại loài Cầm, Thú, sa đọa Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh. Thời không có gì đáng tiếc cho bằng. Cơ hội hàng vạn ức kiếp đã bỏ qua. Những người nầy đã đánh mất tất cả, mất cơ hội thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, mất cơ hội làm chủ vũ trụ. Mất cơ hội làm chủ các cõi Thiên Đàng Cực Lạc, tiếc thay tiếc thay.

Nơi Pháp Hội nghe Quốc Tổ truyền dạy như vậy ai nấy cũng phát tâm tu theo Nhơn Đạo cái gốc các Đạo, nền tảng Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Lúc bấy giờ có vị Đại Văn Quan từ chỗ ngồi đứng dậy chấp tay hướng về Chí Tôn Quốc Tổ thưa rằng: Thưa Chí Tôn Quốc Vương, Những người sống theo Đạo Nhơn Luân, vì do nghịch cảnh xảy ra kìm tâm không nổi, gây ra tội lỗi, khi chết đi có bị sa đọa luân hồi Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh không?

Quốc Tổ khen: Ông quả là người có tâm, có đức nên mới thưa hỏi như vậy, ta sẽ vì Ông mà nói. Những người tu theo Nhơn Luân Hiếu Nghĩa, Đạo Làm Người dù chỉ là một ngày cũng không sa đọa Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh huống chi tu luyện nhiều tháng nhiều năm. Vì nghịch cảnh nghiệt ngã bối cảnh bức xúc, kìm tâm không được gây ra tội lỗi nếu nặng thời phải vào tù nơi chốn nhân gian, nhưng không bỏ Đạo Nhơn Luân. Khi Mãn kiếp trần cũng được siêu sanh về Hạ Thiên Vũ Trụ, Non Tiên Cực Lạc Địa Tiên sống an vui hạnh phúc.

Quốc Tổ thuyết giáo truyền dạy xong trong pháp hội hầu hết đều chứng quả Trí Huệ trên đầu phát tỏa hào quang, trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa, nơi chốn trần gian.

--------------------------------------------------

CHƯƠNG V
LONG HOA LƯỢC TRUYỆN SỐ 78:
LINH VỊ THỜ TRỜI

Ngày xửa, ngày xưa ở vào thời Thượng Hùng Vương, đến đời Hùng Cao Lang Quốc Vương, đời thứ 6 bắt đầu vào năm 2572 đến 2498 trước công nguyên, trị vì thiên hạ. Ở vùng Giao Châu có một chàng trai tên là Đơn Côi. Cha mất sớm Mẹ có chồng khác, không còn ai thân thích. Bên nội đành phải để Đơn Côi theo Mẹ về ở với Bố Ghẻ tên là Tàn Bạo. Tàn Bạo tánh tình hung dữ coi mẹ con Đơn Côi như tôi tớ thẳng tay mà đánh.

Ngoài làm mấy sào ruộng ra Tàn Bạo thường bắt Đơn Côi lên rừng đốn củi, còn Tàn Bạo thời ở nhà đem củi ra chợ bán. Cha Ghẻ thời no cơm ấm áo còn mẹ con Đơn Côi thời bữa đói, bữa no. Không may gặp năm Trời làm mất mùa, cuộc sống gặp lúc khó khăn cho cái ăn cái mặc. Tàn Bạo nhìn Đơn Côi như nhìn một gánh nặng, đôi lúc muốn vứt đi cho rồi nhưng vứt đi bằng cách nào Tàn Bạo chưa nghĩ ra.

Cho đến một hôm Tàn Bạo dẫn Đơn Côi lên rừng đốn củi, viện lý do rừng núi ở đây Nhà Nước quản lý cấm đốn củi nên dẫn Đơn Côi đi rất xa. Tàn Bạo nói: Đốn củi xong ngồi đây đợi ta đến rồi cùng về.

Đơn Côi chặt xong hai bó củi ngồi đợi Cha Ghẻ đến rồi về, chờ chờ mãi không thấy người Cha Ghẻ đến, mặt trời sắp lặn non tây. Đơn Côi kinh hãi không biết chuyện gì xảy ra bằng đi tìm người Cha Ghẻ Tàn Bạo, tìm khắp nơi nhưng không thấy người Cha Ghẻ đâu cả. Chỉ thấy một ngôi miếu đá trong đó không có ai, chỉ có một Linh Vị hình quả tim có họa hình thập tự giá. Đơn Côi không biết là Linh Vị thờ ai.

Mặt trời đã lặn, màn đêm buông xuống nhìn nơi đâu cũng thấy chập chờn sự rình mò ăn nuốt, tiếng hổ gầm rung chuyển núi non, tiếng sói, beo tru lên nghe thấy mà rởn óc. Đơn Côi sợ quá bằng chui vào Am Đá để trốn. Nào ngờ bầy hổ đánh hơi tìm tới. Chúng nhe nanh, múa vuốt thấy mà phát khiếp, một con hổ định vồ Đơn Côi. Nhưng con hổ hốt hoảng khiếp sợ bỏ đi, con nào nhìn thấy Linh Vị cũng vậy, đều sợ hãi bỏ đi.

Đơn Côi sợ quá ngất đi hồi nào không biết, đến khi tỉnh dậy thời Ông Mặt Trời đã lên cao. Đơn Côi thấy mình còn sống mừng quá la lên: Ta còn sống, Đơn Côi nghĩ: Đàn cọp tha cho mình sao, chuyện gì đã xảy ra. Đơn Côi hồi tưởng lại tất cả như chợt nhớ ra: Linh Vị quả tim trong lúc mình không biết gì nữa. Thời thấy Linh Vị Quả Tim Thập Tự Giá phát tỏa hào quang có lẽ đàn cọp sợ Linh Vị nầy. Đơn Côi không biết ý nghĩa thờ Linh Vị Quả Tim Thập Tự Giá là thờ ai mà Linh Hiển như thế. Bằng cầm lấy Linh Vị Quả Tim Thập Tự Giá làm bùa hộ mạng không sợ đàn hổ ăn thịt nữa. Đơn Côi đi mãi, nơi đâu cũng là rừng núi. Khát thời uống nước suối, đói thời ăn lá cây hoa quả, tối thời ngủ trên cây cứ như thế mười ngày đã trôi qua mà cũng chưa tìm được đường về.

Nói về người Bố Ghẻ ác độc dẫn Đơn Côi vào núi sâu rừng thẳm làm mồi cho cọp, còn mình thời trở về nhà không may trên đường đi gần đến nhà thời bị rắn cắn, nhưng hắn ráng chịu đau lê lếch cái chân sưng tím vừa về đến sân thời hắn gào thê thảm ngã quỵ xuống sân, lăn đùng ra chết. Sau khi chôn cất người chồng sau, Mẹ Đơn Côi khóc lóc kể lể cả tháng, đôi lúc ngồi một mình nhớ đến Đơn Côi có lẽ bị hổ báo ăn thịt rồi: Trời ơi là Trời sao đời tôi khốn khổ thế nầy. Người chồng trước chết bỏ tôi ở lại một mình, tuổi còn trẻ đường đời còn dài nỗi cô đơn không nơi nương tựa, đi thêm bước nữa nương nhờ cây tùng cây bách, nào hay đâu không khác gì đầy tớ. Tuy thế không trách gì ông chồng, an phận chí thú làm ăn, tuy đời sống khó khăn nhưng thuyền có lái, nhà có nóc, nay Ông ấy đã chết thời tôi biết trông cậy vào ai. Còn đứa con thời biệt tăm vô âm tín, không biết chết sống ra sao.

Lại nói về Đơn Côi cuối cùng cũng tìm được về nhà nhìn thấy mẹ ngồi ngoài xó hè gầy ốm trông có vẻ hốc hác ôm mặt than khóc kể lể mới hay người Cha ác độc đã chết. Đơn Côi cũng không cầm được giọt nước mắt, dù sao cũng là người Cha kế của mình. Mẹ Đơn Côi đang ngồi than thở cho số phận của mình chợt nhìn thấy Đơn Côi trở về lao nhanh tới ôm Đơn Côi như sợ Đơn Côi biến mất, miệng thời nói: Con của Mẹ còn sống, cảm ơn Ông Trời. Bà nhìn Đơn Côi tuy hơi ốm nhưng thần khí vẫn tươi tốt. Hai mẹ con đi vào nhà, bà như muốn biết chuyện gì đã xảy ra với Đơn Côi liền hỏi: Con đi đâu hơn cả tháng mới trở về.

Đơn Côi liền kể lại tất cả đầu đuôi, Đơn Côi thở dài nói: Người Cha Ghẻ muốn giết con cho đỡ tốn cơm nên dẫn con đến một nơi rất xa núi non trùng điệp rừng rậm bạt ngàn, nơi có cọp, beo, sói, bỏ con ở lại đó một mình làm mồi cho cọp, sói, báo. Cũng may con nhờ Linh Vị nầy cứu mạng. Bà mẹ Đơn Côi nghe xong không cầm được nước mắt nói: Mẹ đã hại con. Mẹ thề không đi bước nữa dù cho khổ đến đâu cũng ở vậy cùng con. Bà nhìn Linh Vị cứu Đơn Côi là một miếng gỗ hình Quả Tim có chạm khắc hình Thập Tự Giá, có những nốt tròn, nhất là nốt tròn ở dưới chót quả tim, có hình vuông. Bà thường nghe Cha Mẹ Ông Bà kể Trời Tròn, Đất Vuông. Bà chỉ hiểu có vậy thôi còn không hiểu gì nữa.

Từ khi Đơn Côi lập bàn thờ để thờ Linh Vị thời Đơn Côi trở nên thông minh khác thường khỏe mạnh hẳn ra, làm đâu được đó tính gì được nấy không bao lâu thời dư ăn dư để không nói là giàu. Xóm làng ai cũng khen là tài giỏi. Tiếng đồn xa đến tai Quan Phủ. Phong cho chức Lạc Điền quyền thế một vùng Giao Châu.

Một hôm Đơn Côi gặp một Đạo Sĩ thời vô cùng mừng rỡ mời về nhà. Đạo Sĩ nhìn khu vườn rộng nhưng địa cuộc thời không được tốt, ai ở khu vườn nầy thời phải chịu cảnh nghèo đói. Thế mà Đơn Côi giàu có, nhà cửa bề thế lấy làm lạ hỏi: Ông Bà, Cha Mẹ có tu phước thiện gì không? Đơn Côi nói: Không có chỉ là người bình thường không nói là không mấy thiện. Vị Đạo Sĩ làm thinh không nói gì. Đơn Côi nói: Tôi mời Đạo Sĩ là nhờ Đạo Sĩ xem cho tôi một quẻ không hiểu vì sao công chuyện làm ăn thời trôi chảy nhưng đường vợ con thời trắc trở liên miên.

Đạo Sĩ nghe xong nói: Dẫn tôi đến nơi bàn thờ Ông Bà, Cha Mẹ để tôi làm phép thời quẻ mới ứng linh, Đơn Côi liền dẫn Đạo Sĩ đến bàn thờ, thờ Linh Vị. Đạo Sĩ vừa nhìn thấy Linh Vị Hình Quả Tim có chạm khắc Thập Tự Giá, có nhiều nốt tròn cũng như hình chữ S cốt lõi Âm Dương. Trời tròn Đất vuông thời giật cả mình, Linh Vị nầy không phải Linh Vị thờ Trời sao? Đạo Sĩ hỏi: Quan Lạc Điền làm sao có được Linh Vị nầy. Không lẽ Ông Bà để lại, Đơn Côi kể lại tất cả, Linh Vị nầy là tôi thỉnh ở nơi miếu đá trên núi, cũng như những sự Linh Thiêng đã xảy ra.

Đạo Sĩ nghe xong ngẫm nghĩ: Thảo nào ở khu vườn tử địa mà vẫn bình yên lại giàu có, là do Linh Vị thờ Trời nầy. Đạo Sĩ nói: Linh Vị nầy là Linh Vị thờ Trời. Có lẽ các vị Tu Tiên lập lên để thờ, người trần phàm không ai có thể hiểu được.

Đạo Sĩ hỏi: Quan có biết ý nghĩa của Linh Vị kia không? Đơn Côi nói: Tôi không rõ.

Đạo Sĩ nói: Linh Vị nầy chính là biểu tượng Nam Mô - A Men, Linh Ấn Vũ Trụ Uy Danh Của Đức Cha Trời. Linh vị nầy không những linh thiêng mà còn làm cho gia chủ thông minh, muốn gì được nấy. Nhưng Gia Chủ ở khu vườn không được tốt có thể nói là khu vườn tuyệt hậu. Muốn có vợ con suôn sẻ thời phải tìm mua một khu vườn khác. Mẹ đơn Côi nói: Tôi có một khu vườn cũ nhỏ hơn khu vườn nầy, khu vườn đời chồng trước của tôi.

Mẹ Đơn Côi dẫn vị Đạo Sĩ đến xem. Đạo Sĩ nhìn khu vườn bỏ hoang nhưng lại là khu vườn đắc địa phong thủy rất tốt. Không nơi nào tốt bằng nơi nầy, bằng nói: Hãy về đây mà ở thời con cháu đầy nhà. Trước khi từ giã Đơn Côi, Đạo Sĩ để lại bài thơ:

Thờ Trời phước đức, chuyện bình thường

Nghịch Trời, tai họa khó nghĩ lường

Chỉ cần thất kính bằng sợi tóc

Chúa Vua cũng phải, chịu tang thương

Thành tâm quy kính, nương Cội Gốc

Còn hơn châu báu, chất đầy rương

Linh Vị thờ Trời, Linh đệ nhất

Vạn kiếp nghìn đời trổ hoa hương.

Đơn Côi nhìn theo Đạo Sĩ khuất dần, khuất dần trên đường đi lòng cảm thấy bâng khuâng như rời xa người thân. Đơn Côi dời nhà đến nơi chôn nhau cắt rún quê Cha nơi sanh ra mình. Từ đó Đơn Côi cưới được một cô vợ xinh đẹp con đàn cháu đống sống cuộc đời an vui hạnh phúc.    

--------------------------------------------------

CHƯƠNG VI
HỎI - ĐÁP
VỚI THẦY NHÂN THẬP ĐẠI CƯ SĨ
TRONG LỚP HỌC VĂN HÓA CỘI NGUỒN

1 - CÂU HỎI SỐ 1:

Thưa Thầy, Thầy có thể giảng giúp con hiểu thêm về ý nghĩa của Ngày Rằm Tháng 7. Con xin cảm ơn Thầy.             

THẦY NHÂN THẬP TRẢ LỜI:

Trước hết, nói về ÂM CẢNH:

Ở nơi Âm Cảnh, có vô số linh hồn. Sau khi nhắm mắt qua đời ở Dương Gian, họ sẽ sống nơi Âm Cảnh, lâu vô số vô biên vì thân họ là khí, họ có thể sống tới 500 năm, 1000 năm, lâu hơn nữa... Họ không đọa Âm Phủ vì họ không đánh mất Lương Tâm của mình, nhưng họ cũng chưa đủ phước đức để về Trời hay đầu thai chuyển kiếp, nên họ phải sống nơi Âm Cảnh. Trong số đó có thể là: Cha Mẹ của mình, người thân của mình ở kiếp này hay nhiều kiếp trước. Trong cô hồn cũng có nhiều trẻ nhỏ, đó có thể là con của các vị vì nạn phá thai. Họ có máu thịt với mình. Trong cô hồn cũng có người thiện, người ác. Họ có thể cũng từng có nhân duyên với mình, là người giúp đỡ mình, là hàng xóm, là bạn bè, là đạo hữu, là ân nhân từng cưu mang mình lúc mình hoạn nạn... trong vô số kiếp lâu xa.

Nói về ý nghĩa của ngày Rằm tháng 7:

Cúng ngày Rằm tháng 7 là để tưởng nhớ và hiếu kính. Cũng là ngày trả ơn cho:

1. Những người đã phù hộ, và giúp đỡ cho mình.

2. Trả cái ơn, cái hiếu, cái nghĩa lâu đời, lâu kiếp mà nay mình đã tái sanh và quên hết tiền kiếp của chính mình.

Trong Đạo Gia: người tu Tiên thường thấy được cả những người nơi Âm Cảnh, nên họ thấy được rằng, họ còn nợ vô số vô biên ơn nghĩa khắp cùng, vì liên quan đến nhân duyên của họ, nên ngày Rằm tháng 7, nó mang ý nghĩa là ngày cứu người nơi âm cảnh. Đạo Gia khuyên học trò: vào ngày Rằm tháng 7, nên dâng cúng hương hoa trà quả... ở ngoài sân/ ngoài trời cúng cô hồn để tưởng nhớ và đem công đức của mình hồi hướng cho những linh hồn nơi Âm Cảnh, để họ có đủ phước đức đầu thai làm người hoặc về Non Tiên Cực Lạc.

Trong Đạo Phật: một số bậc giác ngộ, trí huệ của họ nương vào thần lực vũ trụ nên họ thấy khắp cùng. Họ lấy câu chuyện Mục Kiền Liên, bậc đại hiếu, đem công đức của mình để giúp cho phụ mẫu thoát khỏi địa ngục. Nên ngày Rằm tháng 7 mang ý nghĩa là ngày báo hiếu, ngày giải thoát cho những phụ thân, phụ mẫu vì đánh mất lương tâm của mình, quên đường tu mà bị nhốt nơi Địa Ngục để trở về Non Tiên Cực Lạc.

Người tu đắc đạo họ thấy được trong vô lượng kiếp của mình, đều mang ơn nghĩa với mọi người mà mình chưa trả được. Do đó, sau khi đắc đạo, họ luôn luôn trả những ơn nghĩa đó hàng ngày, hàng giờ chứ không riêng gì ngày Rằm tháng 7. Họ thường sử dụng phước đức của mình để hồi hướng, cứu cha mẹ muôn đời muôn kiếp trước, hoặc họ đem công đức của mình trả hết ân tình với xã hội và cả những người ở nơi Âm Cảnh.

Vậy tại sao phải làm điều đó?

Vì khi sanh xuống hoặc sanh lên trần gian, các vị mang nợ phụ thân, phụ mẫu mà các vị không bao giờ trả cho hết được hiếu nghĩa đó, nên các vị cần vô lượng ức kiếp để làm điều đó. Là một con người, khi sinh ra đời ai cũng nợ Cha Mẹ mình vì họ đã có công sinh thành, chăm sóc, nuôi nấng và cho mình một thân xác của tiểu thiên vũ trụ. Lớn lên, các vị nợ anh em ruột thịt giúp đỡ mình, nợ Thầy Cô, nợ ơn Tổ Quốc, ơn Đồng Bào, và v.v... Trong suốt hành trình lớn khôn, thành vợ thành chồng rồi đi làm, các vị nợ vô số người đã từng giúp đỡ mình. Các vị gánh nợ nhiều khủng khiếp trên thân.

Ngoài ra, ai cũng như ai, tất cả đều nợ Chánh Thân, Chánh Mẫu (Cha Trời, Mẹ Trời). Theo Văn Hóa Cội Nguồn từ thời Quốc Tổ Hùng Vương, vào các ngày mồng Một, ngày Rằm. Đó là những ngày tưởng nhớ đến công ơn của Chánh Thân, Chánh Mẫu. Gốc của Đạo Hiếu là đi từ Hiếu Đạo với Chánh Thân, Chánh Mẫu vì Chánh Thân, Chánh Mẫu đã sanh ra tiểu thiên vũ trụ. Con người chính là con của Chánh Thân, Chánh Mẫu, bản thể Linh Giác Vũ Trụ. Từ bản thể Linh Giác Vũ Trụ sanh ra tâm con người. Nên tâm con người chính là con của Linh Giác Vũ Trụ. Khi hội nhập vào bản thể nghĩa là trở về với Linh Giác Vũ Trụ. Vì thế để tròn được Đạo Hiếu, chữ Hiếu của mình cần đầy đủ với cả Sắc Giới và Vô Sắc Giới. Nếu hiểu được đầy đủ chữ Hiếu thì nó to vô tận, vô biên, chứ không như Đạo Giáo, Phật Giáo nói. Con người khó ngộ được chân tâm, chân tánh của mình nên khó hiểu được tận cùng của chữ Hiếu, khó mà luận bàn cho hết được.

Có thể nói, cúng cô hồn cũng chính là cúng những người có máu huyết với các vị trong vô lượng ức kiếp. Ngày xưa, họ giúp mình thì giờ mình có cơ hội, mình hồi hướng giúp lại họ. Từ thời Quốc Tổ Hùng Vương đã giảng dạy Đạo Hiếu, cho nên nó ăn sâu vào máu huyết của Người Việt, đó chính là “Lá lành đùm lá rách”. Lấy ví dụ: để Thầy đạt đến đỉnh cao của học hành ở nước Mỹ là Thầy phải nhờ vô số ân nghĩa với các vị Thầy của mình. Nhưng nếu họ qua đời, vì chưa đủ phước duyên phải ở nơi âm cảnh. Thì chính người ở Dương Gian làm phước đức hồi hướng cho họ là tốt nhất.

Dương Gian là trường thi tốt nhất cho sự tiến hóa linh hồn. Chỉ có xuống trần gian, mới tu thành chánh quả được. Không có ai ở cõi Trời mà có thể tu thành chánh đạo. Đức Thích Ca Mâu Ni muốn thành đạo cũng phải xuống Trần Gian. Thầy nói, ở Trần Gian có Ngọc Mâu Ni quý giá vô cùng. Những ai ra công góp nhặt Ngọc Mâu Ni ở trần gian điều trở thành Phật Thánh Tiên Thần Chúa ở các tầng Trời. Người nào dùng giáo pháp đà la ni tận độ nhân chúng về Trời hoặc mở ra giáo pháp đà la ni tận độ nhân chúng về thiên đàng người đó chính là Đấng Chí Tôn. Ngài Mục Kiền Liên là bậc đại hiếu vì Ngài hiểu tuy phụ thân, phụ mẫu không tu hành nhưng họ có công sanh ra thân xác tiểu thiên vũ trụ của Ngài. Nhờ có thân xác đó mà Ngài mới tu thành đạo, đạt tới chánh quả. Nếu Mục Kiền Liên không mượn thân xác tiểu thiên vũ trụ thì muôn đời cũng không bao giờ tu được thành chánh quả. Ở Trần Gian mới có cơ hội tiến hóa linh hồn, linh căn huệ mạng nhanh nhất, giúp cho các vị trả được ơn nghĩa nhanh nhất. Vì sao lại nói thế? Vì về cõi Trời, là nơi các vị hưởng phước duyên của Trời, đâu có gì để tiến hóa linh hồn, nơi cõi Trời đâu có cái ác khảo cái thiện để tiến hóa linh hồn. Nên đâu có tạo ra phước báo gì nhiều nơi Thiên Đàng, các vị chỉ đang tiêu xài những phước đức do mình tạo trước đó, đến khi hết phước lại trở lại trần gian tiếp tục tu hành. Nên các vị lấy phước ở đâu để hồi hướng cho tất cả, để trả cái ơn, cái hiếu, cái nghĩa cho Thiên Hạ, cho Phụ Thân Phụ Mẫu và Chánh Thân Chánh Mẫu. Ví như con cái hưởng tài sản của cha mẹ, lấy phước đâu để trả ơn, trả nghĩa cho cha mẹ. Vì vậy, phải hạ phàm, tạo được phước duyên rồi đem phước duyên đó mà hồi hướng công đức, mới trả được hết tất cả những gì mà mình đã nợ trong vô số kiếp trước. Đó chính là ý nghĩa của ngày Rằm tháng 7.

Nếu mình làm trái lương tâm, có ơn mà quên ơn thì người đó chưa tu thành đạo quả của quả Phật, quả Thánh, quả Tiên, quả Thần, quả Chúa. Người đó cũng chưa thực sự đạt được giác ngộ. Vì có bao ân nghĩa mà mình phủi tay quên hết. Giống như người ta cứu mình khi hoạn nạn, tới khi người ta hoạn nạn mình lại quay đi. Vậy thì người đó có xứng đáng là vị thánh nhân cõi Trời không? Đa số thiên hạ chỉ nhìn thấy trước mắt, chứ chưa thấy được nhiều và xa xôi lắm. Nên con mắt huệ của thiên hạ, tâm kính vẫn bị mờ. Do đó, họ làm việc tâm linh theo mê tín dị đoan. Họ không hiểu ý nghĩa thực sự và sâu xa của việc mình làm, để trả ơn cho tròn, nên họ thường làm ba trúng bảy trật.

Tất cả mọi con người đều bình đẳng như nhau, có 8 muôn 4 ngàn tánh ác và 8 muôn 4 ngàn tánh thiện. 8 muôn 4 ngàn tánh ác này hễ chỉ cần gặp nhân duyên của âm khí là hiện ra liền, vì họ không làm chủ được chân tâm chân tánh (hay không làm chủ lương tâm) của chính họ. Có những người hỏi Thầy:

Tại sao mình ở cõi Trời, đầu thai xuống Trần Gian mà sao tâm tánh giống như loài quỷ mới đầu thai?

Điều này có thể giải thích như sau: vào các thời Quốc Tổ Hùng Vương ra đời, hoặc thời Thích Ca Mâu Ni ra đời, hoặc thời của các vị Giáo Chủ ra đời. Đặc biệt trong thời Quốc Tổ Hùng Vương, vì đất nước của bách tộc Văn Lang, Vua, Quan, Dân đều sống theo Hiến pháp, Luật pháp và Đạo pháp, vậy nên con người sinh ra trong thời Quốc Tổ Hùng Vương họ không có phạm pháp, mà họ nhờ nền giáo dục của Quốc Đạo Tiên Rồng mà họ về Trời, mặc dù họ từ cõi âm cảnh, địa ngục sanh lên. Có nghĩa trong tâm họ chưa đạt giác ngộ nhưng vì hệ thống phát triển của đất nước Văn Lang mà đưa linh hồn của họ về cõi Trời ở. Nên linh hồn của họ chưa tiến hóa được nhiều. Do vậy khi họ đầu thai xuống chốn Trần Gian, ở thời mạt pháp họ liền bị bát phong (Lợi, Suy, Chê, Khen, Ca Tụng, Phỉ Báng, Khổ, Lạc) xoay chuyển, mà tất cả tâm của ma, quỷ hiện ra. Nên họ khó mà trở về Trời được nữa. Thầy lấy ví dụ: các vị ở Việt Nam, làm gì đi nữa thì qua Mỹ vẫn được hưởng nền văn minh của nước Mỹ. Cho nên người ở nền văn minh nước Mỹ, họ đâu có sanh ra một số tánh giống như khi ở Việt Nam.

Khi các vị về cõi Trời, nhưng tâm linh các vị khó mà tiến hóa được. Vì vậy các vị phải lâm phàm để học đạo, trải qua các kỳ thi để tiến hóa linh hồn. Thời mạt pháp, mạt kiếp này, các vị Tiên xuống Trần Gian nếu không gặp được các vị chân sư hỗ trợ về con đường của giáo pháp, thì dưới bát phong xoay chuyển của muôn vạn nẻo đường ác của cõi trần, các vị không thể trở về Trời và các vị sẽ đánh mất lương tâm mà đọa xuống âm phủ. Tại sao các vị đánh mất lương tâm của mình? Vì thời mạt pháp, âm khí ở Trần Gian thịnh nên làm cho a lại di thức của 8 muôn 4 ngàn tánh ác sáng lên vì thế các vị làm việc ác nhưng cho là mình đúng. Người làm ác cho rằng người làm ác là đúng. Họ không hiểu được điều đó (vì họ không làm chủ được chân tâm chân tánh, không phân biệt được đúng sai, đi ngược lại lương tâm), tâm tánh của họ đã bị nghiệp quả bấy lâu nay che mờ. Do đó khi gặp người thiện là họ nói: tụi bay làm trái Ý Trời rồi, hoặc sanh tâm phỉ báng, nghi ngờ người tu khác mình, dẫn tới phân định đúng sai theo bè phái chứ đâu có đúng sai theo lương tâm hay ý Trời. Vậy nên các vị ở cõi Trời Hạ Hạ Thiên Vũ Trụ và Hạ Thiên Vũ Trụ hạ phàm mà không gặp thời các vị ở Trung Thiên Giới hạ phàm giúp đỡ các vị, hoặc thiếu đi sự hỗ trợ, phù hộ của Cha Trời, Mẹ Trời và bản thể Linh Giác Vũ Trụ thì các vị sẽ đánh mất lương tâm của mình và mãi mãi không về Trời được. Thầy lấy ví dụ: các vị thường nghe nhà Phật nói không được nói khẩu nghiệp ác và cần tu khẩu. Tuy nhiên, các vị lên mạng nói tầm bậy tầm bạ, nói tùm lum khắp cùng. Các vị tưởng rằng các vị đúng, nhưng đó lại là khẩu nghiệp chứ khác gì đâu.

- Tại vì hễ các vị khởi cái gì thì đều sanh ra nghiệp, giống như mình đã khởi tâm phân biệt, liền sanh ra ý, ý nói ra cái khẩu gọi là khẩu nghiệp. Nếu người giác ngộ thì họ luôn làm chủ khẩu nghiệp của mình. Vì họ toàn nói lời của Thiên Ý nên tạo dựng vô lượng phước lành.

- Khẩu mà hành thì sinh ra Nghiệp. Dù cho đó là hành động dùng tay gõ trên bàn phím máy tính. Vì tay mình đã hành động. Mà hễ hành động thì sinh ra nghiệp quả. Mỗi lời nói khẩu ngôn của mình, các vị không hiểu hết được nghiệp quả đâu. Vì thế mà các vị cứ luân hồi mãi mãi.

- Ý mà chưa phát triển gọi là Y Thức.

- Ý Thức mà chưa hành động thì chưa tạo ra Quả Nghiệp. Giống như bông hoa mai mà kết hạt thì sẽ thành nghiệp quả luân hồi, thành a lại di thức của các vị. Cái đó không bao giờ mất đi được đâu, mà chỉ có lặn hay trội mà thôi.

Vì vậy Phật Thánh Tiên Thần Chúa cõi Trời Dục Giới và cõi Non Tiên hạ phàm khắp cùng nhưng vì nghiệp quả bám lấy tâm linh của mình. Gặp bát phong xoay chuyển của Trần Gian mà khiến họ không ngộ được, không phân biệt được đúng sai, chánh tà. Cho nên gọi đó là thiếu Minh Tâm Kiến Tánh.

Bản thể Linh Giác Vũ Trụ là thấy, nghe, hay, biết tự nhiên. Mà

- Thấy, nghe tự nhiên. Đó chính là kiến tánh.

- Hay, biết tự nhiên. Gọi đó là minh tâm.

Nhờ cái Kiến Tánh, Minh Tâm này mà nó mới trở thành cái gì cũng biết, toàn năng toàn giác. Nhưng hễ bản thể Linh Giác này chỉ cần khởi một sự phân biệt thì nó biến thành bọt nước linh hồn ngay.

Lại nói về ngày Rằm tháng 7, do các vị chưa thấu hiểu được hết a lại di thức của mình, những gì đã xảy ra ở kiếp trước nên các vị nghe người ta dạy mà làm theo mê tín dị đoan, và cũng chưa hiểu tại sao phải làm vậy. Khi làm mà hiểu rõ thì mình sẽ làm đúng, không mê tín, không mơ hồ. Thầy lấy ví dụ: mình đi xe ngoài đường mà hiểu luật giao thông thì sẽ đi đúng luật giao thông. Cũng tương tự, khi các vị hiểu được, các vị sẽ làm những điều đúng cho họ. Hiểu được người ở Âm Cảnh cần gì để siêu thoát, người ở Địa Ngục cần gì để siêu thoát thì mình sẽ làm điều ý nghĩa cho họ. Thầy lấy ví dụ: người bơi trên mặt nước cần phao, thì phao mới là điều giá trị với họ; người đi xe từ Sài Gòn ra Hà Nội, thì xe mới là điều giá trị với họ. Vậy, hiểu được họ cần gì để mà cho họ thứ đó. Đó mới là bậc giác ngộ. Con người thấy được, hiểu được thì mới làm đúng được. Nếu con người không thấy được, không hiểu được thì luôn luôn làm trong mơ hồ dẫn tới mê tín dị đoan.

Nhìn vào việc làm của Ngài Mục Kiền Liên, Ngài mang công đức hồi hướng vào mười phương chư Phật, rồi mười phương chư Phật sử dụng công đức của họ để cứu mẹ của Mục Kiền Liên nơi địa ngục thoát khỏi Địa Ngục mà về Non Tiên Cực Lạc hưởng phước. Ngài Mục Kiền Liên còn báo hiếu cho cả Chánh Thân, Chánh Mẫu nữa. Nên Ngài mới được coi là bậc đại hiếu, hiếu tròn từ sắc giới và cả vô sắc giới.

Mình sinh ra cái gì thì là cha mẹ của cái đó. Ví dụ Albert Einstein được gọi là cha đẻ của thuyết tương đối vì ông là người tìm ra thuyết đó. Linh Giác Vũ Trụ sanh ra tiểu thiên vũ trụ thì tiểu thiên vũ trụ chính là con của đại Bản Thể Vũ Trụ. Nói cách khác, thân xác tiểu thiên vũ trụ, con người chính là con của Cha Trời, Mẹ Trời. Vậy nên, chữ Hiếu phải hiểu cho đủ:

- Hiếu Đạo, Hiếu Đời

- Hiếu với Sắc Giới, Hiếu với Vô Sắc Giới.

Ai làm được tất cả những điều trên, người đó chính là bậc Đại Hiếu của Vũ Trụ.

Sắc giới có vô số vô biên biến đổi, nên mình nợ họ vô tận vô biên, vì kiếp nào mình cũng mượn thân xác của tiểu thiên vũ trụ nhưng đâu có trả hết được ân nghĩa đó đâu.

Đa phần, con người thường dùng cái Hiếu có giới hạn để đền đáp với công ơn vô hạn của cha mẹ ví dụ như: một người mang 10 ngàn, một vài triệu, hay tỷ bạc để biếu cha mẹ bằng sự cân đo đong đếm và tính trước tính sau, và cho rằng là tròn chữ hiếu. Việc này được xem như là chữ Hiếu có giới hạn. Trong khi tình thương, công ơn của Cha Mẹ là vô giới hạn. Tại sao nói:

Công Cha như núi Thái Sơn

Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Tại vì cha mẹ chính là người cưu mang, dưỡng nuôi chúng ta suốt 9 tháng 10 ngày từ lúc trong bụng mẹ. Khi vừa lọt lòng được sinh ra, thể xác con người lúc này yếu đuối nhất, sự sống mong manh nhất, chính cha mẹ là người cho ta từng giọt sữa, nâng niu, chăm sóc, bế bồng, truyền hơi ấm, tình yêu vô điều kiện, giúp ta duy trì sự sống. Nếu cha mẹ không mớm sữa cho thì mình cũng chết liền vì tay mình cầm cái gì cũng không nổi. Khi lớn lên, chính cha mẹ là những người đã dạy dỗ, có công dưỡng dục, chỉ bảo cho mình biết bao nhiêu là nhân nghĩa, đối nhân xử thế ở đời. Còn cha mẹ mà không dạy con cái nhân nghĩa thì họ mất đi chữ Dục. Họ chỉ có công Dưỡng, mà thiếu đi công Dục. Nghĩa là họ được nửa mất nửa. Còn nếu cha mẹ có đầy đủ công ơn dưỡng dục, thì công lao của họ không khác gì Cha Trời, Mẹ Trời. Cho nên người bất hiếu với phụ thân, phụ mẫu cũng là bất hiếu với Cha Trời, Mẹ Trời. Còn các vị nhận con nuôi, mà nuôi đứa trẻ đó từ nhỏ, tức là vừa có công Dưỡng, vừa có công Dục. Nếu bất hiếu với người đó thì cũng như bất hiếu với phụ thân, phụ mẫu, vì họ có công dưỡng dục tương tự như cha mẹ đẻ của đứa trẻ đó, họ nuôi đứa trẻ đó từ thời thơ ấu đến khi lớn lên. Đối với các vị nhận con nuôi mà không nuôi trẻ ngày nào thì chỉ là hữu danh, vô thực, không có nghĩa lý gì trong đó. Vì mình đâu có nuôi họ, chỉ nhận trên danh từ mà thôi. Ở phương Tây họ cũng có sự phân định rõ ràng giữa cha mẹ nuôi và cha mẹ đỡ đầu. Cha mẹ đỡ đầu chỉ là người dẫn đường công danh của họ.

Người mà không hiểu được trên đầu mình có 4 ngôi vị Tối Cao, đó là: Tổ Tiên Khai Hóa, Chánh Thân Chánh Mẫu, ông bà Tiên Tổ và cả ông bà nhiều đời nhiều kiếp, rồi kế đến là phụ thân phụ mẫu, thì chữ Hiếu của mình chỉ như hạt muối bỏ biển. Nên mình mang nợ những ngôi trên suốt đời và mãi mãi.

Các vị tu học giác ngộ, họ đều hiểu được nơi Âm Cảnh, nơi Địa Ngục cần gì để mà trả hiếu cho họ. Nếu mình làm công đức vô tận, vô biên, không biên giới rồi mang công đức đó mà hồi hướng cho ơn nghĩa vô biên đó, có nghĩa vô biên mới trả hết được cho vô biên. Nên mình trả tròn chữ Hiếu, trả tròn Đạo Hạnh, mà không mắc nợ họ. Nên người đó mới thành Phật, thành Đấng Chí Tôn được. Nếu các vị nợ đầy đầu sao thành Phật, thành Đấng Chí Tôn được. Ví như một công ty mà nợ nần chồng chất thì sao gọi là thành công cho được. Nên trả được nợ thì mình mới là người thành công. Trả được nợ mới được gọi là bậc giác ngộ. Các vị muốn trở thành bậc giác ngộ, các vị cũng cần hiểu được làm sao để trả hết được cái nợ đó.

Có một số vị, tự xưng mình là Di Lặc hay xưng danh khắp cùng nhưng thử hỏi các vị đã trả hết nợ ân tình cho sắc giới này chưa? Trong sắc giới, Thầy lấy ví dụ, các vị thấy nhà anh này khác nhà anh kia. Đôi mắt thấy sắc giới biến đổi vô tận, vô biên. Vậy lấy gì để trả được hiếu nghĩa của sắc giới đó? Còn Tâm Đạo, khi con người trở về A La Hán quả, có nghĩa mình đã hiểu được bản thể Linh Giác Vũ Trụ, có nghĩa mình đã trả được một phần chữ Hiếu cho bản thể Linh Giác Vũ Trụ. Quốc Tổ Hùng Vương chính là người đã trả được đầy đủ Hiếu cho Linh Giác Vũ Trụ, vì Ngài đã tận độ khắp cả, tận cùng thế gian, lên ngôi Tổng Đà La Ni Vũ Trụ.

Bản thể Linh Giác Vũ Trụ sanh ra tâm con người nên bản thể Linh Giác Vũ Trụ là cha tâm linh của con người, cha tâm linh của muôn loài vạn vật chúng sanh khắp cùng. Cha Trời, Mẹ Trời sanh ra thân xác tiểu thiên vũ trụ thì họ chính là cha, là mẹ. Còn người tự cho mình là Cha Thiên Hạ, nhưng họ đâu có đẻ ra thiên hạ đâu, có đẻ ra tâm linh thiên hạ đâu. Thêm nữa, mình cũng không biết mình có hiểu chữ Hiếu của mình đã tròn chưa? Có nghĩa là mình đã trả tròn chữ Hiếu cho sắc giới (những người có ơn nghĩa với mình trong vô số kiếp) và vô sắc giới (Linh Giác Vũ Trụ) chưa.

Các bậc giác ngộ, họ hiểu, nên họ thường im lặng mà tận độ cứu người, họ chỉ nói ra pháp đà la ni để tận độ nhân chúng mà thôi. Họ có thể chịu thương, chịu khó, chịu nhẫn nhục khắp cùng để cứu người. Ngoài ra họ không nghĩ gì khác nữa. Họ biết, cho dù họ nói ra cái gì cũng đều là khẩu nghiệp, nên họ chọn khẩu nghiệp thiện lành là nói ra Thiên Ý của Cha Trời để tận độ nhân loại mà thôi. Cho nên các vị khó mà hiểu được các bậc chân tu độ người như thế nào.

Hiểu được điều này, chúng ta mới có thể phân biệt được chân - giả. Ngài Thích Ca Mâu Ni khi thành đạo, Ngài không xưng là gì mà ngày đêm luôn luôn tận độ cứu người. Đức Quốc Tổ Hùng Vương đem tâm linh của mình gieo khắp cùng Trần Gian để cấy vào tâm linh thiên hạ, mang hết tâm đạo thu nạp được để rồi phân phát cho hết thế gian, giúp cho thế gian giác ngộ, trở về linh giác của mình. Vậy nên, trong khắp cùng vũ trụ này, khó ai có thể sánh được với công đức của Quốc Tổ Hùng Vương. Vì không hiểu được Đạo của Trời, cộng với các vị khi hạ phàm đã quên hết mọi thứ, nên dẫn tới tự xưng khắp cùng, nên họ thường mắc vào sai lầm trên con đường tu học và độ sanh của mình.

Lại có một số vị, nói mình tròn đạo Nhân Luân Hiếu Nghĩa trong Văn Hóa Cội Nguồn, có nghĩa các vị chỉ nói trước mắt chứ không thấy được gì trong Kinh Nhân Luân Hiếu Nghĩa. Thầy nay giảng giải rõ đường, thì mọi người hiểu được hiếu nghĩa của mình, từ đó mới trọn được đạo của mình. Trong Đạo Nhân Luân Hiếu Nghĩa thì chữ Nhân đứng đầu, vì chữ Nhân chính là hiểu biết (hiểu biết chính là giác ngộ), là tâm đạo. Vì chưa hiểu hết nên khó mà làm tròn được chữ Hiếu Nghĩa của kinh văn trong Văn Hóa Cội Nguồn nói chung hay ngày Rằm tháng 7 nói riêng.

Lại nữa, nhiều vị vì không hiểu mà đi chùa cúng tiền vào ngày Rằm tháng 7. Các vị cần hiểu, người ở nơi âm cảnh, người ở nơi địa ngục, họ cần gì để mà giải thoát linh hồn của của họ. Hiểu được thì làm được và sẽ làm đúng. Có như vậy, các vị mới đền được cái ơn, cái nghĩa, cái hiếu đó cho sắc giới mà khi mang thân xác phàm, mình đã nợ họ vô số, vô biên.

Còn nếu, các vị vì lợi danh mà đánh mất lương tâm và hành xử ngược lại lương tâm của mình thì sẽ rơi vào nghiệp quả của ác tánh quá lớn (xem kinh Nhơn Luân Hiếu Nghĩa), các vị sẽ bị đọa vào Địa Ngục từ tầng 11 trở xuống. Ở nơi đó, không có Phật Thánh Tiên Thần Chúa nào cứu được. Một giây cũng phải trả nghiệp quả luân hồi, nên khó mà tưởng nghĩ đến điều thiện lành. Do vậy không thể nào siêu thoát nổi. Linh hồn của các vị sẽ trở thành linh hồn thảo mộc sau này, để rồi tiếp tục lặp lại hành trình tu luyện, tiến hóa linh hồn. May mắn lắm với họ là khi các vị đem công đức của mình mà hồi hướng cho họ thì tự nhiên họ sẽ có một chút giây ngưng nghỉ mà nghĩ về Cha Trời, Mẹ Trời, nghĩ về Nam Mô - A Men, mà họ được siêu thoát. Nếu họ có thời gian để tưởng nhớ đến điều thiện lành, ác căn cũng dần được tiêu trừ. Còn nếu tưởng nhớ tới các vị Phật, thì nhờ các đại nguyện của các vị Phật đó mà nương nhờ vào thần lực vũ trụ, cũng cứu giúp được họ thoát khỏi địa ngục.

Các vị xuống Trần Gian, thần lực mất đi, bị nghiệp quả luân hồi bao trùm tâm linh của mình nên mình không thấy được sâu xa, nên pháp danh Nhân Thập của các vị không có hiện ra. Thật sự trong tâm của các vị luôn có đầy đủ tất cả các pháp danh, tạng tánh của vũ trụ. Nếu như tâm các vị không còn chạy theo sở nghiệp nữa và tự làm chủ lương tâm của mình, thì tự nhiên trong tâm của các vị đều hiện ra tất cả các pháp danh, nên không cần xưng mà trong tâm mình vẫn hiện ra đầy đủ. Trong chữ Nhân Thập, “Nhân” chính là tâm, “Thập” có nghĩa là toàn giác. Linh giác của vũ trụ là toàn giác, nên tâm của các vị cũng là toàn giác. Khi các vị trở về Đạo, rồi đem lượm lặt tất cả tâm linh khác mà đưa họ trở về với bản thể Linh Giác Vũ Trụ thì đó chính là đạo hạnh của Quốc Tổ Hùng Vương, Quốc Tổ luôn bố thí tâm linh của Ngài ra khắp cùng vũ trụ để cấy vào trong tâm linh của tất cả chúng sanh, rồi giúp cho các tâm linh đó nuôi lớn các chủng tánh của Đà La Ni đến khi đạt thành chánh đẳng chánh giác. Đó chính là pháp môn của Di Lặc. Khi đó tâm của các vị liền có pháp danh của Di Lặc. Tâm của các vị sẽ hiện Phật Tổ, và các vị sẽ nói theo Đạo Trời bằng tâm kinh quán tự tại. Làm được như vậy, Trong tâm các vị cũng có pháp danh Thích Ca Mâu Ni rồi. Chẳng qua là các vị không có vứt bỏ được hết nghiệp quả luân hồi và không làm chủ được lương tâm của mình và không hành theo lương tâm của mình, nên trong tâm của các vị không hiện pháp danh nào hết. Nên các vị mới xưng này xưng nọ. Còn các bậc giác ngộ đều có tất cả các chủng tánh của Đà La Ni. Họ đều có pháp danh của các vị đó vì trong tâm của họ vốn có pháp danh đó, thì cần gì phải xưng danh nữa. Đó mới thực sự là một bậc giác ngộ.

Cuối đời các vị thử ngồi nhẩm tính lại xem mình nợ bao nhiêu ân tình, và nợ bao nhiêu ơn nghĩa. Có khi nào con người chuẩn bị nhắm mắt qua đời tính được tất cả các số nợ mà mình mang theo trong 1 kiếp này không? Có ai tính được không? Một kiếp tính không nổi thì muôn vạn ức kiếp, liệu mình có tính nổi không? Mình giống như những kẻ ăn quỵt, khi nhắm mắt xuôi tay coi như chấm hết. Vậy, những con người đó có tròn đạo Nhân Luân Hiếu Nghĩa không?

Nhân Đạo thành rồi thì Tiên Đạo mới thành. Nhân Đạo chính là nền tảng. Nên nhiều người tu hoài, tu miết mà không mấy người thành Phật. Đôi khi thành Phật, chẳng qua cũng chỉ là danh từ mà mình tự xưng. Chứ thực sự đạt tới tâm Phật và sắc giới của Quả Phật là khó vô cùng. Cho nên thân tướng của các vị trên cõi Trời, có vị bự, có vị nhỏ, có vị lớn. Thân tướng của Phật ở Trung Thiên Giới là như ý. Đóa hoa sen họ ngồi là 8 muôn 4 ngàn cánh ví như 8 muôn 4 ngàn tạng tánh Đà La Ni của Cha Trời. Không phải tự nhiên đóa hoa sen ở Trời Trung Thiên Giới có 8 muôn 4 ngàn cánh đâu. Mà mỗi cánh hoa sen cũng chính là một Đà La Ni chủng tánh của họ.

Các vị muốn trả hiếu được cho Cha Mẹ, hãy trả bằng tất cả tấm lòng tận tâm, tận lực. Các vị tận tâm, tận lực với Chánh Thân, Chánh Mẫu thì đó là các vị trả hiếu cho Chánh Thân, Chánh Mẫu. Các vị tận tâm, tận lực trở về, đưa tâm linh của mình giác ngộ trở về bản thể Linh Giác Vũ Trụ, đó là mình trả hiếu cho bản thể Linh Giác Vũ Trụ. Còn ra công tận lực giảng truyền đà la ni pháp, mở ra con đường đạo pháp và đem tất cả phương tiện để giúp các tất cả anh em còn lưu lạc trở về với Cha Trời và Mẹ Trời và hội ngô chân tâm chân tánh vũ trụ, thì phải nói là đại hiếu ở hàng Chí Tôn hay Tổng Đà La Ni.

Nói về hiếu nghĩa với cha mẹ thì trong cuộc sống, một người ăn xin vẫn trả được chữ hiếu cho cha mẹ như thường. Thầy lấy ví dụ: người ăn xin mà cõng mẹ đi khắp cùng đất Sài Gòn, để xin ăn, nuôi mẹ. Người đó cũng trả được hiếu cho cha mẹ. Vì sao lại thế? Có ai tính được cái công của người này không? Đâu ai tính được. Trời mưa, trời nắng cũng cõng mẹ trên lưng mà đi xin ăn. Người con phải chịu nắng sương để cho cha mẹ ngồi trên lưng mình, và làm thêm cái dù trên lưng để che nắng cho mẹ mình. Vậy các vị ngồi đây có ai tính được công đức của người đó không? Người con này xin ăn được là đưa cho mẹ ăn trước, mình ăn sau. Nước xin được cũng đưa mẹ uống trước, rồi mình uống sau. Các vị đâu có thể tính được tất cả những công lao đó, mà công đức không tính được thì có nghĩa người con đó đã đáp đền được công ơn với mẹ mình rồi. Người con đáp đền vô tận vô biên, sẽ trả được ơn nghĩa vô tận vô biên. Vì hai chữ “vô tận vô biên” trùng khớp với nhau. Còn các vị học đến tiến sĩ, giáo sư mà cả hành động và lời nói đều không tận tâm, tận lực như “ôi mẹ già rồi cần gì đâu”, gửi biếu mẹ 5, 10 triệu mà mỗi lần đưa cứ nói, cứ nhắc hoài. Có nghĩa là trả hiếu của người này còn cân, đo, đong, đếm. Vậy thì cái hiếu có giới hạn làm sao trả được, đền đáp được với cái vô giới hạn. Cho nên rất nhiều người, trả cả đời cũng không trả hết được cái hiếu cho cha mẹ mình.

Còn nói về ân nghĩa với Thầy Cô, các vị trả cả đời cũng không trả hết được ân nghĩa đối với người Thầy của mình đâu. Các vị thử suy nghĩ lại về người Thầy dạy mình. Từ nhỏ đến lớn, mình nhận được biết bao là kiến thức từ những người Thầy đã dạy mình. Vậy mình lấy gì để đền đáp công ơn của họ. Cho nên trên thế gian, người ta chỉ có thể tưởng nhớ công ơn, chứ không có trả nổi. Đó mới là đối với Thầy Cô giáo bình thường. Còn với Thầy giáo dạy mình đạo hạnh nữa. Họ giúp tâm mình giác ngộ và giải phóng nô lệ linh hồn của mình nữa, thì trả cái ân nghĩa đó biết đến chừng nào mới xong?

Tuy khó, nhưng không phải là mình không trả được. Nếu hiểu quy luật, mình sẽ trả được. Cho dù, mình là người ăn mày, hay là một giáo sư, tiến sĩ đều trả được. Mà cũng chưa chắc giáo sư, tiến sĩ đã trả được hiếu nghĩa cho cha mẹ mình đâu. Một người ăn xin vẫn trả được hiếu nghĩa cho cha mẹ như thường, nếu họ hiểu được quy luật của Trời.

Vậy vào ngày Rằm tháng 7, các vị cúng cái gì?

- Trước nhất là 3 ngôi tối cao vũ trụ. Đó chính là Linh Giác Vũ Trụ, hiện thân sắc giới Cha Trời, Mẹ Trời.

- Thứ nhì là công ơn với quê hương, đất nước, và Quốc Tổ Hùng Vương, người đã khai dựng lên non sông và để lại nền Đạo Đức cho Bách Tộc Văn Lang.

- Thứ 3, là tạ ơn Ông Bà, Cha Mẹ từ vô số kiếp lâu xa đến nay.

- Cuối cùng, chính là ơn nghĩa với Thầy Cô và những ân nhân đã giúp đỡ mình trong muôn vạn ức kiếp.

Vậy mình đem cái gì để cúng?

Hãy đem: hương, hoa, trà, quả, nước, cháo, xôi, chè... dâng lên bàn ngoài Trời, và đem luôn công đức mình làm được bao nhiêu năm cúng dường cho họ. Làm như vậy có khó gì đâu. Việc làm này chính là việc làm của một con người đã hiểu được Đạo là gì, Đức là gì, làm có mục đích, hiểu rồi làm, chứ không phải không hiểu mà đi làm. Đem tích đức của mình cho hết, hồi hướng hết là mình đã thực hành được cái đức độ đó. Mà hiểu được nguyên lý của Cội Nguồn là hiểu được tâm đạo của mình. Tuy là cho hết, nhưng người đó có gì đâu mà vướng mắc, buồn phiền hay tiếc nuối. Vì chính họ đã đạt tới đạo giải thoát linh hồn của mình. Trí huệ của người này càng sáng càng tỏ càng thấu hiểu Đạo Nhơn Luân của Trời.

Thầy nghĩ bài giảng về ý nghĩa của ngày Rằm tháng 7 chính là một phần của Đạo Nhân Luân Hiếu Nghĩa vì ngày Rằm tháng 7 các vị chân tu luôn luôn giảng về chữ Hiếu của mình và chữ Hiếu với thế gian. Tùy vào tánh giác ngộ của các vị đó mà họ giảng chữ Hiếu khác nhau. Có người chỉ giảng chữ Hiếu ở mức bình thường. Riêng đối với lớp học Văn Hóa Cội Nguồn, Thầy đã giảng rõ cái Hiếu Đạo từ sắc giới cho tới vô sắc giới, giải thích rõ cho các vị hiểu tại sao mình phải đền ơn, đáp nghĩa, phải trả cái hiếu đó.

*     *     *

2 - CÂU HỎI SỐ 2:

Thưa Thầy, Thầy có thể giảng giúp con hiểu cần làm như thế nào để giúp đỡ, trợ duyên cho những người đã mất? Con xin tri ân công đức của Thầy.

THẦY NHÂN THẬP TRẢ LỜI:

Có 2 phương pháp:

a) Pháp môn bố thí/ hồi hướng công đức

 Đây chính là Pháp của Bồ Tát, hạnh của Bồ Tát: đem hết công đức, phước duyên của mình tặng cho thiên hạ. Tuy không còn phước báu, công đức nhưng Trời cho cái mới, đó là trí tuệ của Đà La Ni tạng tánh, rồi dùng nó độ hóa nhân chúng thành Phật Thánh Tiên Thần Chúa, vì thế phước lại sanh ra mãi không dứt và cứ thế mà sanh ra mãi nên tạo ra vô lượng phước đức vô tận vô biên. Ví dụ như: Một tập đoàn Amazon của Mỹ khi đi vào ổn định thì lợi nhuận của nó cứ thế mà sinh ra, nên ông chủ tập đoàn cứ giàu lại càng giàu, nên ông ta trở thành tỷ phú của nước Mỹ. Người mà hành đạo càng nhiều, tích được càng nhiều công đức rồi đem bố thí hết thảy sẽ thị hiện được 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp. Pháp môn này thực hiện được là do luật nghiệp quả nhân duyên liên hệ sanh ra. Tuy nhiên, thiên hạ này khó mà hiểu được pháp môn bố thí của Bồ Tát. Phước của Bồ Tát lớn vô cùng nên bố thí được nhiều.

Để hiểu pháp môn bố thí, phải hiểu được làm phước thiện nào thì cứu được một người, làm phước thiện nào thì cứu được nhiều người, làm phước đức nào đủ để linh hồn siêu thoát. Phước đức của mình ít mà mang hết cho thiên hạ thì thiên hạ khó mà giải thoát được. Ví như: việc hành thiện phát gạo cứu người nghèo đói, mình chỉ có vài ký gạo thì chỉ cứu được 1 người hoặc vài người, nếu mình có cả kho gạo thì mình cứu được nhiều người. Về bố thí công đức cũng như vậy. Nên nhiều người có quá ít công đức, không đủ để mình hưởng nữa, thì lấy gì mà nói đem cho hết thiên hạ, nên những người này cứu mình còn khó kia mà, nên khó mà cứu cha me nơi địa ngục hay âm cảnh được. Vậy muốn cứu người thì phải tích nhiều công đức lớn để có của mà cho thiên hạ và hồi hướng cho cha mẹ. Nếu mình chỉ có chút ít phước thiện do làm lành tích đức và mang công đức đó hồi hướng cho cha mẹ của mình đã mất thì cha mẹ của người đó từ từ hội đủ công đức và có đủ phước duyên mà chuyển sanh từ âm cảnh thành người nơi dương gian hoặc về Non Tiên Cực Lạc là cao nhất. Còn để siêu sanh về cõi Trời Dục Giới, hạ thiên vũ trụ, thì linh hồn đó phải tu đạo và hành đạo.

Đạo hạnh cao nhất của người tu hành chính là làm hạnh bố thí cho đời và đạo. Khi nào con người tự làm chủ bản thân và chân tâm của mình, liền hiểu ngộ các lý tính tự nhiên của Trời, liền dung hòa được các tôn giáo và làm cho xã hội phát triển thịnh vượng và ổn định. Mặt khác khi hiểu các điều như trên, con người đó liền hiện hữu thần thông của trí tuệ: giao tiếp, kinh doanh, ổn định gia đình và xã hội, phát triển xã hội và đặc biệt là giáo dục ở dạng bậc Thầy. Nên họ trở thành người gắn kết xã hội và đạo thành một khối thống nhất. Vậy một người Việt Nam cần làm gì trước mắt? Muốn truyền và giảng dạy Văn Hóa Cội Nguồn để giúp đời và đạo, thì người ấy phải hiểu thông lý tính của Văn Hóa Cội Nguồn, bằng cách là nghiệm được được tính thực tiễn của nó. Khi làm chủ được như vậy, thì được xem là người có của, để đi làm hạnh bố thí cho đời và đạo bằng cách truyền đà là ni pháp của Văn Hóa Cội Nguồn đến toàn nhân loại anh em, là đạo hạnh cao nhất của người tu hành, không còn đạo hạnh nào cao hơn nữa.

Quốc Tổ Hùng Vương mang hết tâm giác ngộ Đà La Ni Tạng Tánh của Người bố thí cho thiên hạ, nên tâm của Di Lặc hiện thân vào trong các chủng tánh của nhân loại khắp cùng thiên hạ, gieo hạt giống Phật Thánh Tiên Thần Chúa khắp cùng vào tâm con người. Tâm của Quốc Tổ trở về tâm của Cha Trời, rộng lớn vô tận vô biên, do đó Quốc Tổ là người thay thế Cha Trời để thị hiện pháp môn của Di Lặc.

b) Pháp môn tu hành

Dương gian, âm cảnh đồng tu nhất lý. Những linh hồn âm cảnh cũng có thể tự tu được, tuy nhiên sẽ khó khăn hơn người dương gian. Còn những linh hồn ở địa ngục thì không có khả năng tự tu, chỉ có thể dựa vào nghiệp quả và phước đức được hồi hướng mà giảm đi bớt thời gian đọa địa ngục.

Người tu hành cao thì tâm luôn an trụ, thấy nghe hay biết tự nhiên, mật tạng của họ đạt đến đỉnh cao của vũ trụ, nên tâm không phân biệt, tánh từ bi khắp cùng. Họ không sợ ma quỷ, thuyết kinh, giảng kinh, mở kinh để độ cho cả người dương lẫn linh hồn âm cảnh nghe. Long thần, hộ pháp xung quanh cũng đều có thể nghe được, hiểu được.

Trong các chùa, linh hồn âm cảnh thường tới nghe kinh rất nhiều. Vì họ cũng muốn nghe kinh, hiểu đạo, hành thiện để được siêu thoát.

Đối với người tu tại gia, để có thêm phước quả và giúp được những linh hồn âm cảnh, quý hiền nhân cần:

+ Thờ tự đúng. Nhất là theo Văn Hóa Cội Nguồn.

+ Tụng, đọc, phát ra âm thanh của Kinh, Thơ, Sử, Truyện, đạo pháp chân chánh nhất là kinh thơ Văn Hóa Cội Nguồn để khai tâm, khai sáng trí tuệ cho linh hồn.

Đến khi nào những linh hồn âm cảnh có đủ dương khí, phước đức, phước duyên sẽ đầu thai làm người hoặc siêu sanh về các cảnh giới cao hơn như Địa La, Thiên La.

*     *     *

3 - CÂU HỎI SỐ 3:

Thưa Thầy, thời nay làm sao để bố thí đúng cách, làm lợi ích cho cả người cho và người nhận? Mong Thầy giảng giải giúp con hiểu ý nghĩa và phương pháp cúng dường cho các bậc chân sư giác ngộ như Thầy ạ. Con cảm ơn Thầy.

THẦY NHÂN THẬP TRẢ LỜI:

BỐ THÍ:

Bố thí cũng là một pháp môn và có cả ba cấp thượng, trung, hạ của nó.

Thượng của pháp thí: đi vào tánh đức hi sinh. Trong đó tánh đức hi sinh để bố thí pháp, tận độ nhân loại về Trời là cao quý nhất.

Hạnh bố thí pháp của Đức Phật không phải là ngồi giảng pháp hằng ngày như vậy đâu, mà đi vào tánh đức hi sinh. Đức hi sinh của Phật Thích Ca là bỏ vợ bỏ con, từ bỏ hạnh phúc cá nhân, từ bỏ sự giàu có về vật chất, từ bỏ ngôi cao về quyền lực để quyết chí tu hành, đi tìm con đường giác ngộ và giải thoát đau khổ cho nhân sanh. Đó chính là đức hi sinh đó, không màng lợi ích cá nhân gì hết, sống vì nhân sanh và giảng pháp đến tận năm tám mươi tuổi, để giúp tâm linh con người tiến hóa và giác ngộ, rồi mới thành Phật. Đức hi sinh của Đức Phật lớn là vì sao? Vì Phật Thích Ca hi sinh vì nhân loại, mang giáo lý giác ngộ của mình diễn thuyết tới bốn mươi chín năm, phải sống trong khổ nhọc, bị người ta chà đạp, chịu đủ thứ trên đời, Ngài phải chịu nhịn, chịu nhục, chịu khổ, chịu hi sinh, để chuyển pháp khuyên con dân tu hành, nên Ngài mới là giáo chủ của Phật giáo. Để thắng được cái mê chấp của thiên hạ vào thời đó, Ngài phải chịu cực, chịu khổ khủng khiếp. Ngày xưa Đức Phật làm việc cho Trời, chịu khổ cực đủ thứ, làm việc đến kiệt sức mà không hề kêu than dù chỉ một lời. Phật Thích Ca là bậc đại hiếu, nghĩa là đạt tới cái hiếu của vô biên đền đáp cho vô biên. Ở đây việc qua rồi, Thầy dùng mắt huệ, Thầy thấy rõ nên Thầy nói ra cho các vị để làm minh chứng và giúp các vị hiểu thêm về tánh đức hi sinh của Đức Phật. Nhưng có một điều, Đức Phật đã bỏ quên mất hiến tạng, luật tạng của vũ trụ.

Đức hi sinh cũng chính là thượng pháp thí có lợi cho cả người cho và người nhận. Vì sao Thầy nói vậy? Vì người mà hi sinh vì pháp độ của mình thì sẽ độ được vô số người, nên dù là người cho hay người nhận đều có phước quả khủng khiếp như nhau. Ví dụ, tánh đức hi sinh của Phật Thích Ca dạy năm anh em Kiều Trần Như, A nan, Ca Diếp, Mục Kiền Liên… Ngài phải dạy mấy mươi năm thì những người đó mới đạt tới trí tuệ giác ngộ đó. Đức Phật kiên trì dạy miết, chứ không phải ít đâu. Cho nên tánh đức hi sinh của Đức Phật là vì pháp độ, vì nhân sanh, nên người nhận cũng được lợi ích là đạt tới quả vị cao, còn người cho cũng đạt tới quả vị cao, đạt tới quả ba la mật đa, đạt tới tâm toàn giác. Vì có nhẫn nhịn nhục nên khổ nhục kế của Đức Phật tự hiện ra. Các vị Phật thường có khổ nhục kế trên đỉnh đầu, do quả ba la mật đa hiện ra. Tại sao Đức Phật đạt quả vị cao? Nếu nói giảng làm lành hướng thiện thì nhiều người giảng được. Như bây giờ các vị dùng máy ghi âm thu lại lời vị Thầy giảng kinh rồi các vị cũng giảng được, nhưng mà các vị không có đức hi sinh. Cho nên một vị Thầy giác ngộ không phải chỉ ngồi giảng pháp không khắp cùng, mà cần hiểu đức hi sinh của vị đó lớn cỡ nào, thì quả vị Phật, quả vị Thánh… của họ cao chỗ đó. Ví dụ Tề Thiên muốn dành ngôi của Ngọc Hoàng không phải so sánh ở tài phép mà đức hi sinh của Tề Thiên không thể so sánh với đức hi sinh của Ngọc Hoàng Đại Đế Thiên Tôn. Nên Phật Tổ Thích Ca nói rằng: ngươi không có một tánh đức hi sinh nào.

Đức hi sinh của Đức Phật lớn như vậy, nhưng vẫn không thể so sánh với tánh đức hi sinh của Quốc Tổ Hùng Vương được. Vì sự hi sinh của Quốc Tổ là lớn vô tận, vô biên, không thể tính đếm, không thể nghĩ bàn cho hết được. Quốc Tổ học đức tính bố thí của Trời, đó là cho khắp cùng thiên hạ, giúp thiên hạ tiến hóa về Trời. Vì thế Ngài đã phân bố tâm linh của mình cho khắp thiên hạ. Quốc Tổ Hùng Vương làm cho Trời mà không bao giờ than một lời, Ngài có tánh đức hi sinh từ 75 triệu 600 ngàn năm trước cho tới bây giờ. Đức hi sinh của Quốc Tổ là quá lớn, nên Ngài trở thành Tổng Đà La Ni trong vũ trụ này để thay thế Trời Cha. Cách đây 5000 năm, Quốc Tổ còn hi sinh cả đời để gây dựng non sông đất nước, thống nhất Bách Tộc Văn Lang, khai mở ra địa long của địa cầu, nơi sinh ra nhân loại con người, giúp nhân loại con người sau này đi về cái nôi của vũ trụ. Ở thời nay, lại một lần nữa, Quốc Tổ hạ phàm, chịu nhẫn nhịn nhục, cực khổ đủ thứ, hi sinh đủ thứ và tự giam mình gần bốn mươi năm để viết ra bộ Sử Kinh Văn Hóa Cội Nguồn - lời nói từ Chân Tâm Chân Tánh, thiên ý Cha Trời để tận độ hết thảy nhân loại con người 5 màu da anh em, lấp con đường ác, mở con đường lành giúp tâm linh con người tiến hóa mà siêu sanh về Trời. Tánh đức hi sinh, sự nhẫn nhịn nhục của Quốc Tổ là vô cùng lớn, không ai có thể so sánh được.

Ở các tầng Trời trung thiên giới, ai cũng có đại nguyện chung là tận độ nhân loại về Trời, chứ họ không có tranh giành lợi ích gì trên đó. Vì ai cũng như ai, ai cũng là con Trời hưởng phước báu như nhau. Đức hi sinh của người nào lớn hơn thì người đó làm chủ. Người mà sống vì nhân loại con người, vì tận độ chúng sanh mới gọi là đức hi sinh. Hi sinh bản thân mình vì thiên hạ mới gọi là cao. Đức Chúa Giesu cũng vậy, thiên hạ tôn kính Chúa, ca ngợi Chúa là vì đức hi sinh của Ngài. Nên những người làm việc cho Trời mà than khổ, than cực, thì sự hi sinh, bố thí của họ kém, vẫn còn ở hạ. Đức tánh hi sinh đi vào đam mê nên tạo ra nguồn năng lượng lớn, dữ dội. Tánh đức hi sinh chính là thứ quyết định quả vị cao thấp trong tam giới này.

Trong đời sống, những bậc Cha Mẹ nào mà có tánh đức hi sinh vì con cái đều xứng đáng đứng vào ngôi Trời thứ hai vì họ là phụ thân phụ mẫu phụ diễn lưu truyền nòi giống theo thiên ý của Trời lại có sự nhẫn nhịn, cam chịu khổ nhục, có đức hi sinh lớn vì con cái. Thầy lấy ví dụ, có một người mẹ cho dù thiên hạ có chửi rủa gì thì bà cũng ráng nhịn làm thuê làm mướn kiếm tiền nuôi con. Bà không nản lòng vì bị người khác chê là nghèo khổ, thấp hèn đủ thứ. Rồi có cả những người Cha, người Mẹ đi lượm rác, làm công việc thấp kém nhất xã hội để hi sinh vì con cái để cho con cái họ học hành thành bác sĩ, kỹ sư. Ở Việt Nam đó, có những câu chuyện như vậy. Ở Mỹ cũng vậy, có những người đi làm nail (từ tiếng Anh), làm nghề rửa chân dũa móng, họ hi sinh hết để nuôi con học thành tới bác sĩ, tiến sĩ. Hay Cha Mẹ các vị đó, gia đình nghèo khổ nhưng thấy con cái học hành tốt thì họ làm lụng tối ngày, không quản ngại xa xôi, nắng mưa, sương gió, cực nhọc, vất vả, hàng ngày kiếm những đồng bạc lẻ, làm việc miệt mài để nuôi con ăn học. Lại có những người người Mẹ để có được sự sống cho đứa con bé bỏng của mình được chào đời mà sẵn sàng hi sinh bản thân, thậm chí cả tính mạng của mình. Thầy kể những sự hi sinh đó, quý vị đã thấy khủng khiếp chưa. Nên hễ ai mà chỉ cần chê bai cha mẹ mình, phản ngược cha mẹ mình là đã đi ngược lại với tánh hiếu thuận của Trời và dù cho người này tu đến cỡ nào đi nữa cũng không bao giờ thành quả vị Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa được.

Những người nào làm quan, làm vua, làm chúa, làm chủ nhân của đất nước, thay thế Quốc Tổ điều hành đất nước Việt Nam mà sử dụng tánh đức hi sinh của mình vì hạnh phúc của nhân dân, thì thời người đó tuy không tu trong tôn giáo nào cũng hiện quả trí tuệ ba la mật đa liền.

Những người làm việc bên cạnh Thầy mà nói con làm việc cho Trời mệt quá Thầy ơi, là xong, họ đã đánh mất đức tánh hi sinh của mình nên quả vị của họ rơi xuống chỉ có ở Non Tiên Cực Lạc thôi, không bao giờ có được trí tuệ của ba la mật đa đâu. Nếu tu mà không có được trí tuệ của ba la mật đa, thì không bao giờ chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết được. Nghĩa là người nào đánh mất đức tánh hi sinh thì không bao giờ có quả ba la mật đa, nên không bao giờ chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết được, người đó cũng không bao giờ tạo lập pháp độ được.

Vậy tới cấp trung của pháp môn bố thí là gì? Là thuyết pháp, giảng kinh, truyền bá hoặc nói những lời của thiên ý, của Cha Trời Mẹ Trời. Rồi dùng trí tuệ, pháp môn của mình để giúp đỡ, cứu độ tâm linh của mọi người. Việc giảng kinh thuyết pháp của Thầy trong lớp học Văn Hóa Cội Nguồn là giảng cho các vị nghe về Mật Tạng Vũ Trụ, giúp các vị hiểu về quy luật vũ trụ, tâm linh con người... Còn sau này Thầy giảng đại trà thì pháp độ nó khác. Nhưng thuyết pháp của Thầy là đi từ chân tâm chân tánh, phá đi cái kiến chấp của các vị. Chứ không giống như thuyết pháp của các vị Thầy hiện nay.

Rồi những việc mà các quý vị đang làm như in kinh, truyền kinh, truyền phát lời thiên ý trên mạng cũng là trung của hạnh bố thí, vì các vị đi vào việc bố thí những ý Trời cho thiên hạ, giúp thiên hạ sáng tỏ lương tâm của mình. Các vị nên nhớ, đi vào tánh đức hi sinh nghĩa là làm việc mà không mưu cầu bất cứ thứ gì, không cần danh, không cần lợi gì hết, chỉ làm vì sự tiến hóa của nhân loại mà thôi nhưng rồi sau Trời lại cho họ, nên cái gì họ cũng có. Còn ở cấp trung là các vị làm vì nhiều thứ, rồi phần vì mong muốn lợi ích của bản thân mình, phần vì người khác nữa, nhưng tựu chung là bố thí giúp con người phát triển văn hóa tốt đẹp, phát triển trí tuệ, dù cho ở trong tôn giáo nào cũng nghĩa như vậy. Nhưng có điều khác biệt giữa truyền lời của thiên ý trong Văn Hóa Cội Nguồn và truyền lời kinh trong các tôn giáo đó là lời thiên ý trong Văn Hóa Cội Nguồn giúp con người khai mở trí tuệ nhanh hơn, giúp con người sáng tỏ lương tâm của mình hơn, giúp tận độ tất cả nhân loại thời mạt pháp dù cho người đó ở bất kỳ đâu, thuộc bất kỳ tôn giáo nào. Còn lời kinh trong các tôn giáo không bao giờ đạt tới những lợi ích này.

Cấp hạ của bố thí: là cho đi tài thí, vật chất để nuôi xác thân, giống như làm từ thiện thấy người nghèo khổ thì giúp đỡ họ về vật chất. Nghĩa là hạ bố thí chỉ dành để nuôi xác thân. Khi các vị dùng đồng tiền hoặc vật chất để cho người nghèo thì các vị thấy tinh thần mình nhẹ nhàng, thì cái đó cũng là có lợi cho mình nè, vì linh hồn mình an vui, nhẹ nhàng cũng giúp cho tiêu hao bớt bệnh tật. Con người sống lạc quan thì ít khi bệnh tật. Người mà thường xuyên đi làm từ thiện thì tánh yêu thương của họ nhiều, nên tinh thần của họ lạc quan, tâm họ nhẹ bỗng, nhờ đó mà cuộc sống của họ cũng tốt đẹp hơn. Còn lợi ích với người nhận, ví dụ họ nhận được bao gạo thì nhờ đó mà nuôi sống thân xác tiểu thiên vũ trụ, nhờ đó mà nuôi sống cha mẹ, con cái của họ, để gia đình họ vượt qua khó khăn khi nguy cấp. Người nhận quà từ thiện họ có biết sử dụng đồ bố thí đó đúng cách, đúng mục đích hay không, đó là chuyện của họ nữa. Họ ăn gạo mà họ làm ác thì mấy ai biết được. Nói tóm lại những thứ bố thí mà cho - nhận vật chất hiện hữu, ngay trước mắt thì đó là hạ bố thí. Kể cả việc một số vị Thầy đi cúng xong rồi nhận tiền ngay, đó cũng thuộc hạ bố thí, chứ không phải là người trí tuệ gì nhiều đâu.

Còn các vị đi phóng sanh là ở cấp hạ của hạ bố thí mà thôi. Tương tự như người này đi cày cuốc góp nhặt lượng phước đức rất nhỏ cho mình. Nên làm thiện mà đi phóng sinh thả cá ngoài ao chưa đạt tới gì đâu. Đó chưa phải là bố thí đúng cách, nhiều vị không hiểu biết, Thầy thấy làm cho vui thôi.

Thầy rất cảm ơn người đặt câu hỏi này, để Thầy dùng tâm kinh của mình mà giảng ra ba cấp của bố thí: thượng - trung - hạ. Thầy công nhận đây là câu hỏi rất hay và tuyệt vời, giúp ích được cho rất nhiều người để họ hiểu đúng về các phương pháp bố thí, mà đa số con người ngày nay hiểu sai nên làm trật.

CÚNG DƯỜNG

Cúng dường cho các bậc chân sư giác ngộ như thế nào mới đúng? Các vị cần hiểu những bậc chân sư giác ngộ họ chỉ cần vật chất tối thiểu, đủ sống để độ pháp thôi. Nên cúng dường cho các bậc giác ngộ không phải là cúng dường vật chất để họ nuôi thân xác, vì thân xác của các Ngài chỉ cần ăn uống bình thường, khỏe mạnh là được, để mà họ có thể giảng kinh thuyết pháp và viết ra tất cả các mật tạng của vũ trụ thôi. Ví dụ như Thầy, Thầy là đại cư sĩ, tu tại gia, Thầy làm việc tại Mỹ nên vật chất của Thầy đầy đủ, vật chất của Thầy dư sức để trường tồn. Vậy quý vị muốn cúng dường thì nên cúng dường cái gì? Các vị chân sư giác ngộ họ luôn có tánh đức hi sinh và ước vọng chân tâm là tận độ thiên hạ về Trời. Cho nên người cúng dường cho họ mà cúng dường phương tiện để họ độ người thì đó là phương pháp cúng dường rất là cao quý. Nói về phương tiện thì có hai loại, đó là phương tiện vật chất và phương tiện pháp độ của tâm linh. Nếu các vị cúng dường cho Thầy phương tiện vật chất để độ người, hoặc các vị tự lập ra phương tiện pháp độ để độ người, đem cái đó cúng dường, là điều tốt nhất. Mọi thứ khác, Thầy không cần đến. Cúng dường cho Người viết Sử Kinh Văn Hóa Cội Nguồn cũng vậy, Ngài không cần quý vị mang tiền của cúng dường đâu. Người viết sử kinh sống rất giản dị, rất đạm bạc, rất đời thường, dù cho có tiền đi chăng nữa cũng dùng để làm phương tiện mà độ người thôi. Một số đệ tử tôn quý của các bậc chân sư giác ngộ, do có căn duyên tu tập từ vô số kiếp lâu xa nên họ có thể lập ra phương tiện độ người rồi cúng dường cho các vị Thầy chân sư của mình. Các vị Thầy đó trân trọng vô cùng. Cho nên cúng dường cho các bậc chân sư giác ngộ không phải như các vị nghĩ đâu.

Một số vị Thầy trong tôn giáo bây giờ họ đang đi sai con đường đó. Bá tánh họ không tạo dựng được phương tiện độ người mà họ chỉ tạo dựng được vật chất, của cải nên họ mang cái đó đi cúng dường là để các vị Thầy đó tạo nên phương tiện độ người. Nhưng tiền của nhiều quá, một số vị Thầy làm bậy, sai mục đích. Hiện nay, rất nhiều các vị Thầy vì lòng tham nên làm trật hết, có khi họ còn tranh chấp nhau, rồi bỏ đi chỗ khác để tu, sau đó lại tiếp tục kêu gọi, nhận cúng dường.

Hay là, lại có một số vị tu hành hiểu sai về khất thực, bố thí và cúng dường. Ngày xưa, vào thời Thích Ca Mâu Ni, con người thời đó họ sống trong bộ tộc, làng mạc, vật chất nghèo nàn, đời sống lạc hậu, người ta làm ra thức ăn thời đó cũng vô cùng khổ cực. Nên để có được nhân duyên thuyết pháp giảng kinh cho người khác nghe, để có được nhân duyên truyền bá chánh pháp thì Đức Phật mới đi khất thực để tạo ra những nhân duyên với Phật pháp. Đi như vậy cũng là pháp độ của Ngài vì đi như vậy mới độ được người. Mà đi miết như vậy cũng cần có vật thực để ăn. Hễ người ta cho gì là Ngài ăn nấy để cho tiểu thiên vũ trụ có đủ sức khỏe mà giảng pháp. Các vị cũng không hiểu được văn hóa của người dân Ấn Độ thời đó. Nên rất nhiều vị Thầy tu bây giờ không thể hiểu nổi việc khất thực của Phật Thích Ca. Còn bây giờ những vị đi khất thực mà không hiểu đúng được ý nghĩa của nó, nên dẫn tới tu mù, tự đặt ra một số điều phi lý trên đời, rồi tưởng rằng tu khổ hạnh như vậy là đạt tới a la hán. Không phải đi hành khất như vậy là chân tu là chứng được đạo màu đâu. Phật Thích Ca đi khất thực, đi tới đâu giảng pháp tới đó, tùy người mà hóa độ, có thể giảng ra muôn vạn pháp môn để độ người, còn mấy Thầy tu khất thực bây giờ có giảng được cái gì để độ người đâu. Hơn nữa vào thời khoa học vật chất lên cao, người ta đến chùa rất đông, nghe pháp trên mạng rất nhiều thì đâu cần đi khất thực để tạo ra những nhân duyên độ người nữa.

Thầy nói như vậy để các vị hiểu đúng về cúng dường. Riêng với Thầy, người nào tạo ra pháp độ tâm linh độ người của mình rồi đem cái đó cúng dường cho Thầy, Thầy quý trọng người đó vô cùng, đó là sự cúng dường cao quý nhất. Thầy hoan hỉ vô cùng. Thầy có thể dành muôn vạn thời gian và hi sinh thời gian của Thầy để giảng pháp cho người đó, đến khi người đó ngộ được chân tâm, chân tánh của mình mà để tạo dựng được nhiều phương tiện độ người hơn nữa. Thầy sẽ truyền hết tất cả những bí mật của Thầy cho họ, Trời cho Thầy bao nhiêu trí tuệ, Thầy sẽ giảng hết cho người đó bấy nhiêu, không có một sự che khuất nào. Đó là tất cả những điều mà Thầy muốn nói.

*     *     *

4 - CÂU HỎI SỐ 4:

Thưa Thầy, con tu học theo Văn Hóa Cội Nguồn nhưng con vẫn niệm Phật, phát nguyện vãng sanh về cõi nước của Phật A Di Đà thì sau khi mất con sẽ về đâu? Con mong được Thầy giải đáp ạ.

THẦY NHÂN THẬP TRẢ LỜI:

Quý vị học theo Văn Hóa Cội Nguồn là để hiểu được tinh hoa của các Tôn Giáo, vì các Tôn Giáo đều có tinh hoa của nó. Các tinh hoa này đều đi từ tánh lý của Bản Thể Linh Giác Vũ Trụ đi ra. Quý vị học Văn Hóa Cội Nguồn, nhưng tùy thuộc vào sự hiểu biết về Chân Tâm, Chân Tánh, khi hiểu ngộ ra thời quý vị muốn về nơi nào là chuyện của quý vị. Nếu tu học theo Văn Hóa Cội Nguồn thì chắc chắn trí tuệ của quý vị sẽ phát triển lên.

Còn các vị muốn phát nguyện vãng sanh về các cõi nước Phật thì các vị sẽ về các cõi nước Phật. Vì tánh lý tự do của Trời, nên nếu phát nguyện về cõi nước Phật A Di Đà thì mãn trần sẽ được về cõi nước A Di Đà. Cõi nước của Phật A Di Đà là cõi Tịnh Độ. Có nghĩa là, những con người sau khi viên mãn cõi trần, tâm tánh hướng về thiện lành và tưởng nghĩ đến A Di Đà, theo Đại Nguyện Lực của Phật A Di Đà nên sẽ đưa những người này về các tòa sen ở cõi nước A Di Đà. Họ phải sống trong hoa sen đó bảy ngày bảy đêm, để gột rửa hết tất cả các trược tánh của mình, sau đó mới sanh ra như một đứa trẻ. Suốt thời gian ở trong đóa hoa sen, tất cả các dòng nước và các đóa hoa sen đó đều phát Kinh Pháp Độ của A Di Đà để gột rửa linh hồn cho họ. Để ra một thân tướng xinh đẹp, bắt buộc phải gột rửa trong đóa hoa sen bảy ngày bảy đêm, mới ra được đứa trẻ nhỏ xíu bằng ngón chân cái của Đức A Di Đà. Vậy các vị đó phải tu vô lượng ức kiếp nữa mới được thân tướng như A Di Đà. Vì tâm thức của họ không lớn, phước quả của họ ít, nên chỉ là hưởng nhờ Phước của Đức A Di Đà. Giống như Đức Đại Thế Chí, thân tướng của Ngài to lớn, vì Ngài có Phước Quả Trí Tuệ, Phước Quả Độ Sanh con người nên thân tướng to lớn. Cho nên, vãng sanh vào nơi nào là tùy thuộc vào Tâm của quý vị. Quý vị muốn vãng sanh về cõi nước Phật A Di Đà thì theo hạnh nguyện của A Di Đà để vãng sanh về nơi đó. Về nơi đó thân xác của các vị lớn hay nhỏ là do trí tuệ của các vị, do sự hiểu ngộ Chân Tâm, Chân Tánh của các vị.

Quý vị tu học theo Văn Hóa Cội Nguồn, đến khi nào phước quả trí tuệ phát triển, lớn dần thì sẽ biết nơi nào mình muốn ở, nơi nào mình muốn về. Tất cả là do chân tâm, chân tánh của mình quyết định. Nếu quý vị tu mà đạt tới cảnh giới của chân tâm thì sẽ trên nhìn thấy Đạo Trời, dưới hành theo Đạo Trời. Đi vào trong Pháp Độ để cứu độ chúng sanh, đi vào trong Đạo Luật của Trời để sắp xếp theo trật tự Vũ Trụ. Các vị sẽ không còn muốn vãng sanh vào các cõi nước đó nữa, mà tự mình đi vào trong thể tánh Độc Lập của Chân Tâm, tự mình phát ra đại nguyện lập nên quuốc độ để tận độ con người. Đợi đến khi Liên Hoa Hải Tạng ra đời, kết nối Chân Tâm trở thành Liên Hoa Pháp Độ. Vào thời của Liên Hoa Pháp Độ thì các thể tánh Chân Tâm, Chân Tánh của mọi người ai cũng độc lập như nhau, còn kỹ năng Pháp Độ của mỗi con người khác nhau. Vì vậy, mới hình thành nên một liên kết, theo thể tánh Liên Kết Đại Đồng của Vũ Trụ, tạo thành một mảng liên kết của nó, gọi là Liên Hoa Hải Tạng Pháp Độ để tận độ chúng sanh.

*     *     *

5 - CÂU HỎI SỐ 5:

Thưa Thầy, con xin phép có câu hỏi như sau: con tự thấy rằng nhiều nơi, nhiều cá nhân họ chăm lo về việc thờ tự, dù không sai về sự vận hành âm - dương, đầy đủ về vật chất. Nhưng bên cạnh đó, thiếu đi thờ Tổ Tiên, Ông Tổ dựng nước, sống ngược với lương tâm. Vậy cho con hỏi nơi thờ tự đó có sự linh thiêng, linh ứng và che chở của Ơn Trên hay không? Con xin cảm ơn Thầy.

THẦY NHÂN THẬP TRẢ LỜI:

Thờ tự thuộc về kinh dịch của Tâm Linh. Kinh dịch là sự vận hành của Tạo Hóa, sự vận hành của Sắc Giới theo định luật, quy luật của Vũ Trụ. Người mà đạt tới hiểu thấu Đạo Trời, thì sẽ tinh thông kinh dịch, luôn luôn tôn thờ Trời. Đã là con người mà không biết đến Cội Nguồn Tổ Tiên của mình, không biết tôn thờ Cha Trời, Mẹ Trời thì những người này dù cho thờ tự giỏi đến đâu đi nữa cũng không thể đạt tới sự linh ứng lớn hay tích được âm đức trong thờ tự. Đã là người dân sống trên đất nước Việt Nam, mà không biết đến Cội Nguồn của Dân Tộc, Cội Nguồn của Đất nước, không tưởng nhớ tới công ơn của người dựng nước thì người này không hoàn thành được nhân đạo của mình nên dù cho họ tu giỏi đến mấy cũng không thể trở thành Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa được. Dù cho họ thờ nhiều đến mấy cũng khó có thể đạt được nhiều sự bảo bọc, che chở từ thế giới tâm linh. Huống chi những người sống mà trái ngược lại lương tâm thì không cách gì có được sự linh ứng hay kết nối với các vị Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa được. Người mà sống ác tâm ác tánh, thì tần số năng lượng của họ gần với tần số năng lượng của Ma, của Quỷ nên khi thờ tự có thể họ thấy chút ít sự linh ứng nào đó, nhưng đó không phải là của Ơn Trên.

Ngày nay, một số người nói rằng: sao thờ tự tượng Phật không linh. Vì quý vị không bao giờ kích hoạt được tánh linh của nó. Không phải là không linh, mà con người sống trái ngược lương tâm thì không cách gì tương cảm với Linh Giác Thần Thông đó được. Có nghĩa là, các tượng Phật đó vẫn có Linh Giác Thần Thông. Linh Giác Thần Thông này chính là từ trường kết nối những người thờ tự với các vị Phật đó. Nếu quý vị đi ngược lương tâm, tức là đi ngược với Linh Giác Thần Thông, thì không kết nối được, nên nó không linh. Muốn hiểu rõ hơn về điều này, quý vị cần học qua bài học “Linh Giác Thần Thông” thì sẽ hiểu được là tại sao các vị thờ tự lại không linh. Tại sao con người thờ tượng Phật khắp nơi nhưng không có sự linh ứng, không có sự che chở gì. Đó là vì con người sống trái ngược với lương tâm, đi vào ác tâm ác tánh. Nhưng Linh Giác Thần Thông của các vị Phật là Linh Giác dương, là Linh Giác hiện hữu các tánh thiện. Nếu đi ngược tánh thiện, tức là các vị không bao giờ tương cảm được với Linh Giác Thần Thông, để lay động được tới các vị Phật giống như Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, hay Đức Phật A Di Đà để các vị ấy ra sức độ trì cho mình.  

*     *     *

6 - CÂU HỎI SỐ 6:

Thưa Thầy, người lang thang cơ nhỡ, người buôn thúng bán bưng, học sinh nghèo vượt khó, gia đình hoàn cảnh khó khăn đi thuê mướn nơi ở… nhưng có nhân duyên lớn gặp Văn Hóa Cội Nguồn. Họ chưa có khả năng thờ cúng bằng sắc giới, họ thường tưởng nhớ, tôn thờ bằng tâm hiếu kính của mình với Tổ Tiên, Cha Trời, Mẹ Trời, Quốc Tổ. Họ sống không đi ngược với lương tâm. Vậy, liệu họ có được sự che chở từ Cha Trời, Mẹ Trời, từ hồn thiêng dân tộc không? Con tri ân công đức của Thầy.

THẦY NHÂN THẬP TRẢ LỜI:

Vẫn được. Tại vì, Linh Giác Vũ Trụ hiện hữu mọi nơi, khắp cùng trong Vũ Trụ này. Cho nên, hễ con người tương cảm với nó thì được Trời che chở. Còn hễ mình không tương cảm được, thì Cha Trời, Mẹ Trời không che chở cho mình. Cho nên, người tu học trong Văn Hóa Cội Nguồn, hiểu lời dạy của Cha Trời, Mẹ Trời, lời dạy Ông Cha, sống đúng với lương tâm, người này sẽ được thụ hưởng phước lành của Trời, nên được Cha Trời, Mẹ Trời luôn bảo bọc mình. Nhưng chỉ bảo bọc riêng mình thôi, còn gia đình, dòng họ mình thì phải nhờ vào đâu? Đó là phải đi vào trong kinh dịch của thờ tự. Cho nên, nếu chỉ có mình tương cảm được với Cha Trời, thì Cha Trời bảo hộ mình. Mình tương cảm được với Mẹ Trời, thì Mẹ Trời bảo hộ mình. Mình tương cảm với Cha Trời, Mẹ Trời là vì mình hành theo lời của Văn Hóa Cội Nguồn, là lời dạy của Cha Trời, Mẹ Trời, là luôn luôn sống đúng với lương tâm mình. Khi quý vị sống đúng với lương tâm của mình, thì trong Thần Lực của quý vị sẽ hiện hữu ra Linh Giác Thần Thông của thiện lành. Nó tương cảm được với tất cả các Linh Giác Thần Thông ở trong Vũ Trụ này về tánh thiện lành. Cho nên, người này cầu Phật sẽ được Phật phù hộ, cầu Chúa sẽ được Chúa phù hộ, cầu Thần sẽ được Thần phù hộ, cầu bất cứ gì thiện lành đều được nấy. Còn nếu quý vị sống đúng với lương tâm của mình, lại thêm tôn thờ Cha Trời, Mẹ Trời, tôn thờ Quốc Tổ, thực hành theo lời dạy của Cha Trời, tương cảm được Linh Giác Thần Thông của mình với Cha Trời, Mẹ Trời, thì người này gần như đạt tới sự che chở của Cha Trời, Mẹ Trời như ý.

*     *     *

7 - CÂU HỎI SỐ 7:

Thưa Thầy, trong Đạo Mẫu những người được coi là có căn đồng, số lính phải ra trình đồng mở phủ. Nếu không thì bị hành cho điên dại. Trong 36 giá hầu đồng, có phải thế giới tâm linh nhập xác đồng không ạ? Con mong Thầy giải thích giúp con hiểu rõ hơn hiện tượng nhập xác và hầu đồng. Con cảm ân Thầy.

THẦY NHÂN THẬP TRẢ LỜI:

Trong dân gian, Tín Ngưỡng Thờ Mẫu đã có từ rất lâu rồi. Còn Đạo Mẫu ra đời sau khi Văn Hóa Cội Nguồn bị thất truyền. Chứ xưa kia, ở kinh đô Văn Lang không có Đạo Mẫu. Tinh hoa của Đạo Mẫu đó là hướng con người biết thờ cúng và tưởng nhớ đến công ơn của các vị Thánh Thần, hay những người có công với nhân dân, khuyên dăn con người làm thiện, dạy con người biết hướng về thế giới tâm linh, kết hợp với nét đặc sắc riêng của văn hóa, văn nghệ trong dân gian mang tính đặc trưng tại vùng miền đó. Vì ra đời sau khi Văn Hóa Cội Nguồn thất truyền nên trong các vị Thánh mà họ tôn thờ không có ai ở thời kỳ Hùng Vương cả. Họ không hiểu gì về Nguồn Cội, cũng không hiểu gì về Chân Tâm, Chân Tánh con người nên đi vào nô lệ của thần quyền, rồi đi vào cúng vái, xin cho, lễ lạy, cầu cạnh khắp nơi. Họ chạy theo cái ngọn, cái bánh vẽ của một số vị Thầy mà quên mất cái gốc. Thậm chí nhiều con nhang đệ tử bây giờ còn không biết ai là Tổ Sư của Đạo Mẫu, ai là người sáng lập ra Đạo Mẫu. Ngày nay, nhiều hiện tượng trong Đạo Mẫu đi vào thoái hóa, đi vào mê tín dị đoan. Như hiện tượng thanh đồng cầm tiền rồi tung ném vèo vèo, đó không phải là hành động thuần khiết của Đạo Mẫu. Còn hành động nhập xác là do một số linh hồn có tu luyện nên họ lựa chọn những con người có phúc mỏng, nghiệp dày, lại không làm chủ được tâm linh của mình để tác động, điều khiển thể xác của những người này. Hoặc cũng có thể linh hồn nhập và xác phàm đó có mối duyên nghiệp sâu xa. Nhìn chung hành động nhập xác là mượn cái xác của người khác mà không có hồn, như cái nhà không có chủ vậy. Linh hồn của người phàm đó người ta muốn bóc ra, bóc vô là chuyện bình thường. Thượng thần của những người này rất yếu, yếu vô cùng. Bản Thể Tâm Linh của con người là độc lập, là có đủ thấy nghe hay biết cùng ý chí nên sinh ra cái gọi là thượng thần. Nghĩa là nếu thượng thần lớn thì tinh thần con người mãnh liệt, tính độc lập, tính làm chủ cao nên không có Ma Quỷ nào xâm nhập được, không thể nào tiếp cận được, đó là sự tự bảo hộ cho chính mình. Người mà tu càng cao, càng đạt tới thấu hiểu Chân Tâm của mình, thì người này càng tạo ra một Thần Lực vô cùng lớn để bảo vệ chính mình.

Quý vị cần hiểu, trong thế giới tâm linh, không có vị Thánh, Thiện Thần nào mà đi hành con người cả. Ở thế giới âm cảnh có những người tu luyện lâu năm, song họ vẫn chưa đủ phước đức để siêu sanh về thiên giới. Họ cũng có pháp thuật nên họ có thể tác động vào con người. Họ tác động vào ý thức, việc làm, lời nói của các xác đồng để khuyên dăn con người làm thiện, tạo dựng cái phước thiện chia đôi. Nhưng mà lâu dần, Đạo Mẫu ngày càng đông con nhang đệ tử rồi người ta cúng dường nhiều quá nên nhiều người tu luyện nơi âm cảnh này họ không làm chủ được nên dẫn tới cái tánh tham, dẫn tới nhiều chuyện nọ kia. Nhưng do họ chưa đánh mất lương tâm nên chưa bị thiên luật vũ trụ xoay chuyển. Những con người mà tu luyện được nhiều phép thuật thần thông thì địa phủ cũng khó bắt được họ, khi đó cần tới long thần hộ pháp. Còn nếu họ mượn xác phàm mà gây nhiều hành động tội lỗi trái ngược lương tâm, đi ngược lại đạo đức con người thì cả những linh hồn và xác phàm đó sẽ phải gánh nhiều họa kiếp, rồi Nhà Nước Tâm Linh Văn Lang sẽ xử họ, ở trần gian thì pháp luật Nhà Nước sẽ trừng phạt họ.

Quý vị khó mà hiểu được những người trình đồng, không bao giờ tưởng tượng được tại sao người âm cảnh họ lại chọn những người đó. Quý vị không bao giờ hiểu được ai là người ở trong tác động, điều khiển cái xác phàm đó, không bao giờ thấy rõ, các vị không bao giờ biết. Thầy biết, nhưng đó là pháp tu của những người tu luyện lâu năm trong thế giới âm cảnh. Họ mượn xác phàm rồi giả Phật, giả Thánh, giả Thần, giả Tiên, giả Chúa, xưng danh tùm lum. Họ xưng danh như vậy để khuyên dăn con người. Các vị Phật Thánh Tiên Thần Chúa đều biết việc làm của họ, nhưng các Ngài đều thấu tỏ kiếp nhân sanh con người nên không bao giờ diệt pháp tu của họ vì họ chỉ có cách đó mới tạo được phước đức cho mình.

Tóm lại, vấn đề Đạo Mẫu, các vị phải hiểu rõ, thấu tỏ nó thì các vị mới nhận biết được đâu là những hành động mê tín và phá được các vô minh trong đó. Tuy nhiên, mỗi người tu dù cho tu thấp hay tu cao thì họ đều mong muốn tạo pháp độ nhân để giúp con người thoát khổ và tiến hóa tâm linh. Tánh Trời luôn luôn công bằng và đa nguyên, cho nên tất cả các Đạo đều bình đẳng như nhau và là trăm hoa đua nở để giúp cho tâm linh con người đều được tiến hóa đi lên, rồi cuối cùng trở về Cội Nguồn. Thầy đi vào tánh bình đẳng nên Thầy không bao giờ chấp pháp hay loại bỏ đi bất kỳ pháp tu nào, mà Thầy luôn tôn trọng tinh hoa của các tôn giáo. Thầy giảng giải Văn Hóa Cội Nguồn để cho quý vị hiểu về Nguồn Cội, hiểu về chân tâm, chân tánh, lương tâm con người rồi dần dần quý vị tự tu, tự độ chính mình.

*     *     *

8 - CÂU HỎI SỐ 8:

Thưa Thầy, con muốn hỏi thế nào là khai căn, mở căn ạ? Con mong Thầy giải đáp giúp con hiểu rõ hơn về vấn đề này ạ. Con xin tri ân công đức của Thầy.

THẦY NHÂN THẬP TRẢ LỜI:

Huệ mạng linh hồn con người hình thành bởi 8 giác quan (căn), đó là: quan giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác, ý giác ý thức, tiềm giác tiềm thức, vô minh vô thức. 8 giác quan đó liên hệ mật thiết tới lục trần và lục thức. Sắc giới hiện hữu xung quanh chúng ta chính là lục trần. Lục thức (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý) chính là dây dẫn làm cho lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) đi vào lục căn của mình, dựa trên ngũ uẩn (thọ, tưởng, sắc, hành, thức). Khi con người lắng đọng lục căn này, lục căn trở nên thanh tịnh, ngũ uẩn giai không, thì người đó sẽ thấu rõ bản thể chân như, thấu rõ bổn lai diện mục, ngộ được tâm toàn giác của mình, minh tâm kiến tánh hiện ra.

Vậy khai căn là khai cái gì? Họ nói khai căn là họ khai mở cho chị ngộ ra cái căn tánh của chị chứ không giúp cho lục căn của chị thanh tịnh được. Muốn lục căn thanh tịnh thì chị phải tu, phải học và phải hành. Họ khai căn cho các vị là khai mở căn cơ. Họ chỉ cho các vị cái hạnh nguyện tu hành của chính các vị, đó là khai căn, giống như chỉ rõ được hạt bồ đề tâm của các vị đã gieo từ muôn vạn ức kiếp.

Để Thầy chỉ cho cách thành đạo của Đức Huỳnh Phú Sổ. Các vị nếu như nghiên cứu về lịch sử của Đức Huỳnh Phú Sổ thì các vị sẽ hiểu rằng tại sao lục căn của ông thanh tịnh. Nghĩa là từ khi sinh ra, ông không có màng tới chuyện gì khác, cho nên lục căn của ổng từ từ thanh tịnh, thanh tịnh, thanh tịnh… Đến khi lục căn thanh tịnh gần như hoàn toàn thì có nghĩa ổng ngộ được tánh toàn giác của mình. Nhờ ngộ được tánh toàn giác nên ổng mới sáng lập ra Đạo Phật Giáo Hòa Hảo. Nghĩa là khi con người làm cho lục căn của mình nó thanh tịnh thì tâm toàn giác ra đời.

Hoặc là Phật Thầy Tây An cũng vậy, mặc dù về mặt hình thức, ông để cái râu dài vậy, nhưng mà lục căn của ông thanh tịnh. Hễ lục căn thanh tịnh, con người trở thành toàn giác, chứ không phải là toàn năng. Toàn năng và toàn giác hoàn toàn khác nhau. Con người để đạt được cả hai thứ toàn năng và toàn giác thì người đó phải có nhị xác thân của vô cực chân nguyên thần lực, thì mới thị hiện được toàn năng toàn giác giống như Quốc Tổ Hùng Vương cách đây 5000 năm.

Với Phật Thích Ca Mâu Ni, cũng là người đạt tới nhị xác thân, đạt tới toàn giác của vũ trụ. Toàn giác nghĩa là hiểu hết, biết hết, cái gì cũng hiểu, cái gì cũng biết gọi là toàn giác. Nhưng nhị xác thân của Đức Phật không đạt tới toàn năng giống như ở cõi Trời, không đạt tới toàn năng như Quốc Tổ được. Toàn năng chính là sự vận hành sắc giới, cái gì cũng vận hành được gọi là toàn năng.

Con người nếu cứ để lục căn chạy theo lục trần thì đó là con người phàm tục, sống theo mê tánh, vô minh của mình. Giống như chị thấy tuổi trẻ thì chị đẹp, mà tới tuổi già nó lại nhăn nheo, thấy mình già đi, xấu đi. Có nghĩa là lục căn người đó đang chạy theo lục trần, rồi người này sanh ra lo buồn, rồi đi tìm phương pháp làm cho mình trẻ đẹp lại, đi tìm thuốc trường sinh. Ví dụ đó là để thấy rằng lục căn con người luôn bị khuấy động và chạy theo lục trần, thông qua cái sự nhận thức (lục thức) vô minh của mình. Cuối cùng người này không bao giờ khai ngộ được bổn lai diện mục của mình, mà sống mãi trong cảnh giới mê.

Cho nên con người tìm đến một vị Thầy để khai căn có nghĩa là họ nói cho người đó biết, để nhớ lại hạnh nguyện tu hành của mình, để từ đó người này hiểu lần lần, rồi lần lần nương theo hạnh nguyện đó mà tu hành để cho lục căn thanh tịnh. Nhưng muốn cho lục căn thanh tịnh thì phải có pháp môn mới làm được. Không có pháp môn thì không cách gì làm cho lục căn của mình thanh tịnh được. Vì vậy mới có câu “Không Thầy đố mày làm nên”. Người Thầy chính là người khai, mở, dẫn đường, chỉ lối, truyền dạy tri thức cho con người.

*     *     *

9 - CÂU HỎI SỐ 9:

Thưa Thầy, trong Long Hoa Vô Ngại Đại Bi Thần Chú có câu:

“Cha Trời cùng với Mẹ Trời

Luôn luôn bảo bọc cho người luyện tu

Nhất là khi đã quy y

Trở về Nguồn Cội hiệp theo ý Trời”

Vậy con xin hỏi Quy Y trong Văn Hóa Cội Nguồn nghĩa là như thế nào ạ? Con mong Thầy giảng giải cho con được rõ ạ. Con xin cảm ơn Thầy.

THẦY NHÂN THẬP TRẢ LỜI:

Các vị thường nghĩ rằng quy y trong Văn Hóa Cội Nguồn giống như quy y trong Đạo Phật. Không phải vậy. “Quy” có nghĩa là hướng về bổn gốc của mình, trở về nơi Bản Thể Cội Nguồn của Vũ Trụ. “Y” là y nguyên, trước sau như một. Quy y trong Văn Hóa Cội Nguồn là con người sẽ quy hướng về Bản Thể Tối Linh của Vũ Trụ, mà giải thoát linh hồn của mình. Lâu nay, các vị lạc Cội, lạc Nguồn, các vị không biết mình được sinh ra từ đâu, không biết nguồn gốc của nhân loại con người là do ai sinh ra, không hiểu Cha Mẹ đầu tiên của con người là ai, vì vậy mà trôi lăn mãi trong vòng sinh tử luân hồi. Dù cho các vị là người có tu hay không tu theo tôn giáo nào, các vị cần hiểu Bản Thể Tổ Tiên, Cội Nguồn là như thế nào? Cha Mẹ đầu tiên của nhân loại con người là ai? Bản Thể Cội Nguồn chính là là Bản Thể Linh Giác Tối Cao, trường tồn bất diệt, trước sau như một, không có sự khởi đầu, không có sự kết thúc, không quá khứ, không vị lai, một bản thể như hư không, bao trùm khắp vũ trụ. Mọi sự sống đều nằm trong Bản Thể Tối Cao nầy. Mà Chúa Giê Su gọi Đấng Tối Cao là Đức Chúa Trời, Phật Thích Ca gọi là Đức Như Lai. Lão gọi là Đấng Vô Vi Hư Không Đại Đạo. Tuy nhiều tên gọi khác nhau nhưng thật ra chỉ có một đấng Khai Hóa Tổ Tiên Như Lai mà thôi. Từ trong Bản Thể Tự Nhiên đó mới hiện thân ra Cha Trời, Mẹ Trời, sanh con đẻ cái lưu truyền nòi giống con người cho tới tận ngày nay. Nên trong Vũ Trụ này, Cha Trời Mẹ Trời có quyền năng tột thế, có phước đức vô tận vì đã tạo ra thân xác con người, dưỡng nuôi mọi sự sống trong lòng Bản Thể, giúp cho tất cả mọi linh hồn đều có cơ hội tiến hóa để trở về nguồn gốc nơi mình sinh ra. Cha Trời, Mẹ Trời còn luôn luôn hộ trì, hộ độ, bảo bọc cho những ai hướng về Cội Nguồn. Khi con người quy hướng và tôn thờ Tổ Tiên, Cha Trời, Mẹ Trời thì sẽ giúp cho tâm linh người đó tiến hóa, siêu thoát vô lượng tội lỗi, thoát khỏi địa phủ, không bị sa đọa vào ba con đường ác, mãn trần trở về thiên đàng chính quê.

Vậy quy y Cội Nguồn khác với quy y tôn giáo ở chỗ nào?

Trong các tôn giáo, các quý vị nhờ nương theo nghiệp lực, hạnh nguyện và đại nguyện của các vị giáo chủ để mà về Trời hưởng phước. Trong các cõi nước Trời của các vị giáo chủ trong các tôn giáo (ví dụ: Phật A Di Đà, Phật Dược Sư, Phật Thích Ca Mâu Ni, Chúa Giêsu…), các Ngài sẽ duy trì pháp độ của mình để độ linh hồn của các quý vị tiến hóa đi lên, giúp cho các quý vị an hưởng phước hạnh của mình. Nhưng hết phước thì các vị cũng phải xuống trần gian, để chịu kiếp luân hồi trở lại. Ví như những người tu hành mà nương theo đúng hạnh nguyện của Đức A Di Đà, thì sau khi mất đi sẽ được siêu sanh về cõi nước của Phật A Di Đà để sống ở cõi nước đó. Ngài sẽ duy trì các chân mạng của những người sanh về cõi nước của Ngài. Phật A Di Đà sẽ duy trì độ họ cho đến khi nào các vị Đại Phật ở cõi Trung Thiên Giới hạ phàm cứu độ nhân sanh. Khi đó Đức A Di Đà liền sử dụng thần lực của mình luân chuyển những người này xuống trần đầu thai để tu hành học Đạo, tiến hóa linh hồn. Khi đã xuống trần, dù cho đó là bất kỳ ai cũng đều quên hết các tiền kiếp và phải trải qua vô số những khó khăn, chướng ngại, bát phong xoay chuyển của cuộc đời. Nếu những người này tu hành tốt và may mắn có cơ duyên gặp được các vị Phật Tổ, Thánh Tổ, Tiên Tổ ở các tầng Trời trung thiên giới, sẽ giúp cho họ không bị sa đọa và tiến hóa linh hồn nhanh hơn. Bằng không, sanh ra trong thời mạt pháp rất khó mong trở lại thiên đàng cực lạc. Các vị Giáo chủ trong các tôn giáo cũng luôn có Pháp Độ để duy trì, độ mạng, hộ mệnh cho những người tu đến khi nào họ đạt đến cảnh giới của Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa.

Còn quy y trong Văn Hóa Cội Nguồn là các vị quy hướng về Đấng Khai Hóa Tổ Tiên (tức Bản Thể Linh Giác của Vũ Trụ), Cha Trời, Mẹ Trời. Nhờ đó các vị sẽ được hưởng phước của Cha Trời, Mẹ Trời và Bản Thể Tổ Tiên cho đến khi nào các vị tiến hóa trở về Chân Tâm, Chân Tánh, trở thành Chánh Đẳng, Chánh Giác mới thôi. Thầy sẽ giải thích thêm chỗ này, vì quý vị hướng về Cha Trời Mẹ Trời, chánh thân chánh mẫu, nên khi ở trần gian quý vị sẽ được thừa hưởng phước đức của Cha Mẹ. Nhờ đó mà quý vị được dưỡng nuôi sự sống, vật chất và cả linh hồn. Khi mãn trần quý vị sẽ được sanh về các tầng Trời khác nhau tùy theo phước đức lớn hay nhỏ. Nhưng vấn đề là, khi các quý vị sống ở các cõi Trời sung sướng hưởng phước như vậy, các vị luôn luôn nhìn thấy mọi sự phiền não, mê muội, đau khổ ở chốn nhân gian này. Vì tánh tự nhiên của mình, quý vị liền khởi tâm Đại Từ, Đại Bi, mong muốn cứu độ chúng sanh, nên liền lao xuống đầu thai làm người ở chốn nhân gian này. Có rất nhiều Chư Thiên ở các tầng Trời, nhiều nhất là các Chư Tiên ở Non Tiên Cực Lạc khi xuống chốn nhân gian không gặp thời, lại một mình giữa bát phong xoay chuyển của thế gian, phải chiến đấu với ma vương, yêu tinh, quỷ dữ (chính là những con người sống mất hết lương tâm), khi đó lại quên mất Nguồn Cội của mình, quên đi Cha Trời, Mẹ Trời và cũng không gặp được các vị đại giác ngộ nhắc nhở mình trở về với Cha, với Mẹ, nên trở thành kẻ lạc Cội, lạc Nguồn, lưu lạc chốn nhân gian này. Còn hễ các vị xuống chốn nhân gian mà vẫn nhớ đến Cha Trời, Mẹ Trời thì không cách gì các vị lạc Cha, lạc Mẹ được. Dù cho là Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa nào hạ phàm cũng vậy, quy luật đó đều không thay đổi. Là con người, nếu quên mất Nguồn Cội của mình thì dù cho tu hành giỏi đến đâu đi chăng nữa cũng không thể đạt đến giác ngộ chân tâm, chân tánh, không thể tạo lập riêng cho mình pháp độ để độ người về Trời được. Lâu lâu gặp được con thuyền cứu vớt, giống như các Tôn giáo, các vị giáo chủ ra đời cứu vớt các vị về các cõi nước của họ. Còn về cõi Trời mà các vị luôn tôn thờ Cha Trời, Mẹ Trời thì làm sao hết phước được, phước đức không bao giờ hết mà hưởng mãi. Chỉ khi các vị bỏ Cha, bỏ Mẹ không hưởng phước đó nữa và muốn xuống chốn nhân gian để cứu độ chúng sanh. Nghĩa là khi đó các quý vị sẽ xuống nhân gian luân hồi để độ người.

Đó là những sự khác biệt giữa quy y Tôn giáo, Đạo giáo và quy y Văn Hóa Cội Nguồn. Thầy giảng giải nhiều về chỗ này, là để các vị hiểu rõ và thức tỉnh tâm linh của các vị. Chúa Giêsu từng nói rằng: nếu con người biết hồi hướng về Đức Chúa Trời, thì linh hồn đó sẽ không còn khổ đau nữa. Trong Văn Hóa Cội Nguồn cũng như vậy. Khi con người quy y về Bản Thể Cội Nguồn, tức quy hướng về Bản Thể y nguyên của Cội Nguồn, thì con người sẽ thoát khỏi khổ đau, và không bao giờ rơi xuống địa ngục hay bị sa đọa linh hồn nữa. Ở cơ Tận Độ khi Đấng Chí Tôn chính là Đức Quốc Tổ Hùng Vương ra đời, cũng là Đức Phật Di Lặc ra đời. Đấng Chí Tôn sẽ thay thế Trời Cha để nói ra Văn Hóa Cội Nguồn - Văn Hóa Thiên Ý của Đức Cha Trời, giúp cho con người khai mở trí tuệ nhanh chóng, mà tự mình giải thoát đau khổ. Nhờ vậy mà giúp cho Phật Thánh Tiên Thần Chúa khắp cùng thế giới hoàn thành được đại nguyện của mình, để đại nguyện của mình được viên mãn ở cuối tiểu kiếp.

--------------------------------------------------

HẾT QUYỂN 1

KÍNH MỜI QUÝ ĐỒNG BÀO ĐÓN ĐỌC TIẾP QUYỂN 2