HUYỀN CƠ
SẤM GIẢI
TRẠNG TRÌNH
NGUYỄN BỈNH KHIÊM
Trọn Bộ
2014
Nhân Thập Đại Cư sĩ,
Giáo sư, Tiến sĩ Cao Đức Toàn
-------------O-------------
HUYỀN CƠ SẤM GIẢI: NHỊ THẾ PHÂN TRANH PHẦN 1
HUYỀN CƠ SẤM GIẢI: SỰ RA ĐỜI THẾ LỰC LƯU VONG PHẦN 2
HUYỀN CƠ SẤM GIẢI: SỰ HUYỀN DIỆU CỦA CƠ SẤM PHẦN 3
Câu 389: Nhà Cha Đóng Cửa Then Cài
Câu 390: Bây Giờ Sấm Động Hỏi Người Đông Lân
Câu 402: Non Đoài Vắng Vẻ Bấy Lâu
Câu 403: Có Một Đàn Xà Đánh Lộn Nhau
Câu 404: Vượn Nọ Leo Cành Cho Sĩ Bóng
Câu 405: Lợn Kia Làm Quái Phải Sai Đầu
Câu 406: Chuột Nọ Lăm Le Mong Cản Tổ
Câu 407: Ngựa Kia Đủng Đỉnh Bước Về Tàu
Câu 408: Hùm Ở Trên Rừng Gầm Mới Dậy
Câu 409: Tìm Về Quê Cũ Bắt Ngựa Tàu
Câu 410: Cửu Cửu Kiền Khôn Dĩ Định
Câu 498: Long Vĩ Xà Đầu Khởi Chiến Tranh
MƯU SỰ TẠI NHÂN THÀNH SỰ TẠI THIÊN
Câu 399: Can Qua Tứ Xứ Loạn Đao Binh
Câu 418: Dục Đức Thánh Nhân Vương
Câu 419: Quá Kiều Cư Bắc Phương
Câu 420: Danh Vi Nguyễn Gia Tử
Câu 422: Thượng Đại Nhân Bất Nhân
Câu 425: Thất Thập Cổ Lai Xuân
HUYỀN CƠ SẤM GIẢI: TAM THẾ PHÂN TRANH PHẦN 5 (Tiếp theo)
Câu 444: Bảo Sơn Thiên Tử Xuất
Câu 445: Bất Chiến Tự Nhiên Thành
Câu 446: Thủy Trung Tàng Bảo Cái
Câu 447: Hứa Cập Thánh Nhân Vương
Câu 448: Mộc Hạ Châm Châm Khẩu
Câu 449: Danh Thế Xuất Nam Lương
Câu 450: Danh Vi Nguyễn Gia Tử
Câu 451: Tinh Bản Tại Ngưu Lang
HUYỀN CƠ SẤM GIẢI: TAM THẾ PHÂN TRANH PHẦN 6 (Tiếp theo)
NGUỒN GỐC VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA CƠ
HUYỀN CƠ SẤM GIẢI: TAM THẾ PHÂN TRANH PHẦN 7 (Tiếp theo)
Bảo Sơn Thiên Tử Xuất. Bất Chiến Tự Nhiên Thành
Câu Sấm: Kiền Khôn Phú Tải Vô Lường
Câu Sấm: Đào Viên Đỉnh Phát Quần Dương Tranh Hùng
Câu sấm: Cơ Nhị Ngũ Thư Hùng Vị Quyết
Câu Sấm: Đảo Hoành Sơn Tam Liệt Ngũ Phân
HUYỀN CƠ SẤM GIẢI: TAM THẾ PHÂN TRANH PHẦN 8 (Tiếp theo)
Đào Viên Tản Lạc Ngô Dân Thủ Thành
Đời Nầy Thánh Đế Vi Vương. Thu Cả Đạo Đức Văn Chương Trong Mình
Gốc Sinh Hiền Điều Đỉnh Hộ Mai
Thiên Sinh Hữu Nhất Anh Hùng. Hữu Sinh Nhất Đại Anh Hùng
HUYỀN CƠ SẤM GIẢI: TAM THẾ PHÂN TRANH PHẦN 9 (Tiếp theo)
Bảo Giang Thiên Tử Xuất. Bất Chiến Tự Nhiên Thành. Lê Dân Bảo Bảo Noãn. Tứ Hải Lạc Âu Ca
Câu 456: Thiên Tử Thần Thức Thụy
Câu 457: Thụy Trình Ngũ Sắc Quang
Câu 459: Hoàng Cái Xuất Quí Phương
Câu 460: Nhân Nghĩa Thùy Vô Địch
Câu 461: Đạo Đức Thực Dữ Đương
Câu 462: Tộ Truyền Nhị Thập Ngũ
Câu 463: Vận Khải Ngũ Viên Tường
Câu 411: Thanh Minh Thời Tiết Hoa Tàn
Câu 412: Trực Đáo Dương Đầu Mã Vĩ
Câu 413: Hồ Binh Bát Vạn Nhập Trường An
HUYỀN CƠ SẤM GIẢI: TAM THẾ PHÂN TRANH PHẦN 10 (Tiếp theo)
Câu 478: Đoài Phương Phước Địa Giáng Linh
Câu 479: Cửu Trùng Thụy Ứng Long Thành Ngũ Vân
Câu 480: Phá Điền Thiên Tử Giáng Trần
Câu 481: Dũng Sĩ Nhược Hải Mưu Như Lâm
Câu 482: Trần Công Nãi Thị Phúc Tâm
Câu 483: Giang Hồ Tử Sĩ Đào Tìm Xuất Du
Câu 484: Tướng Thần Hệ Xuất Y Chu
Câu 485: Thứ Kỵ Phục Kiến Đường Ngu Thi Hành
Câu 486: Hiệu Xưng Thiên Hạ Thái Bình
Câu 487: Đông Tây Vô Sự Nam Thành Quốc Gia
HUYỀN CƠ SẤM GIẢI
NHỊ THẾ PHÂN TRANH
PHẦN 1
Nào ai có muốn cảnh nầy
Chu kỳ mạt kiếp phải đành họa chung
Muốn yên mà chẳng đặng yên
Huyền cơ đã định cản ngăn được nào.
Hãy nhìn chiếc xe đang chạy với vận tốc cao. Cho dù máy đã hết nổ. Nhưng xe vẫn chạy thêm một đoạn đường nữa mới dừng. Đó là chạy với cái trớn của nó mà thôi.
Người đó là ai? Ứng theo mệnh trời giao phó như vậy.
* * *
Hết phần 1 mời các bạn xem tiếp phần 2 ứng theo mệnh trời giao phó tiên tri biết trước vận mệnh Việt Nam. Người ấy ra đời cách đây 500 năm ở vào thế kỷ 16 là ai?
--------------------------------------------------
HUYỀN CƠ SẤM GIẢI
SỰ RA ĐỜI THẾ LỰC LƯU VONG
PHẦN 2
Thượng Thư Bộ hộ Nhữ Văn Lan. Triều Lê Thánh Tông. Bà là người phụ nữ có bản lĩnh khác thường, học rộng biết nhiều, nhất là rất giỏi về tướng số. Thuở nhỏ Ông gặp được thầy đức cao Ngộ Đạo truyền cho Ông Dịch Học, Chu Dịch, Thái Ất Thần Kinh Ông học đâu nhớ đó thông suốt. Cộng với học hết cái tài tinh thông Lý Học, cũng như Tướng Số của Mẹ. Ông trở thành một bậc kỳ tài không ai sánh kịp. Ông sanh ra là để phò Vua Chiếu. Chính là Đinh Tiên Hoàng đầu thai tái sanh. Nhưng Vua Chiếu đã bị người Tàu yểm hại chết khi còn trẻ tướng lĩnh trong quân binh trấn giữ biên cương thời Lê Sơ. Một hôm Ông nhìn lên trời thấy sao Ngưu Tinh đang tỏa sáng bỗng mờ dần và biến mất. Ông cảm thấy hụt hẫng cuộc đời nơi trần thế. Ông không có nhân duyên với triều Lê Sơ cũng như nhà Mạc. Tuy học cao hiểu rộng nhưng đi thi thường hay bị trượt, nhưng cuối cùng Ông cũng đổ Trạng ra làm quan ở thời Nhà Mạc. Nhưng vì không có duyên với thời Nhà Mạc. Nhất là đám quan lại triều đình Nhà Mạc. Luôn đố kỵ và tìm cách mưu hại Ông. Quá thấu hiểu thói đời xu nịnh bầy tôi nhà Mạc. Ông không muốn chung vua cùng họ. Liền từ chức cáo quan, về quê lập Am Bạch Vân tu luyện Ngộ Đạo trở thành nhà Tiên Tri bậc nhất thời bấy giờ. Ông ra hàng loạt câu sấm làm kim chỉ nam cho hậu thế mai sau. Nhất là cuối kỷ nguyên 2000 năm thế kỷ 20. Và đầu kỷ nguyên 3000 năm thế kỷ 21. Từ đó Nguyễn Bỉnh Khiêm nổi tiếng vô cùng tiên tri đâu trúng đó. Môn sinh theo học cũng đông. Ông trở thành Bạch Vân Cư Sĩ. Nhà tiên tri nổi tiếng luôn chấn động thời cuộc đến nay đã 500 năm.
* * *
Hết phần 2 mời các Bạn xem tiếp phần 3 với tài năng tiên tri có một không hai trên đời Cụ Ngài Nguyễn Bỉnh Khiêm.
--------------------------------------------------
HUYỀN CƠ SẤM GIẢI
SỰ HUYỀN DIỆU CỦA CƠ SẤM
PHẦN 3
Nhà Cha Đóng Cửa Then Cài.
Cụ Trạng giải thích rằng:
Nhà: Có nghĩa là Nhà Nước.
Cha: Có nghĩa là vị Cha Già Cáo Vương hơn bốn trăm năm nữa mới xuất hiện lập lên Nhà Hồ. Người là thành viên Cộng Sản Đông Dương, khai sinh ra Đảng Cộng Sản Việt Nam. Khi vị Cha Già qua đời Đảng Cộng Sản Thế Lực Tam Vô. Đóng Cửa: Có Nghĩa là Bảo Thủ không chịu đổi mới. Then Cài: Có nghĩa là Phong Kín không quan hệ với thế giới Văn Minh tiến bộ nhân loại. Chủ trương chính sách, nhất quán một đường lối trước sau như một. Với thể chế Độc Tài, Bảo Thủ Phong Kín. Không tiến hóa thay đổi gì cả. Làm cho đất nước cứ mãi trì trệ lạc hậu dẫn đến đói nghèo khốn khổ. Ngoại xâm cưỡi đầu cưỡi cổ không ngóc đầu dậy nổi.
Như vậy câu:
Nhà Cha, Đóng Cửa, Then Cài đã được giải rõ.
Cụ Trạng nói, theo hào quẻ Thái Ất Chu Dịch cũng như Lý Số linh ứng cho thấy đảng Cộng Sản Tam Vô vì quá cao ngạo lại thêm bảo thủ làm cho đất nước Việt Nam chậm phát triển để cho đàn em Lào, Campuchia lân cận lần lần qua mặt, đây là một sự nhục nhã lớn con cháu Tiên Rồng Việt Nam. Gây ra bao cảnh bất bình bức xúc cho các thành phần trí thức tiến bộ. Cũng như một số thành phần trong bộ chính trị. Với tình thế bức xúc trong tầng lớp trí thức xã hội cũng như nội bộ Cộng Sản tự chuyển hóa cơ biến như thế. Thời làm sao tránh khỏi sự đòi hỏi chính đáng của đại đa số trí thức cũng như sự đói nghèo lạc hậu của người dân.
Có người lại hỏi: Thưa Thầy;
Người đó là ai mà can đảm tốt bụng như vậy? Cụ Trạng cho biết qua lời sấm như sau.
Bây Giờ Sấm Động, Hỏi Người Đông Lân.
Bây Giờ Sấm Động: Có nghĩa là khởi mầm Sấm Động. Làm cho Thế Lực Tam Vô Bảo Thủ Cộng Sản đang co mình nằm yên nổi lên Sấm Động. Sự Sấm Động ấy là do nhiều người làm đương nhiên có người chủ chốt. Có người hỏi, người chủ chốt ấy là ai? Cụ Trạng cho biết, muốn biết người ấy thời hỏi người Đông, Lân thời rõ. Nhưng 500 năm nữa mới biết được người nầy.
Hỏi Người Đông Lân: Có nghĩa là hỏi người Đông Hội. Hỏi người Huyện Đông Anh. Nổi tiếng hội tụ kỳ Lân thời rõ được người tốt bụng nầy.
Cũng từ đây trong thế lực Tam Vô, dần dần xuất hiện ra một thế lực mới, đó là thế lực Kỳ Lân Chu Du. Thế lực chuyên tìm tòi học hỏi những cơ bản chuyển đổi đất nước. Lèo lái con thuyền đưa non sông Tổ Quốc đến giai đoạn mới. Giai đoạn sanh ra nhiều đạo luật quan trọng giải thể lần quốc hữu hóa, chuyển lần sang cổ phần hóa đi vào Tư Hữu Tư Nhân đưa đất nước đi lên. Thế Lực Tam Vô đi vào đổi mới tạo ra Lưỡng Thế phân tranh hình thành trong Nhà Hồ. Thế lực Tam Vô đi lần đến rạn nứt theo hai chiều hướng bảo thủ và hướng đổi mới.
Như Vậy câu 390:
Bây Giờ, Sấm Động, Hỏi Người, Đông, Lân đã giải rõ.
Cụ Trạng lại nói, theo quẻ Đoài ứng vào Lý Số hình thành câu sấm như sau.
Non Đoài, Vắng Vẻ, Bấy Lâu.
Non: Có nghĩa Non là Nước Non. Đoài Có Nghĩa là phương Đông Nam. Ý nói nước Việt Nam. Vắng Vẻ: Có nghĩa là những nước văn minh Đa Nguyên Dân Chủ ít lui tới Việt Nam ít quan hệ giao dịch tạo ra thế vắng vẻ. Không có sự tấp nập quan hệ trao đổi làm ăn. Chỉ ngoại giao với một số ít thế lực Cộng Sản mà thôi. Bấy Lâu: Có nghĩa mấy mươi năm cũng vẫn bảo thủ im lặng y như thế.
Như Vậy câu 402:
Non Đoài, Vắng Vẻ, Bấy Lâu đã được giải rõ.
Khi nảy Thầy nói có người làm cho thế lực Tam Vô nổi lên sấm động, tức là phân tranh nội bộ. Sự phân tranh đó như thế nào? Đi vào cuộc diện đổi mới ra làm sao? Xin thầy giải rõ cho.
Cụ Trạng liền đọc câu sấm:
403: Có Một, Đàn Xà, Đánh Lộn Nhau.
Có Một: Có nghĩa là duy nhất một thể chế độc tài độc trị thống trị toàn quyền Đại Việt.
Đàn Xà: Có nghĩa là Bầy Rắn, ám chỉ thế lực Tam Vô là thế lực độc tài toàn trị, tàn độc thủ đoạn nằm im bảo thủ không khác gì thế lực của một bầy Xà Tinh. Đánh Lộn Nhau: Có nghĩa là nổi lên phân tranh theo nhiều chiều hướng khác nhau. Không còn thống nhất với nhau. Kẻ muốn phát triển đi lên, người muốn níu trì lạc hậu.
Như vậy câu 403:
Có Một, Đàn Xà, Đánh Lộn Nhau đã được giải rõ.
Cụ Trạng liền ngâm tiếp câu sấm:
404: Vượn Nọ, Leo Cành, Cho Sĩ Bóng.
Có nghĩa Vượn chủ trèo lên cây phất cờ mở màn cho cuộc các cầu thủ phân tranh đá bóng. Đá qua đá lại. Kẻ bảo thủ người đổi mới đi lên tranh luận trên diễn đàn chính trị quyết liệt. Như vậy câu sấm 404 được giải rõ.
405: Lợn Kia, Làm Quái, Phải Sai Đầu.
Có nghĩa trong trận đấu đi vào đổi mới người Mặt Lợn đá sai chệch Luật sai chiều hướng, lệ thuộc ngoại bang. Liền bị đồng bọn đuổi ra khỏi cuộc chơi. Cách chức không cho tham gia trận đấu nữa, may chút nữa là đứt đầu Sai Đầu. Câu 405 cũng được giải rõ.
406: Chuột Nọ, Lăm Le, Mong Cản Tổ.
Chuột Nọ: Là ý nói đến Chuột Quan, Chuột Quyền. Lăm Le: Có nghĩa là hăm dọa. Mong: Có nghĩa là muốn. Cản: Nghĩa là can ngăn. Tổ: Có nghĩa là chung nhau một tổ Thể Chế chủ trương chính sách. Thế Lực Tam Vô sống chung trong thể chế nầy. Ý nói toàn câu sấm là có một thế lực Quan Quyền, hăm dọa, can ngăn không cho hành động theo chủ trương. Nói vậy nhưng không cho làm vậy. Miệng nói dân chủ nhưng không cho dân chủ. Miệng nói tự do nhưng không cho tự do. Sao lại có chuyện kỳ lạ như vậy, để hiểu rõ thêm Cụ Trạng liền ngâm câu sấm.
407: Ngựa Kia, Đủng Đỉnh, Bước Về Tàu.
Ngựa Kia: Có nghĩa ám chỉ kiếp Trâu Ngựa tôi trung. Đủng Đỉnh: Có nghĩa là chậm rãi làm theo chủ trương chính sách nhà nước. Về Tàu: Có nghĩa nằm yên trong chủ trương. Vì chữ Tàu ở đây không ám chỉ nước Tàu. Mà ám chỉ câu thành ngữ (một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ). Ý nghĩa của toàn câu Sấm Là kiếp làm Tôi Trung sai đâu làm đó nhưng cứ chậm rãi mà làm không cần vội, chuyện chung toàn đảng nào phải chuyện của mình. Cứ nằm yên trong chủ trương mà hưởng phúc. Có lợi cho mình thời làm không có lợi thời thôi. Cớ chi phải đụng chạm đấu đá nhau cho bỏ mạng. Loại bỏ Tham Quan họ chưa chết mình đã ngủm cù đèo. Sự bất lực làm trong sạch bộ máy. Đây cũng là Ý Trời vì Thế Lực Tam Vô đã đi đến hết số. Đi đến lần kết thúc của thế lực Tam Vô. Để cho đám học trò thấu hiểu. Cụ Trạng lại đọc thêm câu sấm.
408: Hùm Ở Trên Rừng, Gầm Mới Dậy.
Hùm: Có nghĩa là Cọp ám chỉ cho thế lực mạnh như hùm;
Ở Trên Rừng: Có nghĩa là nằm trong chủ trương, nằm trong Thể Chế nằm trong chính sách chồng chéo như rừng đẩy rừng luật đi trước hành động theo sau cho an toàn. Cụ Trạng thở dài nghĩ đến cảnh làm quan triều đại Nhà Mạc mà buồn rười rượi. Cụ nói, một triều đại bao giờ cũng có hai thế lực. thế lực của Long và của Hổ. Long và Hổ thường sống chung, đi đôi với nhau. Ví Dụ Vua là Long, Tướng là Hổ. Nhưng Thái Ất Lý Số hình thành lên câu sấm ở đây không nói đến thế lực của Long mà nói đến thế lực của Hổ. Có thể ví dụ thế lực của Đảng là Long. Thế lực thủ Tướng chính phủ là Hổ. Ở đây ám chỉ nói Hổ ở trên rừng, Ý nói Thế Lực Hổ đang nằm trong Văn Bản chồng chéo dày bịt như rừng bỗng nổi lên gầm gừ. Gầm: Có nghĩa thị oai. Mới Dậy: Có nghĩa những con Hổ xưa nay ngủ yên trong thể chế Bảo Thủ Thức Dậy gầm gừ, có nghĩa là phản đối không nhất trí. Mà xưa nay Hùm chưa bao giờ dám gầm lên như thế, phản đối trước uy lực của Long có thể nói là chống lại đảng. Sao lại có chuyện lạ đời như thế? Hùm dựa vào đâu? Mà không sợ Long. Cụ Trạng lại cho biết thêm câu sấm.
409: Tìm Về, Quê Cũ, Bắt Ngựa Tàu.
Tìm Về: Có nghĩa quay trở về. Quê Cũ: Có nghĩa là Truyền Thống Nguồn Cội Ông Cha Anh Linh Dân Tộc. Hùm đã có chỗ dựa vững chắc vào Truyền Thống Anh Linh Dân Tộc Hùm không còn sợ Long nữa. Khi Long bỏ Nguồn Cội cúi đầu trước học thuyết Mác Lê ngoại bang. Ý nói Thế Lực đổi mới Chu Du Chính Phủ Hùm. Không còn sợ thế lực Độc Tài Đảng Trị theo Mác Lê ngoại lai nữa. Mà còn Trở lại Bắt Ngựa Tàu. Ý nói Bắt những con ngựa xưa nay đã từng là đồng đội đồng chí cùng chung một xuồng một Tàu. Dẫn đến tình thế Kẻ bắt qua, người bắt lại thôn tính nhau. Bỏ tù nhau Kẻ tôn thờ giáo thuyết Phương Tây. Người tôn thờ Nguồn Cội Ông Cha. Trở mặt nhau. Không tùng phục nhau nữa.
Như vậy từ câu 402 đến câu 409 đã được giải rõ.
Non Đoài, Vắng Vẻ, Bấy Nhiêu Lâu
Có Một, Đàn Xà, Đánh Lộn Nhau
Vượn Nọ, Leo Cành, Cho, Sĩ, Bóng
Lợn Kia, Làm Quái, Phải Sai Đầu
Chuột Nọ, Lăm Le, Mong Cản Tổ
Ngựa Kia, Đủng Đỉnh, Bước, Về Tàu
Hùm Ở, Trên Rừng, Gầm, Mới Dậy
Tìm Về, Quê Cũ, Bắt Ngựa Tàu
* * *
Hết phần 3 mời các bạn xem tiếp phần 4 về tài tiên tri của Cụ Trạng Nguyễn Bỉnh Khiêm một kỳ tài sanh ra ở thế kỷ 16 làm quan trong thời Mạc.
--------------------------------------------------
HUYỀN CƠ SẤM GIẢI
TAM THẾ PHÂN TRANH
THIÊN CƠ HÉ LỘ
Ý TRỜI ĐÃ ĐỊNH, KHÔNG AI LÀM KHÁC CHI ĐƯỢC
PHẦN 4
410: Cửu Cửu Kiền Khôn Dĩ Định. Thời mới lộ rõ thế lực Chu Du cầm tinh thế lực con Lân ra đời.
9 lần 9 = 81: 8 + 1 = 9 thế lực Tam Vô đi vào hết số, nhưng vẫn còn Cơ kéo dài thêm một thời gian nữa. Thế lực Tam Vô hết số vào năm 2011 năm Tân Mão. Nhưng kéo dài đến 2020 năm Canh Tý mới hết Cơ. Thế lực Tam Vô ra đời ngày 3 - 2 - 1930 trải qua 81 năm đến năm 2011 thời hết số. Và kéo dài thêm 10 năm nữa đi vào hết Cơ.
Canh - Tân: Nằm trong thập thiên Can. Niên: Có Nghĩa là năm. Phá: Có nghĩa là khai mở, có nghĩa là lộ ra. Ý nói kể từ cuối năm Canh Dần 2010 sang năm Tân Mão 2011 Thế lực Chu Du Chính Phủ ban hành ra nhiều sắc lệnh đạo luật. Các chính sách ra đời Phá Vỡ mọi kìm hãm bảo thủ trước đây nhất là Luật Đất Đai. Cho phép Phá Điền đi vào những cánh đồng lớn theo chiều hướng hiện đại hóa nông nghiệp. Cho phép Cổ Phần Hóa, giải thể lần Quốc Hữu Hóa Tam Vô. Sự đấu đá xảy ra trong nội chính Tam Vô, Của hai Thế Lực. Tam Vô và Chu Du.
498: Long, Vĩ, Xà, Đầu, Khởi Chiến Tranh.
Long là Rồng, Vĩ là đuôi: Có nghĩa là Hậu Thế Con Cháu Lạc Long trỗi dậy rất mạnh vào cuối năm Nhâm Thìn long 2012 đầu năm Tỵ rắn 2013 từ trong Tam Thế Phân Tranh giác ngộ hiện ra. Thế Lực Thứ Tư, thế lực của sự Dung Hòa. Thế Lực đoàn kết thống nhất Ý Chí. Thế Lực Tôn Thờ Quốc Tổ. Thế Lực phát huy truyền thống anh linh Cha Ông quang đại. Thế lực thứ tư nầy là từ trong ba Thế Lực giác ngộ hiện ra. Thế Lực Thứ Tư, không từ đâu đến mà từ trong con người Việt Nam. Từ trong con Rồng cháu Tiên tìm về với Cội với Nguồn. Tôn Thờ Cội Nguồn, Phát huy Truyền Thống Anh Linh Dương Nội dân tộc. Thế Lực Thứ Tư lần lần xuất hiện tạo ra thế Long - Lân - Quy - Phụng, hiệp nhất. Một thế lực với sức mạnh toàn dân tộc, liên kết trong nước ngoài nước. Đoàn Kết Thống Nhất vì đất nước Việt Nam Vinh Quang. Với sức mạnh Tiên Rồng ấy không có một thế lực sức mạnh nào đánh bại được. Tuy rằng Thế Lực thứ tư vẫn còn nằm ẩn trong ba thế lực. Nhưng phát triển nhanh chóng mạnh vô cùng. Nhưng đó là nói về chuyện tam thế phân tranh sắp đi vào chấm dứt mới xuất đầu lộ diện thế lực tứ trụ của thời Thánh Đức. Những ai có dã tâm chống lại thế lực Con Cháu Tiên Rồng đều bị Hồn Thiêng Dân Tộc, Khí Thiêng Sông Núi hủy diệt. Vì Nhà Nước Tâm Linh Văn Lang đã đi vào hoạt động. Theo Cơ Thánh Đức vì Chí Tôn Thiên Đế Quốc Tổ đã trở về trần thế. Cụ Trạng nói với các Môn Sinh, không ai có thể chống lại huyền Cơ Thiên Ý Của Trời.
MƯU SỰ TẠI NHÂN, THÀNH SỰ TẠI THIÊN.
Trong vòng 10 năm Từ năm 2010 đến năm 2017 thời dương quang xuất hiện, chính là Văn Hóa Cội Nguồn, Quốc Bảo Chân Kinh cuộc diện Việt Nam đi vào Tam Thế phân tranh, cũng dần đi đến hồi kết thúc. Theo cơ Bất Chiến Tự Nhiên Thành, năm 2018, 2019 Thánh Đức Phục Sinh đi vào huyền cơ mới. Trong thời gian năm 2010 đến năm 2017 Thế giới cũng đi vào bất ổn biến động lan tràn với những nước còn độc tài độc trị. Sự biến động ấy Tiến lần lên Đa Nguyên Nhân Quyền Dân Chủ chuyển theo huyền Cơ Vận Mệnh Ý Trời.
399: Can Qua, Tứ Xứ, Loạn Đao Binh.
Có nghĩa tình hình trong nước đi vào Tam Thế phân tranh. Thời tình hình thế giới cũng đi vào bất ổn chiến tranh, từ Tây sang Đông nhiều nước. Như Ukraina, LiBi, Syria, Trung Quốc, Hoa Kỳ, quần đảo biển đông, Trung Quốc gây hấn với Nhật, Bắc Hàn hăm dọa tấn công Nam Hàn và còn nhiều biến động chiến tranh thế giới khác nữa, v.v... và...
418: Dục, Đức, Thánh Nhân Vương.
Có nghĩa là: Muốn biết Thánh Nhân Vương thời tìm hiểu qua những câu sấm dưới đây.
419: Quá, Kiều, Cư Bắc Phương.
Quá: Có Nghĩa là hết mức, vượt trên giới hạn. Nói chung là địa vị tối cao. Kiều: Là xinh là đẹp, mặt ẩn là Phú, mặt nổi là Trọng. Quá Kiều ý nói Địa vị cao tột, mặt Ẩn là Phú, mặt hiện là Trọng. Nói chung người nầy tài trí, nhẫn nhục không ai có thể lường được. Cư Bắc Phương: Người nầy ở phương bắc, không phải phương nam. Quá, Kiều, Cư Bắc Phương.
422: Thượng Đại Nhân, Bất Nhân.
Có nghĩa nói Đại Nhân cũng đúng. Bất Nhân chẳng sai.
Có người lại hỏi, người gì mà kỳ vậy? Cụ Trạng đọc câu sấm thay cho câu trả lời;
Thánh Ất, Dĩ, Vong Ân.
Có nghĩa là Bậc Thánh, nhưng không theo chí hướng của Thầy vì Thầy đã đi sai đường lạc lối. Làm trái ngược lại lời dạy của Thầy. Cứu lấy dân tộc mình.
Có nghĩa là Quang Trung tái sanh.
Có người lại hỏi, dân chúng có thể nhận biết Ngài là đấng cứu tinh mở màn thành công trong cuộc đổi mới đất nước không? Cụ Trạng đọc câu sấm thay cho câu trả lời.
Có nghĩa là: Người nầy trên 70 tuổi thời người ta mới Phát Hiện nhìn thấy được Công Cứu Nước. Cái tài ẩn nhẫn tuyệt vời của Ngài.
* * *
Hết phần 4 mời các Bạn xem tiếp phần 5 về cái tài tiên tri Cụ Trạng Nguyễn Bỉnh Khiêm tiên đoán về vận mạng biến động của đất nước Việt Nam, liên quan đến toàn thế giới.
--------------------------------------------------
HUYỀN CƠ SẤM GIẢI
TAM THẾ PHÂN TRANH
PHẦN 5
(Tiếp theo)
Bảo Sơn: Bảo có nghĩa là ám chỉ cho Quốc Bảo. Sơn có nghĩa là Núi Quý. Thiên Tử Xuất: Thiên là Trời, Tử là con, Xuất là xuất hiện. Ý nói Quốc Bảo chính là Thiên Tử Xuất, do Quốc Tổ Hùng Vương con trời nói ra đã chuyển đến Núi Thất Sơn. Đi vào cơ Bất Chiến Tự Nhiên Thành. Như vậy câu sấm Bảo, Sơn, Thiên, Tử, Xuất, đã được giải rõ.
445: Bất Chiến, Tự Nhiên Thành.
Bất Chiến: Có nghĩa là không cần đánh. Chỉ cần hành động theo cơ Bất Chiến, ý nói con cháu Tiên Rồng hướng về Cội Nguồn, phát huy Văn Hóa Cội Nguồn tôn thờ Quốc Bảo. Tự Nhiên, Thành: Ý nói Hành Động làm theo quy luật Tự Nhiên Cây có Cội, Nước có Nguồn theo Huyền Cơ Bất Chiến đã định. Thời cơ Tự Nhiên Thành sẽ đến. Vì trên hợp lòng Trời, dưới hợp lòng Dân. Như vậy câu sấm 445 Bất Chiến, Tự Nhiên, Thành, được giải rõ.
446: Thủy, Trung, Tàng, Bảo Cái.
Thủy: Ám chỉ nơi miền sông nước. Trung: Có nghĩa là vừa không lớn không nhỏ. Tàng: Có nghĩa là Tàng Lọng. Bảo Cái: Có nghĩa là nơi ngai vua có tàng lọng.
Ý nói câu sấm 446 nầy, ám chỉ miền sông nước có Minh Quân nay gọi là Tổng Thống ra đời. Như vậy câu sấm 446 Thủy, Trung, Tàng, Bảo Cái, đã giải rõ.
Cụ Trạng lại ngâm tiếp câu sấm mà huyền cơ đã cho biết, cụ ngâm.
447: Hứa Cập, Thánh Nhân Vương.
Hứa: Có nghĩa là Hẹn. Cập: Có nghĩa là trở Lại. Thánh Nhân Vương: Hàm ý Bậc Minh Quân thời văn minh chính là Tổng Thống.
Ý nghĩa toàn bộ câu sấm là. Một vị Quan đứng đầu trăm quan ra đi rồi lại trở về thành Thánh Nhân Vương tức là Tổng Thống trong thời Thánh Đức. Như vậy câu sấm 447 đã được giải rõ.
Mộc Hạ: Có nghĩa là Rừng U Minh Hạ, Châm Châm: Có nghĩa là liên kết với sông theo chảy ra cửa Khẩu cửa biển. Người lớn lên từ quê hương nầy.
Có người hỏi địa linh nầy nằm ở đâu? Cụ Trạng đọc câu sấm thay cho câu trả lời.
449: Danh Thế, Xuất, Nam Lương.
Nếu chúng ta liên kết hết lại từ câu 444 đến câu 449 thời có thể hiểu địa linh dưỡng nuôi Ông Thánh lớn lên ở đâu?
Địa Linh nầy ở Phương Nam. Nam Lương Tây Nam. Miền Sông Nước U Minh Thượng. U Minh Hạ có nhiều con sông chảy ra biển. Như vậy hai câu sấm liên kết với nhau 448 - Mộc Hạ, Châm Châm, Khẩu. 449 - Danh Thế Xuất Nam Lương. Đã được giải rõ.
450: Danh Vi, Nguyễn Gia Tử.
Ý nói Thánh Nhân Vương Họ Nguyễn.
Có người lại hỏi tiền thân Thánh Nhân Vương trước kia là vị vua nào đầu thai?
Tinh Bản: Có Nghĩa là bản nguyên sao chép tái hiện của nhiều tiền kiếp. Chơn Mạng Tinh Bản nầy Cầm Tinh Con Trâu, Ngưu Lang: Ý nói là Bậc Tướng Tài nhà trời.
Ý nói Thánh Nhân Vương, Họ Nguyễn nầy Cầm Tinh Con Trâu. Tiền thân là Vua Hàm Nghi. Cũng Chính là Vua Lê Lợi năm xưa.
1, Thế lực Lưu Vong.
2, Thế lực Chu Du.
3, Thế lực Tam Vô.
- Thế lực Chu Du chính là thế lực đổi mới từ trong Tam Vô Cộng Sản tách ra.
- Còn lại là Thế Lực Tam Vô bảo thủ Cộng Sản.
* * *
Hết phần 5, mời các bạn xem tiếp phần 6 về tài tiên tri có một không hai trên đời. Cụ Trạng Nguyễn Bỉnh Khiêm.
--------------------------------------------------
HUYỀN CƠ SẤM GIẢI
TAM THẾ PHÂN TRANH
PHẦN 6
(Tiếp theo)
NGUỒN GỐC VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA CƠ
Cách đây hơn bốn nghìn năm Quốc Tổ Hùng Vương ra đời, mở rộng nước Xích Quỷ về Nam. Khai Lập lên đất nước Văn Lang rộng lớn. Gồm thâu trăm Bộ Tộc không đổ giọt máu Bất Chiến Tự Nhiên Thành. Khi đó Quốc Tổ Vua Hùng chỉ là Thái Tử Hùng Lan. Chưa lên ngôi Quốc Vương Thiên Tử. Thái Tử dẫn anh hùng hào kiệt những nhân tài xuất chúng trong Bách Tộc. Tiến về vùng đất Lãnh Nam đầy Yêu, Tinh, và Quỷ dữ. Bách Tộc anh hùng hào kiệt tiêu diệt Yêu, Tinh và Quỷ dữ. Rồi cùng nhau Khai Phá đất đai trở thành Điền Thổ. Hồ, Đồng, Giáp nối liền liên nhau khắp nơi rộng lớn. Và con Trâu chính là con vật cày Đồng xới Đất Phá Điền làm cho nền Văn Minh lúa nước vì thế càng thêm rực rỡ hưng thịnh. Hùng Lan lên ngôi Thiên Tử lấy niên hiệu Hùng Vương thời đại mới. Hùng Vương chính là Chí Tôn Thiên Đế Giáng Trần. Quốc Vương Nước Văn Lang.
Khi Quốc Tổ về trời có lời Di Giáo truyền lại cho Bách Việt Văn Lang. Khi nào dân tộc Tiên Rồng Bách Việt Văn Lang làm chủ được Địa Long Vũ Trụ. Tức là làm chủ Địa Long hình chữ S. Vận mệnh Địa Long đất nước Cơ ứng Hồ - Đồng - Giáp. Cũng như thế lực Tam Vô ra đời. Thời Quốc Tổ mượn xác trần tái sanh trở lại. Trong Huyền Cơ vũ trụ Ao, Hồ, Đầm, Đồng, Liên Thông có nghĩa là Giáp tất cả đều có Linh Chủ.
Như vậy Cơ Hồ - Đồng - Giáp tái hiện ra đời cũng đã rõ.
Như vậy Hồ - Đồng - Giáp ứng hiện ra đời đã rõ.
Như vậy câu sấm Cửu Cửu Càn Khôn Dĩ Định đã rõ. Cho thấy Nhà Hồ Cơ Trời ấn định chỉ có 81 năm là hết số. Đi vào Cơ hủy diệt kéo dài 10 năm hết Cơ. Cơ cuối cùng của con số 9 lần 9 = 81, 9 lần 10 = 90.
Có nghĩa là thêm giai đoạn 9 lần 10 cơ thoái hóa hủy diệt Nhà Hồ kéo dài 10 năm rồi đi đến chấm hết.
Như vậy câu sấm Nhị Ngũ Dư Bình đã rõ.
* * *
Hết phần 6 mời các bạn xem tiếp phần 7 về tài tiên tri của Cụ Trạng Nguyễn Bỉnh Khiêm. Phải nói là không ai có thể bì kịp.
--------------------------------------------------
HUYỀN CƠ SẤM GIẢI
TAM THẾ PHÂN TRANH
PHẦN 7
(Tiếp theo)
Như vậy câu sấm: Phá Điền Thiên Tử Xuất ở thời lặp lại Thượng Ngươn Thánh Đức đã rõ.
Câu sấm: Bất Chiến Tự Nhiên Thành cũng đã rõ.
* * *
Từ năm 2011 đến 2014. Giai đoạn chuyển hóa hiện cảnh. Năm 2015 - 2016 thời hiện rõ của Cơ nhìn thấy rõ Đá Nổi, Lông Chìm. Đồng Khô Hồ Cạn Búa Liềm dần dần thế thay bằng Trống Đồng. Đến năm 2020, thời Cơ Tam Vô Búa Liềm đi vào chấm hết.
Như vậy câu sấm: Mã Đề, Dương Cước, Anh Hùng Tận đã rõ. Năm 2016 Thân hiện Cơ Thánh Đức. Năm 2017 Dậu hiện cảnh Thánh Đức. Từ đây đi vào Cơ Thánh Đức tỏa sáng, đến năm 2020 nước Đại Việt Trở Thành một Quốc Gia hùng mạnh, kỳ lạ nhất thế giới. Không có một đất nước nào giống như đất nước Việt Nam.
Như vậy câu sấm: Thân, Dậu. Niên Lai Kiến Thái Bình đã rõ.
Sông Bảo Giang, Thiên Định Ai Hay (Tiền Giang, Hậu Giang).
Bảo Sơn (Thất Sơn).
Thiên Tử Xuất (Quốc Bảo Văn Hiến Xuất Hiện).
Bất Chiến Tự Nhiên Thành (không cần đánh cũng thắng).
Bấy Giờ Khai Mở Cơ Trời.
Thần Châu (Văn Hóa Cội Nguồn Quốc Bảo).
Thu Cả Nhân Loài Bình Yên (Quốc Bảo gồm thâu Nhân Loại).
Phúc Trời Đã Định Tây Phong.
Là Nơi Tỏa Sáng, Hiển Linh Cội Nguồn (Địa Linh Chính Cơ Thánh Đức, Miền Tây Nam Việt Nam).
* * *
Bảo Sơn Thiên Tử Xuất.
Bất Chiến Tự Nhiên Thành.
Có Nghĩa là: Khi nào vùng đất Linh Thiêng Thất Sơn Năm Non, Bảy Núi. Xuất hiện Văn Hiến Quốc Bảo. Cũng là đến lúc Cơ Bất Chiến Tự Nhiên Thành xuất hiện.
Tiêu diệt Đại Quỷ. Tam Vô Cộng Sản độc tài thế giới, cũng là người chặn đứng mộng bành trướng Bắc Kinh nuốt trọn biển đảo Việt Nam.
Thời cũng là lúc Việt Nam xuất hiện nền Văn Hiến Quốc Bảo Thánh Chúa Hoàng Thiên Ra Đời. Hàng phục Ma Vương. Có nghĩa là hàng phục chủ nghĩa Tư Bản.
Như vậy câu sấm: Ma Vương Sát Đại Quỷ. Hoàng Thiên Tru Ma Vương đã rõ.
Câu Sấm: Kiền Khôn Phú Tải Vô Lường.
Có nghĩa là:
Cơ Vận Kiền Khôn chuyển hóa đa dạng không lường không thể nào đón hiểu nổi.
Câu Sấm: Đào Viên, Đỉnh Phát, Quần Dương Tranh Hùng.
Đào Viên có nghĩa quần hội hay quần hùng cũng thế. Đỉnh Phát có nghĩa là tiến hành. Quần có nghĩa là phân tranh. Dương có nghĩa là Thái Bình Dương. Tranh Hùng. Ý nói trong nước tạo ra Tam Thế phân tranh, thời ngoài biển cả Thái Bình Dương biển đông đi vào tranh chấp.
Như vậy câu sấm: Đào Viên, Đỉnh Phát, Quần Dương Tranh Hùng đã rõ.
Như vậy câu sấm: Cơ Nhị Ngũ, Thư Hùng, Vị Quyết đã rõ.
Câu Sấm: Đảo, Hoành Sơn, Tam Liệt, Ngũ Phân.
Cơ Sấm: Đảo có nghĩa là biển đảo. Hoành Sơn là nói về Hoàng Sa, Trường Sa. Đi đến cảnh Tam Liệt Quyết Liệt Trung Quốc, Hoa Kỳ, Việt Nam. Ngũ Phân là liên quan đến năm nước. Trung Quốc. Việt Nam. Philippines. Brunei. Malaysia. Cũng nằm trong cơ Nhị Ngũ 10 năm tranh chấp phân tranh.
Như vậy Cơ Sấm Câu: Đảo, Hoành Sơn, Tam Liệt, Ngũ Phân đã rõ.
Bảo Sơn, Thiên Tử Xuất
(Nơi núi báu, Quốc Bảo xuất hiện).
Bất Chiến, Tự Nhiên Thành
(Quốc Bảo xuất hiện đến đâu thời nhân loại bị hàng phục đến đó).
Nhị Ngũ Dư Bình
(Ẩn là 3 tam thế phân tranh. Hiển là 10 năm những năm cuối của thời Tam Vô Cộng Sản).
Ma Vương Sát Đại Quỷ
(Tư Bản, Có Ma Vương).
Hoàng Thiên, Tru Ma Vương
(Thiên Ý Văn Hiến Quốc Bảo, hàng phục Tư Bản).
Kiền Khôn, Phú Tải, Vô Lường
Đào Viên, Đỉnh Phát, Quần Dương, Tranh Hùng
Cơ Nhị Ngũ, Thư Hùng, Vị Quyết
Đảo Hoành Sơn, Tam Liệt, Ngũ Phân
* * *
Hết phần 7 mời các Bạn xem tiếp phần 8 về tài tiên tri Cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm, đi vào huyền thoại ở đời. Năm trăm năm làm chấn động lòng người.
--------------------------------------------------
HUYỀN CƠ SẤM GIẢI
TAM THẾ PHÂN TRANH
PHẦN 8
(Tiếp theo)
Các học trò nghe thầy ngâm câu sấm Ta Hồ, Vô Phụ, Vô Quân, lấy làm khó hiểu liền hỏi ý nghĩa câu sấm nầy là thế nào? Cụ Trạng nói.
Ta: Có nghĩa là xưng danh. Hồ: Có nghĩa Ta là Hồ. Vô có nghĩa là không, Phụ có nghĩa là Cha, Vô Phụ có nghĩa là không Cha. Vô là không, Quân là Vua. Vô Quân có nghĩa là không Vua. Các học trò nghe cụ Trạng giải như thế thời càng kinh ngạc. Ở đời người không làm Vua, không tôn thờ Vua thời thiếu gì, nhưng không có cha thời lấy đâu có ra mình khó hiểu quá. Thưa Thầy. Thầy có thể giải thích cho học trò biết được không.
Như vậy câu sấm: Ta, Hồ, Vô Phụ, Vô Quân đã giải rõ.
Với câu: Đào Viên, Tản Lạc, Ngô, Dân, Thủ Thành.
Đào Viên có nghĩa là nơi hội tụ quần hùng. Tản Lạc có nghĩa là phân ly chia ra làm hai thế lực kẻ theo Bắc theo Hồ người theo Nam theo Ngô.
Hồ thế lực ở Bắc ra sức tấn công;
Ngô thế lực ở Nam tạo ra Hào Lũy ấp chiến lược thủ thành.
Có nghĩa là đàng ngoài Nhà Hồ lấn áp tấn công. Đàng trong Nhà Ngô ra sức thủ thành xây dựng bờ rào, hào lũy chiến lược.
Như vậy từ câu 470 Ma Vương Sát Đại Quỷ đến câu 477 Đào Viên, Tản Lạc, Ngô, Dân, Thủ Thành đã giải rõ.
Kể Từ, Lạc Long Quân, Dựng Nước
Có sự nhầm lẫn ở đây, phải nói là:
Kể Từ Kinh Dương Vương, Dựng Nước.
Sang Hùng Vương, Được 18 đời
Có sự nhầm lẫn ở đây, phải nói là;
Sang Hùng Vương, Được 41 đời
Khi niên đại Hùng Vương kết thúc
Hậu thế con cháu Hùng Vương gìn giữ Tổ Quốc Non Sông
Tiên Hoàng, Ngày Trước, Mở Ngôi
Cờ Lau, Lập Trận, Thay Trời Trị Dân
Mão, Được 12 Dư Xuân
Lê Hoàng, Kế Vị, Xa Gần, Âu Ca.
Thánh Vương Chúa Thánh của 72 vị Minh Quân đó chính là Văn Hiến Quốc Bảo. Cụ Trạng đọc lên hai câu sấm:
Đời Nầy, Thánh Đế, Vi Vương.
Thu Cả, Đạo Đức, Văn Chương Trong Mình
Nội thân Văn Hiến Quốc Bảo có cả Đạo Đức lẫn văn chương.
Gốc, Sinh Hiền, Điều Đỉnh, Hộ Mai.
Gốc: Là nói đến Cội Nguồn, Sinh Hiền: Có nghĩa từ Cội Nguồn sinh ra không biết bao nhiêu là Hiền Tài. Điều Đỉnh: Có nghĩa là điều khiển vận mệnh đất nước. Hộ Mai: Có nghĩa nói đến chủ nghĩa mùa Xuân. Mùa Xuân là mùa đứng đầu trong năm, cũng là mùa đẹp nhất trong năm. Mùa hội tụ đoàn kết dân tộc. Chủ nghĩa mùa xuân ra đời, thời có Chúa Xuân Hoa Mộc Đức xuất hiện. Hoa Mộc Đức chính là Hoa Mai. Đi vào Quốc Hoa gắn liền với Văn Hiến Quốc Bảo.
Thiên Sinh, Hữu Nhất Anh Hùng.
Hữu Sinh, Nhất Đại Anh Hùng.
Là nghĩa làm sao? Cụ Trạng trả lời, theo Thiên Cơ cho biết ở vào giai đoạn hội tụ thời Thánh Đức vào năm 2016 sang 2017 bắt đầu về tương lai đất nước Việt Nam đi vào giai đoạn mới. Việt Nam sẽ có biến động đổi thay lớn. Thế giới cũng vậy. Cũng từ đây xuất hiện nhiều anh hùng hào kiệt. Trong ba Thế Lực. Lưu Vong, Chu Du, Tam Vô Trung Can Hiếu Nghĩa dám đứng lên nói thẳng sự thật. Góp phần làm thay đổi vận mệnh đất nước Việt Nam.
Có Thầy: Ám chỉ cho người thành danh.
Nhân: Ý nói nhân là người, danh người là Thập: Có nghĩa là Thập Toàn. Đó là hiển, còn Ẩn: Người nầy mang trong mình có Tượng Gỗ (Mộc) Thiên Ấn Vũ Trụ. Ý nói người nầy học rộng Tài, Đức vẹn Toàn. Mang trong người Thiên Ấn Thập Toàn Vũ Trụ.
Người Trong nước Dương Nội bên tả
Người Việt nước ngoài bên Hữu
Đều ủng hộ mến mộ ngài.
Cây, Cỏ, Thành Binh. Ý nói nhiều vô số kể.
Có Thầy, Nhân Thập, Đi Về
Tả, Hữu, Phù Trì, Cây, Cỏ, Là Quân
Dốc Hết Sức, Sửa Sang Vương Nghiệp
Giúp Vạn Dân, Cho Đẹp Lòng Trời
Ra Tay, Điều Đỉnh, Hộ Mai
Bây Giờ, Mới Biết, Là Tài An Dân
Nọ Là, Phải Nhọc Kéo Quân
Thấy Nhân, Ai Cũng Mến Nhân Tìm Về.
* * *
Hết phần 8 mời các Bạn xem tiếp phần 9 về tài tiên tri Cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Không ai là không kính phục cụ.
--------------------------------------------------
HUYỀN CƠ SẤM GIẢI
TAM THẾ PHÂN TRANH
PHẦN 9
(Tiếp theo)
Bảo Giang, Thiên Tử Xuất.
Bất Chiến, Tự Nhiên Thành.
Lê Dân, Bảo Bảo Noãn.
Tứ Hải, Lạc, Âu Ca.
Là nghĩa làm sao? Cụ Trạng giải thích rằng:
Bốn Câu nầy không ám chỉ về con người, mà ám chỉ về Quốc Bảo. Quốc Bảo sẽ tỏa sáng khắp Giang Môn. Nhất là tại Hoàng Giang Bảo Giang. Nam. Bảo Hà, Hồng Hà. Bắc. Hàn Giang. Trung. Không cần đánh Thiên Hạ cũng chuyển theo. Nước Đại Việt đi vào Cơ Thánh Đức. Tiến lần đến cảnh Thái Bình An Lạc. Dân chúng sung sướng. Khắp bốn phương Âu Ca. Trong nước ngoài nước reo hò ca ngợi.
Phùng Khắc Khoan lại hỏi. Bạch Thầy. Với câu:
456 - Thiên Tử, Thần Thức Thụy.
457 - Thụy Trình, Ngũ Sắc Quang.
459 - Hoàng Cái, Xuất Quí Phương.
460 - Nhân Nghĩa Thùy, Vô Địch.
461 - Đạo Đức Thực Dữ Đương.
462 - Tộ Truyền Nhị Thập Ngũ.
463 - Vận Khải Ngũ Viên Tường.
Cụ Trạng giải thích:
Toàn câu: Thụy, Trình, Ngũ Sắc Quang. Ý nói nhìn nhận ra nhau, là nhờ vào giải trình Văn Hiến Quốc Bảo, làm sáng tỏ soi sáng chỉ đường mới nhận ra năm màu da anh em cùng chung một Cội một Nguồn. Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa cùng chung Ý Thức hệ một gốc. Tất cả nhân loại cùng chung Cha Trời Mẹ Trời. Dân tộc Việt Nam chung nhau Quốc Tổ. Nói chung Văn Hiến Quốc Bảo soi sáng thấy rõ tất cả. Như vậy câu sấm 457 Thụy, Trình, Ngũ Sắc Quang đã được giải rõ.
Thùy: Là ở ranh giới tối cao. Vô Địch: Ý nói Văn Hiến Quốc Bảo không ai địch nổi. Vô Địch Thiên Hạ.
Ý nghĩa toàn câu: Nhân, Nghĩa, Thùy, Vô Địch là như thế. Câu sấm 460 đã được giải rõ.
Câu 461: Đạo, Đức, Thực Dữ Đương.
Đạo: Có nghĩa là con đường. Đức: Có nghĩa là bao hàm sự rộng lớn, gắn liền với chữ Độ. Thực: Có nghĩa là Hiện Thực không xa rời thực tế. Dữ: Có nghĩa ai nhìn thấy hay đọc qua Văn Hiến Quốc Bảo đều khiếp sợ. Đương: Có nghĩa là đối đầu, Đương Đầu, Cáng đáng mọi vấn đề, kim chỉ Nam cho mọi công việc. Không ai có thể làm nổi việc nầy ngoài Văn Hiến Quốc Bảo. Như vậy câu sấm 461 Đạo Đức, Thực, Dữ, Đương đã được giải rõ.
Câu 462: Tộ Truyền, Nhị Thập Ngũ.
Tộ Truyền: Ý nói ban Truyền. Nhị Thập Ngũ: Có nghĩa trong Quốc Bảo Giới Đức. Có 25 Đại Giới làm thầy cho nhân loại, chỉ đường cho nhân loại thoát khỏi bể khổ Ta Bà.
Cũng như đối nhân xử thế, không đi ngược lại Đạo Đức làm người. Đi ngược lại Đạo Đức Xã Hội. Đạo Đức được xem trọng đưa lên hàng đầu. Truyền ra khắp thế giới năm châu. Như vậy câu sấm 462 Tộ Truyền, Thập Nhị Ngũ, đã được giải rõ.
Câu 463: Vận Khải Ngũ Viên Tường.
Vận: Có nghĩa là chuyển, thời Vận. Khí Số đã chuyển thành tốt đẹp. Khải: Có nghĩa ca, hát, mừng vui. Viên: Có nghĩa là tròn đầy. Tường: Có nghĩa là Cát Tường viên mãn hạnh phúc sung sướng. Tròn câu: Vận, Khải, Ngũ, Viên, Tường: Ý nói thời vận nước nhà khí số vô cùng tốt đẹp, ca hát mừng vui. Cát Tường hạnh phúc.
Như vậy từ câu 456 đến câu 463 đã được giải rõ.
Câu: Cửu Cửu, Càn, Khôn, Dĩ Định thời chúng con hiểu rồi. Còn những câu;
411 - Thanh Minh, Thời Tiết Hoa Tàn.
412 - Trực Đáo, Dương Đầu, Mã Vĩ.
413 - Hồ Binh, Bát Vạn, Nhập Trường An.
Là nghĩa làm sao? Xin thầy giải cho học trò hiểu. Cụ Trạng giải thích.
Tròn câu 411: Ý nói giữa chừng xuân, hơi lạnh mùa đông chấm dứt không còn, những hoa nở theo mùa đông cũng héo tàn rụng hết. Như vậy câu 411 Thanh Minh, Thời Tiết, Hoa Tàn, đã được giải rõ.
Câu 412: Trực Đáo, Dương Đầu, Mã Vĩ.
Trực Đáo: Có nghĩa từ đâu sanh ra thời trở về nơi đó. Kể từ Dương Đầu, Mã Vĩ: Có nghĩa trong 10 năm biến động theo Cơ Nhị Ngũ Dư Bình vào năm Giáp Ngọ 2014 mã vĩ. 2015. Như vậy câu sấm 412 Trực Đáo, Dương Đầu, Mã Vĩ đã được giải rõ.
Tiếp theo câu 413: Hồ Binh, Bát Vạn, Nhập Trường An.
Hồ Binh: Ám chỉ Quân Binh mang tên Cụ Hồ. Bát Vạn: Ý nói 80 nghìn Quân Binh. Nhập Trường An: Có nghĩa tan biến vào quá khứ. Quân Đội không còn mang tên Bác Hồ nữa. Mà là đổi mới mang tên khác. Chẳng hạn như Quân Đội Nhân Dân, Quân Đội Cộng Hòa, không còn Quân Đội Bác Hồ nữa. Sau nầy trở thành Đảng Cộng Hòa năm 2018 - 2019, Nhưng đó chỉ là Sấm còn đúng hay không thời ai mà biết được. Ở đây chỉ giải sấm mà thôi. Như vậy câu sấm 413 Hồ Binh, Bát Vạn, Nhập Trường An, đã được giải rõ.
Như vậy từ câu 410 đến câu 413 đã được giải rõ.
Cửu Cửu, Kiền Khôn, Dĩ Định
Thanh Minh, Thời, Tiết, Hoa Tàn
Trực Đáo, Dương Đầu, Mã Vĩ
Hồ Binh, Bát Vạn, Nhập Trường An
* * *
Hết phần 9 mời các Bạn xem tiếp phần 10 với tài tiên tri Cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm, tiên đoán về vận mệnh tương lai của đất nước Việt Nam.
--------------------------------------------------
HUYỀN CƠ SẤM GIẢI
TAM THẾ PHÂN TRANH
PHẦN 10
(Tiếp theo)
Đoài Phương, Phước Địa, Giáng Linh.
Đoài Phương: Có nghĩa là Cung Phương Đoài tiên thiên bát quái nằm theo vị trí Đông Nam. Đông Nam Á có mười một nước, nhưng không nước nào có chữ Nam. Chỉ riêng Việt Nam mới có chữ Nam. Lại là địa cuộc vô cùng quan trọng hình chữ S Địa Long vũ trụ. Một bên là biển cả Âm một bên là đất liền liên thông qua nhiều nước Dương. Âm - Dương tương hợp. Linh Địa hóa sinh. Tạo ra những kỳ tích lạ đời, không ai có thể ngờ trước được.
Phước Địa: Có nghĩa là Địa Long Thánh Địa Việt Nam trên thế giới không có Địa Cuộc nào bằng. Địa cuộc vô cùng quan trọng cho cuộc giao thương thế giới. Địa cuộc mang nhiều thứ phù sa bồi đắp. Bồi đắp Văn Hóa, Chính Trị, Đạo Đức từ khắp năm châu cả tốt lẫn xấu, kể cả Bùn Đất tạo lên tươi tốt cho hoa màu. Một địa cuộc như vậy không gọi Phước Địa là gì?
Giáng Linh: Có nghĩa rất nhiều Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa giáng trần xuống Địa Linh Thánh Địa Việt Nam. Cũng như 72 vị Minh Quân tái kiếp làm người trở lại, trong thời Thượng Ngươn Thánh Đức. Trong đó có Chí Tôn Thiên Đế. Hay còn gọi là Thiên Tử Giáng Trần. Chí Tôn Anh Linh Quốc Tổ Vua Hùng. Như vậy câu sấm 478 Đoài Phương, Phước Địa, Giáng Linh đã giải rõ.
Cửu, Trùng, Thụy Ứng, Long Thành, Ngũ Vân.
Cửu: Có nghĩa là 9.
Trùng: Có nghĩa là trùng lặp giống nhau.
Thụy: Có nghĩa là lời châu ngọc.
Ứng: Có nghĩa là xuất hiện ứng ra, sanh ra.
Như vậy Cửu Trùng, Thụy Ứng là nói đến sự ra đời lời dạy tối cao những lời Châu Ngọc Cửu Huyền Cha Trời lần thứ hai. Mà trước đây Quốc Tổ đã truyền dạy khai lập lên nước Văn Lang cũng như nền Quốc Đạo Văn Lang. Được tái hiện trở lại. Trở thành Quốc Bảo quý hiếm nhất thời nay.
Long: Có nghĩa là Rồng.
Thành: Có nghĩa là Viên Mãn.
Như Vậy Long Thành là nói đến dòng giống Lạc Long trổ hoa kết quả viên mãn.
Ngũ: Có nghĩa là 5.
Vân: Có nghĩa là Mây, địa cuộc Năm Châu hình dáng như 5 đám mây. Đều quy tụ về Thánh Địa Việt Nam, tùng phục lời Châu Ngọc trong Văn Hiến Quốc Bảo quý hiếm nhất nhân loại. Như vậy Câu Sấm 479 Cửu, Trùng, Thụy, Ứng, Long Thành, Ngũ Vân đã được giải rõ.
Phá, Điền, Thiên Tử, Giáng Trần.
Phá: Có nghĩa là Khai, khai mở theo chiều thuận sanh. Khai mở theo chiều nghịch là, triệt phá, tiêu diệt. Ý nói vừa khai mở Thánh Đức, vừa tiêu diệt Gian Ác.
Điền: Có nghĩa là điền thổ vườn, ruộng (Vật Chất).
Điền: Có nghĩa là Tâm Địa, Tâm Điền. Đan Điền. Danh Điền. (Tinh Thần).
Chữ Điền đã khai phá thời lộ rõ Chữ Vương.
Như vậy Phá Điền thời nay, hay thời xưa đều lộ chữ Vương cả. Phá, Điền ở thời khai mở Thánh Đức vô cùng quan trọng. Khai Mở Tâm Điền. Đan Điền, Danh Điền. Đi vào thời đại mới. Làm sáng tỏ Cội Nguồn Nhân Loại con người. Khai mở danh điền những nơi Huyệt Linh quan trọng của đất nước Việt Nam.
Thiên Tử: Chỉ cho Quốc Tổ con trời, cũng chính là Văn Hiến Quốc Bảo. Văn Hiến Quốc Bảo Thiên Ý của Trời.
Giáng Trần: Có nghĩa là đã xuất hiện chốn nhân gian. Qua hình thể Quốc Bảo, Pháp Bảo cũng thế.
Như vậy câu sấm 480: Phá, Điền, Thiên Tử, Giáng Trần đã giải rõ.
Dũng Sĩ, Nhược, Hải, Mưu, Như Lâm.
Dũng Sĩ: Có nghĩa là nói đến anh hùng nhân tài.
Nhược: Nhược theo cơ sấm không phải là nhu nhược. Mà là nhẫn nhục khôn khéo mềm dẻo, đối Nội đối Ngoại. Đã là Dũng Sĩ thời không thể yếu hèn nhu nhược. Mà là khôn khéo mềm dẻo. Đối Nội đối Ngoại. Ý nói một dân tộc có hơn bốn nghìn năm Văn Hiến. Tưởng như là nhu nhược yếu hèn. Nhưng không ngờ tiềm ẩn sức mạnh nội lực vô cùng. Khi quật khởi thời dù cho to lớn đến đâu cũng bị đánh bại quật ngã.
Hải: Có nghĩa là biển rộng lớn mênh mông.
Mưu: Có nghĩa là tài trí vô cùng.
Hải Mưu ý nói sự tài trí của dân tộc Rồng Tiên như biển cả rộng lớn vô biên.
Thần: Là người Tài. Nhân Tài. Hiền Sĩ.
Như: Là không thay đổi trước sau như một.
Lâm: Là rừng.
Thần, Như, Lâm ý nói nhân tài con cháu Tiên Rồng trên đất nước Việt Nam nhiều như cây, lá trong rừng. Không kể xiết. Từ xưa đến nay vẫn thế.
Như vậy câu sấm 481 - Dũng Sĩ, Nhược, Hải, Mưu, Thần, Như Lâm, đã giải rõ.
Trần Công, Nãi Thị, Phúc Tâm.
Trần Công: Có nghĩa người họ Trần có địa vị lớn. Theo Huyền Cơ sau thời Hùng Vương đến thời hậu con cháu nước Nam loạn lạc, chia làm 12 sứ quân không ai tùng phục ai, Trong 12 sứ quân. Sứ Quân Trần Lãm hùng mạnh. Trần Lãm (là Kỳ Bố Hải Khẩu) Ông không những là nhà tiên tri giỏi, nhờ thế mà Lãnh Đạo tài tình. Trấn Quân ở vùng cửa biển. Ông thiên về bên ngoại hơn bên nội. Cha Ông bên nội vốn người gốc Hán. Nhưng Ông lại nghiêng về bên ngoại Mẹ người Nam Việt. Cha Trần Đức, Mẹ Lâm Thị. Dân chúng thường gọi Trần Lãm là Trần Minh Công. Được coi như là Sứ Quân anh minh. Một hôm ông gặp được Đinh Bộ Lĩnh. Với tài xem tướng số. Lý Số. Dịch Học Chu Dịch, Ông nhận ra Đinh Bộ Lĩnh là người có chân mệnh làm Đế Vương. Nên nhận Đinh Bộ Lĩnh làm con nuôi. Và gả cho con gái, Nhờ những lời tiên tri chỉ điểm của Trần Minh Công. Nên Đinh Bộ Lĩnh gồm thâu hết 12 đạo sứ quân về một mối, lập lên nước Đại Cồ Việt lấy niên hiệu là Đinh Tiên Hoàng.
Trần Minh Công chết đầu thai tái sanh ra dòng họ Nguyễn. Thuở nhỏ Nguyễn Văn Đạt, sau trở thành Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nhờ theo thầy cao đức cả truyền cho Dịch Học, Chu Dịch. Thái Ất Thần Kinh. Học đâu nhớ đó học một biết mười. Vì tiền kiếp trước của Ông là Trần Minh Công Trần Lãm tinh thông dịch học chu dịch rồi. Ông nhờ Mẹ truyền cho tinh thông Lý Số, Tướng Số. Trở thành nhân tài kiệt xuất trong thời Nhà Mạc đỗ trạng làm quan ở vào giai đoạn thế kỷ 16. Trần Minh Công tái kiếp đầu thai trở lại vào dòng họ Nguyễn. Vì biết Đinh Tiên Hoàng sau khi qua đời đầu thai tái kiếp trở thành Ngưu Tinh thiên tử xuống trần trở thành Vua Chiếu. Ông sẽ ra phò. Nhưng Ngưu Tinh khí số chưa được làm Vua Nam Chiếu. Nên đã lộ thiên cơ người Tàu biết được. Luyện gươm linh lừa phỉnh mẹ Ngưu Tinh cắm xuống linh huyệt chơn mạng Ngưu Tinh. Ngưu Tinh lúc ấy là vị tướng tài giỏi đang cầm quân chống giặc phương Bắc. Đang khỏe mạnh phi thường bỗng lên cơn sốt nặng mà qua đời. Nên không trở thành Vua Nam Chiếu được. Nguyễn Bỉnh Khiêm ra đời hụt hẫng vì Ngưu Tinh không còn trên đời để mà phò. Tuy học cao tài rộng nhưng Ông không có nhân duyên phò nhà Mạc nên thường thi đâu trượt đó. Vì quá tài giỏi cuối cùng Ông cũng thi đỗ làm quan. Nhưng vì không có nhân duyên phò triều Mạc, nên Ông trở thành Trạng Ngông quậy phá lung tung ngạo mạn xem thường tất cả. Vì cho rằng đám quan thời nhà Mạc chỉ là một lũ vô dụng bất tài. Và Ông biết rõ nếu không từ quan sớm thời cũng bị lũ triều thần xu nịnh nầy làm hại. Nên Ông từ quan về quê Ông dựng Am Bạch Vân tu hành Ngộ Đạo trở thành nhà tiên tri lỗi lạc hơn nghìn năm không ai sánh kịp để lại những lời tri về hậu thế. Dẫn đường cho những ai biết khám phá những lời tiên Nguyễn Bỉnh Khiêm để lại. Ông cũng đón biết Ngưu Tinh sẽ tái kiếp đầu thai xuất hiện trong đời Thánh Đức. Và Ông cũng đầu thai tái kiếp trở lại theo Ngưu Tinh. Nên để lại lời tiên tri, Bao giờ Tiên Lãng xẻ đôi, sông Hàn nối lại thời tôi lại về.
Nguyễn Bỉnh Khiêm qua đời tái kiếp đầu thai trở lại Họ Trần. Vì có tính hướng ngoại của nhiều tiền kiếp. Nên Ông Sanh ra ở Việt Nam, Lưu Vong Hải Ngoại trở thành nhà tiên tri vũ trụ Trần Dần. Nổi tiếng ba đời Tổng Thống George W. Bush. Cũng như Tổng Thống Barack - Obama. Ông chỉ là một trong 72 Thánh Hiền mà thôi. Ở vào thời đại Thánh Đức có tới 72 vị minh quân kỳ lạ như vậy. Vì thời Thánh Đức chính là thời Đa Nguyên Nhân Quyền, Dân Chủ. Con người không phải là tối cao. Mà Tối Cao chính là Nền Văn Hiến. Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp, mới là tối cao. 72 vị Minh Quân chỉ ra phò Văn Hiến Quốc Bảo giữ vững cán cân Công Lý, Công Bằng Bình Đẳng. Thời đại Đa Nguyên Nhân Quyền Dân Chủ, là thời đại sinh ra nhiều Vua trong một nước. Như Vua Chính Trị. Vua Bóng Đá, Vua Kinh Tế, Vua Kinh Doanh. Thậm chí. Bài Bạc còn có Vua. Nói chung ngành nào cũng có Vua. Như vậy Vua ở đây không phải là Chí Tôn Thiên Tử giáng trần. Mà là Vua của các đầu ngành ra phò Văn Hiến Quốc Bảo. Hiến Pháp, Luật Pháp. Đạo Pháp Nền Văn Hiến Minh Chính không già, không trẻ. Công bằng văn minh trường tồn dân tộc.
Nãi: Có nghĩa là Tuy Nhiều Nhánh Phái nhưng cùng chung một Cội dính chùm mà ra. Cùng nhau gánh vác, cùng chung chí hướng. Mười Trái như một trong một nải chuối y chang không khác mấy.
Thị: Có nghĩa là Mắt. Trông, Nhìn, Nhận thấy xa.
Cũng như ám chỉ nhiều sự kiện to lớn ra đời. Chỉ Thị đi vào cuộc sống. Thị ám chỉ sự Phồn Thịnh, Tấp Nập đỉnh cao.
Như vậy Nãi, Thị là ám chỉ về sau nhân loại có tầm nhìn rất cao. Và nhiều sự kiện to lớn ra đời. Chung nhau gánh vác, chung cùng chí hướng. Nhất là tiến đến đỉnh cao Vật Chất đi vào cảnh giàu sang.
Phúc: Có nghĩa là những điềm lành.
Tâm: Có nghĩa là Ngay, là Chính, Là Trung, Là Dung, Là Hòa.
Phúc, Tâm là ám chỉ Việt Nam là trung Tâm Thánh Địa, Địa Cầu sẽ có những điềm phúc lành xuất hiện, dân tộc Việt Nam trở nên Minh Chính, Hiếu Trung, Độ Lượng, Dung Hòa. Đạo Đức đứng đầu thế giới.
Như vậy câu sấm 482 Trần Công, Nãi, Thị, Phúc Tâm đã được giải rõ.
Giang Hồ, Tử Sĩ, Đào, Tìm, Xuất Du.
Giang Hồ: Có nghĩa là nói đến những người phiêu bạt khắp nơi. Không nói cho riêng một cá nhân nào. Nhiều thành phần và đa dạng những người phiêu bạt khắp nơi.
Tử Sĩ: Có nghĩa là nói đến những người có Tài có Đức không ám chỉ riêng cho bất cứ một ai.
Đào: Có nghĩa là Trốn. Là xuất du. Không ám chỉ cho một cá nhân nào.
Tìm: Có nghĩa là bôn ba, lặn lội, không ám chỉ riêng ai.
Xuất Du: Có nghĩa là rời khỏi quê hương, tìm cho mình một hướng đi tương lai.
Như vậy câu sấm 483 là nói. Nhân tài đất Việt vì biến động chiến tranh, vì mưu cầu hạnh phúc. Vì tương lai đất nước. Mà phải rời khỏi quê hương. Tìm tòi học hỏi. Cũng như trốn tránh thể chế tàn bạo. Có người lập nghiệp nơi đất khách quê người. Trở thành nhân tài nổi danh thế giới.
Tướng Thần, Hệ Xuất, Y, Chu.
Tướng Thần: Ý nói Tướng Nhà Trời.
Hệ Xuất: Ý nói xuất hiện.
Y: Có nghĩa là Y chang. Giống Hệt. Y Nguyên thời dựng nước khi xưa. Ý nói Sự khai cơ Thánh Đức trong thời đại ngày nay. Không khác gì thời Quốc Tổ Vua Hùng dựng nước Bất Chiến Tự Nhiên Thành không có chiến tranh đổ máu giữa người với người. Chỉ đẩy lùi cái ác phục hồi cái thiện mà thôi.
Chu: Có nghĩa là chúm lại, bung ra Chu Chuyển, Chu Tất, Chu Đáo, Chu Toàn cho một sự kiện lớn xuất hiện.
Như vậy Câu 484 ý nói Tướng Trời, Xuất Hiện, ra phò Minh Chúa Thiên Tử Giáng Trần. Văn Hiến Quốc Bảo. Tất cả đều vây xung quanh Văn Hiến Quốc Bảo. Tôn thờ Quốc Tổ rồi Bung Ra, Chu Đáo, Chu Toàn, cho một sự kiện lớn xuất hiện.
Như vậy câu 484 Tướng Thần, Hệ Xuất, Y, Chu đã được giải rõ.
Thứ Kỵ, Phục Kiến, Đường, Ngu, Thi Hành.
Thứ: Có nghĩa là thứ bậc, Tổ Tiên, Cha Trời. Mẹ Trời, Địa Mẫu, ba ngôi tối cao vũ trụ. Quốc Tổ là ngôi đứng đầu dân tộc, v.v... và...
Kỵ: Có nghĩa, là những lời nói mang tính cách cấm kỵ không được vô lễ, hỗn xược vi phạm. Cũng như sự khắc tinh của nó. Ví dụ: Bóng đêm kỵ ánh sáng. Hàng con cháu cấm kỵ ngang hàng với Tổ Tiên. Cũng như Lửa kỵ nước.
Thứ Kỵ hiệp chung hai chữ Thứ Kỵ lại, thành nghĩa như sau. Là lời dạy Châu Báu của Tổ Tiên, Cha Trời, Mẹ Trời, Trở thành Quốc Bảo Cấm Kỵ hỗn xược bài bác. Khắc Kỵ Gian Ác, làm cho cái ác tiêu tan, cái bậy không còn. Âm u tan biến.
Phục: Có nghĩa là tùng phục, ra phò.
Kiến: Có nghĩa là Thấy Biết, cũng như diện kiến, ra mặt.
Phục Kiến Ý nói sự tùng phục Quốc Bảo, Quốc Tổ. Thấy rõ hiểu rõ Nền Văn Hiến tỏa sáng uy linh không ai là không tùng phục, ra phò.
Đường, Ngu: Ý nói sự hưng thịnh thời Thánh Đức còn hơn thời Vua Đường, Vua Nghiêu, Vua Thuấn.
Thi Hành: Ý nói lập công trong thời Thánh Đức, lập công truyền bá Văn Hóa Cội Nguồn, Thi Hành Thiên Ý Cha Trời, lời dạy Quốc Tổ ra phò. Lập công lớn về trời.
Như vậy câu 485: Thứ, Kỵ, Phục, Kiến, Đường, Ngu, Thi Hành đã giải rõ.
Hiệu, Xưng, Thiên Hạ, Thái Bình.
Hiệu: Có nghĩa là danh hiệu.
Xưng: Có nghĩa là nói rõ danh tánh. Chí Tôn Thiên Tử của đời Thánh Đức là ai? Con người? Hay nền Văn Hiến Quốc Bảo?
Trả lời: Đời Thánh Đức là thời Đa Nguyên, Nhân Quyền, Dân Chủ. Không phải là thời Vua, Chúa độc quyền độc tài độc trị. Vì thế Chí Tôn Thiên Tử của thời Đa Nguyên Dân Chủ 100% không phải là con người. Mà là nền Văn Hiến Quốc Bảo. Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp, Công Bằng, Bình Đẳng. Không già không trẻ ngự trị muôn năm trường tồn dân tộc.
Thiên Hạ: Có nghĩa là toàn nhân loại, cũng như công chúng.
Thái Bình: Có nghĩa là tất cả thiên hạ, công chúng. Đều sống chung trong một ngôi nhà Hiến Pháp, Luật Pháp, Đạo Pháp Nhân Quyền, Dân Chủ, Công Bằng, Bình Đẳng ai cũng như ai. Thái Bình an lạc. Tự Do mưu cầu hạnh phúc.
Như vậy câu 486: Hiệu, Xưng, Thiên Hạ, Thái Bình đã giải rõ.
Đông, Tây, Vô Sự, Nam, Thành Quốc Gia.
Đông - Tây: Ý nói Phương Đông, lẫn Phương Tây.
Vô Sự: Có Nghĩa Nền Văn Hiến Quốc Bảo Văn Hóa Cội Nguồn, Chủ Nghĩa Đại Đồng xuất hiện. Lan truyền đến đâu thời bình yên Vô Sự đến đó. Lần lần chấm dứt chiến tranh.
Nam: Ý nói nước Việt Nam. Dân Tộc Việt Nam.
Thành Quốc Gia: Ý nói Việt Nam đã đi vào thống nhất. Đi vào độc lập, không còn nô lệ, dù cho đó là nô lệ văn hóa ngoại lai, nô lệ kiến thức. Nô Lệ Thần Quyền. Tất cả đều biến mất không còn. Bách Việt Văn Lang hội tụ trở về. Trở thành một Quốc Gia hùng mạnh, kỳ lạ nhất thế giới.
Như vậy câu 487 Đông, Tây, Vô Sự, Nam, Thành Quốc Gia đã được giải rõ.
* * *
Đoài, Phương, Phúc Địa, Giáng Sinh
Cửu, Trùng, Thụy Ứng, Long Thành, Ngũ Vân
Phá, Điền, Thiên Tử, Giáng Trần
Dũng Sĩ, Nhược Hải, Mưu, Thần, Như Lâm
Trần Công, Nãi, Thị, Phúc Tâm
Giang Hồ, Tử Sĩ, Đào, Tìm, Xuất Du
Tướng Thần, Hệ Xuất, Y, Chu
Thứ Kỵ, Phục, Kiến, Đường, Ngu, Thi Hành
Hiệu, Xưng, Thiên Hạ, Thái Bình
Đông, Tây, Vô Sự, Nam Thành Quốc Gia
Kim chỉ nam đã khai mở, lộ rõ hầu hết nội dung chính của thiên cơ. Chúc các Bạn yên vui hạnh phúc.
Có lẽ nhiều Bạn cũng rất buồn vì còn nhiều câu sấm chưa được giải mã. Nhưng không sao hiểu được bấy nhiêu Cơ Sấm cũng đã quá đủ cho các Bạn.
--------------------------------------------------
HUYỀN CƠ SẤM GIẢI
TRẠNG TRÌNH NGUYỄN BỈNH KHIÊM
ĐẾN ĐÂY LÀ HẾT
CHỦ BÚT: NHÂN THẬP ĐẠI CƯ SĨ,
GIÁO SƯ, TIẾN SĨ CAO ĐỨC TOÀN